Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

16



Một cách tổng quát có thể hiểu RRTD trong hoạt động tín dụng của

NHTM là sự khơng chắc chắn trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh

toán của người được cấp tín dụng cho ngân hàng theo các điều khoản đã thỏa

thuận.

RRTD là không thể tránh khỏi đối với bất kỳ NHTM nào có hoạt động

tín dụng. Hoạt động của NHTM liên quan đến việc chấp nhận rủi ro để thu lợi

nhuận. Vì vậy, có thể nói hoạt động tín dụng của NHTM là hoạt động dựa

trên rủi ro. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng cần xác định mức độ rủi ro nhất định

mà ngân hàng có thể chịu đựng được trên cơ sở mục tiêu, kế hoạch kinh

doanh đã được xác định cụ thể trong từng giai đoạn nhất định.

1.1.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng

Nguyên nhân gây ra RRTD tương đối đa dạng và phức tạp, bao gồm 3

nhóm ngun nhân: Ngun nhân từ mơi trường bên ngoài, nguyên nhân từ

khách hàng và nguyên nhân từ ngân hàng.

1.1.2.1 Ngun nhân từ mơi trường bên ngồi

Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn nằm trong một môi trường

nhất định. Khi những biến số trong môi trường thay đổi có thể là ngun nhân

gây ra RRTD cho ngân hàng.

Mơi trường bên ngồi bao gồm: Mơi trường kinh tế, Mơi trường chính

trị, xã hội, pháp luật, mơi trường tự nhiên...Khi mơi trường bên ngồi có sự

biến động, ví dụ; sự biến động của nền kinh tế vĩ mô (biến động tỷ giá, lạm

phát, lãi suất…), sự thay đổi môi trường pháp luật (thay đổi cơ chế, chính

sách, qui định pháp luật của nhà nước), sự thay đổi quan điểm của hệ thống

chính trị hoặc sự thay đổi của mơi trường tự nhiên…đều có thể tác động trực

tiếp hoặc gián tiếp lên hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong

nền kinh tế, đến hoạt động tích lũy và tiêu dùng của dân cư. Trong điều kiện

môi trường kinh tế, chính trị, pháp luật, xã hội, tự nhiên ổn định sẽ tạo điều



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



17



kiện thuận lợi cho các Doanh nghiệp, cá nhân mở rộng và nâng cao hiệu quả

sản xuất kinh doanh, từ đó tạo điều kiện các doanh nghiệp tăng lợi nhuận, tích

lũy, đầu tư và khả năng thanh tốn, các cá nhân có cơ hội tăng thu nhập và mở

rộng tiêu dùng. Ngược lại, môi trường bên ngồi có nhiều biến động, bất ổn

sẽ gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, cá nhân,

từ đó giảm khả năng tích lũy, gây khó khăn về tài chính cho các doanh

nghiệp, giảm thu nhập cá nhân. Trong trường hợp các doanh nghiệp, cá nhân

có quan hệ tín dụng với NHTM, khả năng trả nợ sẽ giảm sút, dễ phát sinh

RRTD.

Nguyên nhân gây RRTD từ mơi trường bên ngồi mang tính chất bất

khả kháng, NHTM thường khó hoặc khơng thể kiểm sốt được mà chỉ có thể

dự báo và thực hiện dự phòng sự biến động.

1.1.2.2 Nguyên nhân từ khách hàng

Khách hàng là đối tượng có nghĩa vụ thanh tốn các khoản nợ theo cam

kết. Trong trường hợp năng lực quản lý điều hành nói chung, khả năng quản

lý và sử dụng vốn nói riêng của khách hàng yếu kém sẽ dẫn đến hoạt động

kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ, không tạo ra nguồn thu để trả nợ ngân

hàng, từ đó gây ra RRTD. Hoặc trong một số trường hợp khách hàng có ý

định lừa đảo: sử dụng các thông tin không trung thực khi lập hồ sơ vay vốn,

sử dụng vốn sai mục đích, cố tình chiếm dụng vốn ngân hàng, khơng có thiện

chí trả nợ. Trong những trường hợp này, nếu ngân hàng không thẩm định chặt

chẽ trước, trong và sau khi cho vay, không phát hiện kịp thời mà vẫn cấp tín

dụng cho khách hàng thì hậu quả tất yếu là phát sinh RRTD, không thể thu

hồi nợ gốc và lãi.

