Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



+ Tiền đình (Vestibum vaginae sinus inogenitalis): là giới hạn giữa âm mơn và

âm đạo. Trong tiền đình có màng trinh, trước là âm đạo. Màng trinh gồm các

sợi cơ đàn hồỉ ở giữa và do 2 lớp niêm mạc giáp lại thành một nếp. Tiền đình

có một số tuyến xếp chéo hướng về âm đạo.

b, Bộ phận sinh dục bên trong

*Âm đạo (Vagina)

Là một cái ống tròn, trước âm đạo có cổ tử cung, phía sau là tiền đình, có

màng trinh (Hymen). Cấu tạo của âm đạo chia thành 3 lớp:

- Lớp liên kết ở ngồi.

- Lớp cơ trơn: Có cơ dọc bên ngồi, cơ vòng bên trong, các cơ này liên kết

với các cơ ở cổ tử cung.

- Lớp niêm mạc âm đạo: Có nhiều tế bào thượng bì, gấp nếp dọc hai bên

nhiều hơn ở chính giữa.

Âm đạo của bò Việt Nam dài khoảng 22-25cm (Hồng Kim Giao và Nguyễn

Thanh Dương, 1997), (Trần Tiến Dũng và Cs, 2002), âm đạo là cơ quan giao

cấu kích thích phóng tinh ra, tinh trùng di chuyển vào tử cung nhờ các dịch

nhầy ở cổ tử cung.

Âm đạo còn là cái ống để thai đi ra ngoài khi sinh đẻ và cũng là ống thải các

chất dịch trong tử cung ra.

* Tử cung (Uterus)

Tử cung bò thuộc nhóm tử cung hai sừng (Uterus bicorius), nó có hình sừng

cừu gồm một thân tử cung ngắn, hai sừng tử cung dài và cùng một cổ tử cung.

Bò cái tơ tồn bộ tử cung nằm trong xoang chậu, khi đã đẻ nhiều lần thì tử

cung nằm trong xoang bụng, tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, hợp tử phát

triển được là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc tử

cung cung cấp. Giai đoạn đầu hợp tử sống được một phần nhờ vào nỗn

hồng. Sau này giữa mẹ và thai hình thành hệ thống nhau thai. Niêm mạc tử

cung và dịch tử cung giữ vai trò quan trọng trong sinh sản và vận chuyển tinh

trùng và trứng, tham gia điều hoà chức năng của thể vàng, đảm nhận sự làm

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



14



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



tổ, mang thai và đẻ. Tử cung của bò gồm 3 phần từ ngồi vào trong là: cổ tử

cung, thân tử cung và sừng tử cung.

- Cổ tử cung: Là phần ngoài cùng của tử cung, cổ tử cung bò hình tròn thơng

với âm đạo, dài khoảng 6 - 10 cm, đường kính từ 3 - 6 cm. Cổ tử cung ln

ln đóng, chỉ mở khi nào hưng phấn cao độ hoặc khi sinh đẻ hoặc khi bị bệnh

lý. Niêm mạc cổ tử cung gấp nếp nhiều lần làm cho thành cổ tử cung không

đồng đều tạo thành những thuỳ gọi là thuỳ hoa nở, có từ 3 - 5 lần hoa nở. Thuỳ

ngồi cùng nhơ vào âm đạo khoảng 0,5 - 1,0cm nhìn bên ngồi tựa như hoa cúc

dại. Có sự khác biệt về cổ tử cung giữa bò già và bò trẻ, giữa bò đẻ ít và bò đẻ

nhiều, giữa các giống bò, giữa bò đẻ bình thường và bò đẻ khơng bình thường.

- Thân tử cung: Ở bò thân tử cung rất ngắn, chỉ khoảng từ 2 - 4 cm, thân tử

cung nối giữa cổ tử cung với sừng tử cung.

- Sừng tử cung: Bò cái có 2 sừng tử cung gồm sừng trái và sừng phải, độ dài

của sừng khoảng 20 - 25cm, đường kính phần dưới sừng tử cung 3 - 4cm,

phần ngọn chỉ khoảng 0,5 - 0,8cm. Hai sừng tử cung của bò cái phần gắn với

thân tử cung dính lại với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng, phía trên

của tử cung gọi là rãnh giữa tử cung dài 3 - 5cm, rãnh này dễ dàng nhận thấy

khi khám qua trực tràng để chẩn đốn gia súc có thai và bệnh lý ở tử cung.