1.1.2.3 Ngun nhân từ ngân hàng

RRTD còn có ngun nhân từ phía ngân hàng. Bao gồm:

 Tập trung tín dụng



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



18



Trong hoạt động của ngân hàng do những lý do nhất định nào đó, có

thể ngân hàng quá tập trung tín dụng vào một khách hàng (hoặc một nhóm

khách hàng), tập trung vào một ngành nghề, một lĩnh vực hoặc một khu vực

địa lý…Khi các đối tượng, các lĩnh vực, ngành nghề có mức độ tập trung tín

dụng cao có biến động có thể là nguyên nhân gây ra RRTD cho ngân hàng.

 Qui trình cấp tín dụng chưa phù hợp hoặc hạ thấp điều kiện vay vốn

Qui trình cấp tín dụng chưa phù hợp, các bước trong qui trình chưa

thực sự chặt chẽ sẽ tạo ra các kẽ hở, lỗ hổng để khách hàng có thể lách luật,

thiếu trung thực là nguyên nhân gây ra RRTD. Bên cạnh đó, trong những

trường hợp nhất định ngân hàng hạ thấp các điều kiện vay vốn cũng có thể là

nguyên nhân phát sinh và làm trầm trọng thêm RRTD. Khi qui trình cấp tín

dụng chưa chặt chẽ, các điều kiện vay vốn bị hạ thấp sẽ dẫn đến việc thiếu

thận trọng trong q trình xét duyệt và cấp tín dụng, thiếu chặt chẽ, thiếu thận

trọng, khơng tn thủ qui trình kiểm sốt hoặc kiểm sốt mang tính hình thức,

từ đó gây ra RRTD.

 Trình độ cán bộ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ

Trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ làm cơng tác tín dụng có thể

là ngun nhân trực tiếp gây ra RRTD. Do tính phức tạp trong quá trình thẩm

định, đánh giá các dự án/ phương án vay vốn đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có

trình độ chun mơn, am hiểu về khách hàng, về các hoạt động liên quan đến

việc sử dụng vốn vay. Trong trường hợp cán bộ tín dụng khơng đủ trình độ

chun mơn để đánh giá đúng khách hàng và tính khả thi của phương án vay

vốn, dẫn đến quyết định cấp tín dụng cho khách hàng khơng đủ tin cậy về

việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ hoặc khả năng tài chính của khách hàng

khơng đủ để hồn thành nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng, RRTD tất yếu sẽ phát

sinh. Bên cạnh đó, cán bộ làm cơng tác tín dụng nếu khơng ý thức được trách

nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, khơng tn thủ qui trình, nghiệp vụ nhằm mục



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



19



đích gian lận, trục lợi sẽ là nguyên nhân dẫn đến việc cấp tín dụng cho khách

hàng chưa đáp ứng điều kiện vay vốn, lơ là kiểm sốt q trình sử dụng vốn

của khách hàng, hậu quả tất yếu là ngân hàng không thu hồi đủ nợ gốc và lãi,

RRTD tăng cao.

 Rủi ro tín dụng nhạy cảm với thị trường và thanh khoản

Trong trường hợp RRTD nhạy cảm với thị trường và thanh khoản có

thể gây ra RRTD ở mức độ cao hơn.

Thị trường biến động làm giảm giá trị các tài sản của khách hàng vay,

ảnh hưởng đến uy tín và khả năng trả nợ của khách hàng. Thị trường biến

động cũng gây nên sự giảm giá tài sản thế chấp, các hợp đồng phái sinh. Từ

đó RRTD có nguy cơ tăng cao.

Tương tự, yếu tố thanh khoản cũng tác động đến giá trị, khả năng

chuyển đối các tài sản được nắm giữ bởi ngân hàng cũng như khách hàng vay

vốn. Điều đó sẽ làm phát sinh và trầm trọng hơn RRTD cả từ phía ngân hàng

và khách hàng được cấp tín dụng.

RRTD cũng có thể có nguyên nhân từ các rủi ro khác trong hoạt động

kinh doanh của ngân hàng. Khi phát sinh rủi ro thị trường hoặc rủi ro hoạt

động cũng có thể là nguồn gốc gây ra RRTD.

1.1.3 Tác động tiêu cực của rủi ro tín dụng

1.1.3.1 Ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh ngân hàng

- Tăng chi phí vốn, giảm lợi nhuận ngân hàng. RRTD xảy ra đồng nghĩa với

việc nguy cơ không thu hồi đủ vốn gốc và lãi. Điều này sẽ trực tiếp làm giảm

thu nhập và lợi nhuận của ngân hàng. Trong trường hợp số tiền tổn thất quá

lớn, làm cho ngân hàng thua lỗ, thậm chí phá sản. Bên cạnh đó, khi phát sinh

RRTD sẽ làm phát sinh thêm nhiều khoản chi phí như: chi phí quản lý nợ, chi

phí dự phòng…các chi phí này một lần nữa sẽ ăn mòn vào lợi nhuận, là

nguyên nhân dẫn đến thua lỗ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



20



- Giảm năng lực thanh toán của ngân hàng. Với đặc thù là doanh nghiệp kinh

doanh tiền tệ, vốn kinh doanh chủ yếu là vốn huy động. Các nguồn huy động

này đều có thời hạn và ngân hàng phải trả lãi cho người gửi tiền. Vì vậy, ngân

hàng phải tìm mọi cách để mở rộng cho vay, đầu tư tạo thu nhập bù đắp chi

phí lãi huy động và có lợi nhuận. Đồng thời các khoản cho vay, đầu tư phải

được thu hồi đúng hạn để có nguồn hoàn trả cho người gửi tiền. RRTD làm

cho ngân hàng không thu đủ gốc và lãi đúng hạn, tác động xấu đến kế hoạch

nguồn vốn. Trong trường hợp RRTD tăng nhanh, khơng có khả năng kiểm

sốt ngân hàng sẽ thiếu nguồn chi trả cho người gửi tiền, giảm khả năng thanh

toán.

- Tăng vốn để đảm bảo đủ bù đắp cho tốn thất tín dụng. Theo khuyến nghị

của Ủy ban Basel, để hạn chế rủi ro và tổn thất tín dụng, ngân hàng phải luôn

đủ vốn cho RRTD. RRTD gia tăng sẽ gây áp lực ngân hàng phải tăng vốn. Vì

vốn tối thiểu được đo lường trên cơ sở tài sản có rủi ro, khi rủi ro tăng ngân

hàng phải tăng vốn để đảm bảo hệ số an tồn ln đạt tỷ lệ qui định.

- Hạn chế tăng trưởng tín dụng: Về ngun tắc, một khách hàng khơng hồn

thành nghĩa vụ trả nợ cũ sẽ bị hạn chế các khoản vay mới. Trong nhiều trường

hợp, ngân hàng phải xử lý RRTD thông qua xử lý bằng việc phát mại tài sản

bảo đảm (TSBĐ), khởi kiện tòa án…những biện pháp xử lý này trong chừng

mực nhất định có thể làm tổn hại đến uy tín của ngân hàng cũng như mối

quan hệ tốt đẹp giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn. Những lý do trên cho

thấy, RRTD còn là nguyên nhân làm giảm tăng trưởng tín dụng của ngân

hàng.