*) Buồng trứng (Ovarium)

Buồng trứng của bò gồm một đơi, treo ở cạnh trước dây chằng rộng, gần mút

sừng tử cung và nằm trong xoang chậu, hình dáng buồng trứng rất đa dạng,

nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc ơ van dẹt, khơng có lõm rụng, khi mới

sinh buồng trứng có khối lượng khoảng 0,3 gram, khi trưởng thành có khối

lượng 10 - 20 gram, kích thước dài 1 - 2 cm, rộng 1 - 1,5 cm (Nguyễn Tấn

Anh và Cs, 1992). Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng và tiết

ra các hormon. Cấu tạo của buồng trứng gồm lớp trong và lớp vỏ, được bao

bọc bởi lớp biểu mơ mầm. Lớp trong có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết.

Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 nỗn bào ở các giai đoạn phát triển

khác nhau, tầng ngoài là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



15



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



trong là những nỗn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi nỗn bào chín thì nổi

lên trên bề mặt buồng trứng.

Tế bào thể vàng tiết ra progesterone, khối lượng thể vàng và hàm lượng

progesterone tăng nhanh từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 8 và giữ tương đối ổn

định cho đến ngày thứ 15, sự thối hố thể vàng ở bò bắt đầu từ ngày thứ 17 18 và chuyển thành thể bạch nếu trứng khơng thụ tinh.

*) Ống dẫn trứng

Ống dẫn trứng còn gọi là vòi fallop, nằm ở màng treo buồng trứng. Chức

năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược

nhau và đồng thời một lúc. Cấu tạo của ống dẫn trứng thích hợp tốt với chức

năng phức tạp đó. Một đầu của ống dẫn trứng thơng với xoang bụng, gần sát

buồng trứng và có hình loa kèn, loa kèn là màng mỏng tạo thành một cái tán

rộng, vành tán có các tua điểm lơ nhơ khơng đều, ơm lấy buồng trứng. Đối

với bò diện tích của loa kèn thường rộng 20 - 40mm 2 và phủ toàn bộ buồng

trứng (Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương), 1997. Bộ phận nhỏ mà

điểm vận chuyển trứng rụng từ bề mặt buồng trứng tới phễu. Trứng được

chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, tại 1/3 phía trên ống dẫn

trứng là nơi xảy ra sự thụ tinh và phân chia sớm của phôi. Phôi được lưu lại

trong ống dẫn trứng vài ngày trước khi về tử cung, dịch ống dẫn trứng cung

cấp điều kiện thích hợp cho sự thụ tinh và phân chia của phôi, bao gồm chất

dinh dưỡng và bảo vệ cho tinh trùng, noãn bào và hợp tử.

Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày. Trên

đường di hành trong ống dẫn trứng tế bào trứng có thể bị đứng lại ở các đoạn

khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng. Có thể chia ống dẫn trứng

thành 4 đoạn chức năng: Đoạn tua điểm, phễu, phồng ống dẫn trứng và đoạn

co của ống dẫn trứng (Nguyễn Tấn Anh, 1992).

4.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của bò sữa

Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc cái nói chung và lồi bò nói riêng

đặc trưng cho lồi, có tính ổn định với từng giống vật ni. Nó được duy trì

SVTT: Đặng Hồng Chinh



16



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



qua các thế hệ và ln củng cố, hồn thiện qua q trình chọn lọc. Ngồi ra

còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: Ngoại cảnh, điều kiện ni dưỡng

chăm sóc, chế độ khai thác sử dụng,…vv. Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh

dục của bò cái người ta thường tập trung nghiên cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau

đây:

a) Sự thành thục về tính

Khi đường sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng

trứng có nỗn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung

cũng biến đổi theo và đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung,.... Những

dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc ở tuổi như vậy gọi là thành thục

về tính. Trong thực tế, thành thục về tính thường đến sớm hơn thành thục về

thể vóc. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, gia súc, ngoại cảnh và

mức độ nuôi dưỡng. Trong điều kiện ni dưỡng tốt thì sự sinh trưởng được

thúc đẩy và thành thục về tính sẽ đến sớm hơn. Bò sữa thành thục tính dục khi

thể trọng đạt từ 30 - 40% thể trọng lúc trưởng thành, còn bò thịt với mức độ

cao hơn 45 - 50%. Theo Trần Tiến Dũng (2002): Bò sữa thành thục tính vào

khoảng 12 - 14 tháng tuổi, bò Zebu thành thục tính muộn hơn bò sữa có

nguồn gốc châu Âu từ 6 - 12 tháng.