- Giảm uy tín của ngân hàng. RRTD tăng, chất lượng tín dụng của ngân hàng

giảm, giảm lợi nhuận hoặc thua lỗ sẽ làm ngân hàng mất tín nhiệm trên thị

trường. Đặc thù là đơn vị kinh doanh dựa vào chữ tín, mất tín nhiệm sẽ là mối

đe dọa phá sản đối với bất kỳ một NHTM nào. Thực tế đã chứng minh rất



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



21



nhiều NHTM phải đóng cửa, phá sản mà ngun nhân sâu xa từ việc khơng

kiểm sốt được RRTD.

1.1.3.2 Tác động tiêu cực đến nền kinh tế

- Làm đình trệ hoạt động của nền kinh tế: RRTD là nguyên nhân làm nghẽn

dòng vốn lưu thơng trong nền kinh tế do vốn “bơm” vào nền kinh tế của hệ

thống ngân hàng bị giảm. Bên cạnh đó các Doanh nghiệp có nợ xấu rất khó

tiếp cận các khoản tín dụng mới. Kết quả là các Doanh nghiệp ngày càng

thiếu vốn, khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ, thậm chí là phá sản.

Những tác động tiêu cực này một lần nữa lại tác động kép đến thu nhập, công

ăn việc làm của người lao động. Hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư, tiêu

dùng cũng vì thế ngày càng đình trệ. Tình trạng kéo dài có thể dẫn đến suy

thối, khủng hoảng kinh tế.

- Gây bất ổn cho thống tài chính- ngân hàng: Hệ thống NHTM có mối liên

kết chặt chẽ do các hoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng thường liên quan

đến nhau. Vì vậy, rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng thường có tính chất dây

chuyền: Một ngân hàng có khó khăn hoặc phá sản sẽ kéo theo hàng loạt các

ngân hàng khác trong hệ thống vào tình trạng tương tự. Khi RRTD tại một

hoặc một số NHTM tăng cao làm cho các ngân hàng đó kinh doanh thua lỗ,

phá sản sẽ là mối đe dọa đến bất ổn, mạnh hơn có thể là sự sụp đổ của cả hệ

thống tài chính- ngân hàng.

- Tác động tiêu cực đến ngân sách nhà nước: RRTD làm cho các Doanh

nghiệp (bao gồm NHTM) hoạt động đình trệ, thua lỗ, thu nhập người lao

động giảm sút. Khi các doanh nghiệp thua lỗ sẽ làm giảm nguồn thu ngân

sách từ thuế Thu nhập doanh nghiệp. Các NHTM có nợ xấu lớn sẽ tăng trích

dự phòng RRTD, làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận, từ đó cũng làm giảm thu

ngân sách từ thuế. Lợi nhuận ngân hàng giảm còn tác động giảm thu nhập

người lao động, kết quả cũng làm giảm nguồn thu thuế. Trong nhiều trường



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



22



hợp, các NHTM không tự thân xử lý được nợ xấu, phải dùng ngân sách Nhà

nước sẽ làm tăng chi ngân sách Nhà nước. Như vậy, nợ xấu vừa tác động

giảm thu, vừa tác động tăng chi Ngân sách Nhà nước.

1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO HIỆP ƯỚC BASEL 2 TẠI

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Khái niệm quản trị RRTD theo quan điểm của Ủy ban Basel

Hiện nay, với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học, các tổ

chức tài chính, ngân hàng đã đưa ra nhiều khái niệm quản trị RRTD. Có thể

thấy một số khái niệm điểm hình:

Theo tài liệu tập huấn quản trị RRTD của Trường Đào tạo Ngân hàng

Thụy Sĩ- Á Châu (năm 2012): “Quản trị RRTD là q trình độc lập kiểm sốt

và giám sát mức độ chấp nhận RRTD để đảm bảo rằng hoạt động đó nằm

trong giới hạn đã định và phù hợp với chính sách, qui trình. Qua đó có thể

kiểm sốt được thất thoát trong mức độ chấp nhận được và tránh những tổn

thất khơng mong đợi”. Trong khi đó, tài liệu hướng dẫn quản trị RRTD của

MAS (Singapore) [57]: “Quản trị RRTD là quá trình nhận diện, đo lường, đánh

giá, giám sát, kiểm soát và báo cáo RRTD trong một khoảng thời gian nhất

định, trên cơ sở đó đảm bảo vốn để chống đỡ RRTD đã xác định”. Trong

Khung quản trị RRTD của Ngân hàng Standard Charter (năm 2012); “Quản

trị RRTD là q trình quản lý RRTD thơng qua thiết lập Khung các chính

sách và thủ tục nhằm kiểm sốt việc đo lường và quản lý RRTD”. Theo tổ

chức Moody’s Analylics (chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn quản trị RRTD tồn

cầu): “Quản trị RRTD là q trình thực hiện các biện pháp giảm tổn thất

bằng cách hiểu một cách đầy đủ về vốn và dự phòng RRTD trong một khoảng

thời gian nhất định”, theo quan điểm này, quản trị RRTD thực chất là quản lý

vốn và dự phòng cho RRTD. Theo quan điểm của Ủy ban Basel [39], “ Quản trị

RRTD là việc thực hiện các biện pháp để tối đa hóa tỷ suất sinh lời điều chỉnh



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



23



theo RRTD bằng cách duy trì số dư tín dụng trong phạm vi các tham số cho

phép”

Như vậy có thể thấy, khái niệm quản trị RRTD có nhiều cách tiếp cận,

các ý kiến, các quan điểm khơng hồn tồn giống nhau, chủ yếu thiên về mơ

tả q trình thực hiện quản trị RRTD. Còn khái niệm quản trị RRTD của Ủy

ban Basel đã làm rõ được mục tiêu cuối cùng của quản trị RRTD là tối đa hóa

lợi nhuận trên cơ sở đảm bảo RRTD luôn trong phạm vi ngân hàng có thể

chấp nhận.

Với các nội dung đã được đề cập trong các khái niệm quản trị RRTD,

để đạt mục tiêu quản trị theo cách tiếp cận của Ủy ban Basel, quản trị RRTD

tại NHTM phải tập trung vào các vấn đề cơ bản: (i) thiết lập được giới hạn

chấp nhận RRTD trên cơ sở mục tiêu chiến lược về RRTD trong từng giai

đoạn nhất định; (ii) thiết lập các chính sách, qui trình, thủ tục, trong đó xác

lập trách nhiệm, quyền hạn cụ thể cho các bộ phận liên quan để đảm bảo

RRTD luôn trong mức độ chấp nhận đã xác định của ngân hàng; (iii) đảm bảo

đủ vốn và dự phòng cho RRTD đã xác định nhằm giảm thiểu tổn thất tín

dụng.

1.2.2 Quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel 2 tại NHTM

1.2.2.1 Vài nét về Ủy ban Basel và Hiệp ước Basel 2

Ủy ban Basel được thành lập năm 1974 tại thành phố Basel- Thụy sĩ với

mục tiêu ban đầu là ngăn chặn sự sụp đổ các NHTM và thị trường tài chính

tại các nước thành viên (G10). Đến nay Ủy ban có 27 thành viên. Mục tiêu

hoạt động của Ủy ban Basel là nâng cao chất lượng giám sát hoạt động ngân

hàng trên toàn cầu. Để đạt được mục tiêu đó, Ủy ban thường xuyên trao đổi

thông tin về giám sát hoạt động ngân hàng của các quốc gia. Từ đó xây dựng

các văn bản hướng dẫn và tiêu chuẩn trong các lĩnh vực mà họ cho là cần

thiết.



Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Mail : luanvanaz@gmail.com

Phone: 0972.162.399



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×