Bò sữa nếu ni dưỡng tốt thì thành thục lúc 12 tháng tuổi, còn tầm vóc để bảo

đảm cho sự phối giống phải từ 18 tháng trở lên. Theo Khuất Văn Dũng (2005)

đối với bò lang trắng, đen Hà Lan cho ăn đầy đủ, chăm sóc tốt thì thành thục lúc

10 - 12 tháng tuổi, chăm sóc kém có thể kéo dài tới 16 - 18 tháng tuổi.

b) Chu kì động dục

Khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của bò được diễn ra liên tục

và có tính chu kì. Các nỗn bào trên buồng trứng phát triển lớn dần đến độ

chín, nổi cộm lên trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graf. Khi nang Graf

vỡ, trứng rụng, gọi là sự rụng trứng. Mỗi lần rụng trứng con vật có những

biểu hiện tính dục bên ngoài gọi là động dục. Thời gian từ lần rụng trứng

trước đến lần rụng trứng sau gọi chu kỳ sinh dục (chu kỳ tính) bò và lợn

SVTT: Đặng Hồng Chinh



17



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



thơng thường là 21 ngày (dao động 17 - 24 ngày), của trâu là 25 ngày (Trần

Tiến Dũng và Cs, 2002), những gia súc cái có chu kỳ động dục ngắn hơn 17

ngày hoặc dài hơn 24 ngày thường có tỷ lệ thụ thai thấp. Q trình trứng phát

triển chín và rụng đều chịu sự điều hồ chặt chẽ của hormon. Trên cơ sở đó

nhiều tác giả đã phân chia chu kỳ động dục thành 2 pha:

- Pha Folliculin: Gồm toàn bộ biểu hiện trước khi trứng rụng.

- Pha Lutein: Là những biểu hiện sau khi trứng rụng và hình thành thể vàng.

Chu kỳ động dục của bò nhiều tác giả đã đề cập đến các đợt sóng nang

(Follicular wave).

Sóng nang là sự phát triển đồng loạt của một số bao nỗn ở cùng một thời

gian. Các cơng trình nghiên cứu, theo dõi sự phát triển của buồng trứng

Invivo bằng phương pháp nội soi và siêu âm được nhiều tác giả cơng bố. Ở bò

trong một chu kỳ thường có 2-3 đợt sóng nang phát triển (một số ít có 4 đợt).

Đợt một bắt đầu diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày thứ 3 - 9 của chu kỳ.

Đợt 2 vào ngày 11 - 17 và đợt 3 vào ngày 18 - 20. Mỗi đợt sóng nang có thể

huy động tới 15 nang kích thước từ 5 - 7mm phát triển. Sau này có một số

nang phát triển mạnh hơn gọi là nang trội (nang khống chế), kích thước của

nang khống chế ở đợt 1, 2, 3 có thể đạt tới 12 - 15mm và các kích thước nang

tương ứng quan sát thấy vào các ngày 6, 13, 21.

Đặc điểm quan trọng trong các đợt phát triển nang là sự phát triển có tính tự

điều khiển và cạnh tranh giữa các nang. Một đợt có 1 - 2 nang trội, vài nang

lớn phát triển và sự phát triển của các nang còn lại bị kìm hãm. Tuy vậy, khi

thể vàng còn tồn tại, nang khống chế và nang lớn sẽ bị thối hố, chỉ có đợt

cuối cùng khi thể vàng khơng còn thì nang khống chế mới phát triển tới chín

và rụng trứng xảy ra. Do đặc điểm này các đợt phát triển nang gọi là sóng

phát triển. Trong mỗi đợt sóng như vậy sự tồn tại của các nang không phải

nang khống chế, dao động 5 - 6 ngày (Bierschwal B. J, (USA)1980). Riêng

nang khống chế có thể phát triển nhanh sau ngày 18 của chu kỳ, tốc độ phát

triển của nang khống chế ở thời điểm này có thể đạt 1,6mm/ngày (Hồng

SVTT: Đặng Hồng Chinh



18



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương, 1997).

Theo Trần Tiến Dũng (2002), bò chu kỳ động dục thường kéo dài 21 ngày,

thời gian động dục thường kéo dài 25 - 36 giờ, chu kỳ động dục ở gia súc

mang tính đặc trưng theo lồi.

Chu kỳ động dục của bò được chia làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn trước động dục (Preoestrus)

- Giai đoạn động dục (Oestrus)

- Giai đoạn sau động dục (Postoestrus)

- Giai đoạn cân bằng sinh học (An-Di-oestrus)

* Giai đoạn trước động dục

Trong giai đoạn này, trong buồng trứng noãn bao bắt đầu phát triển, tiết

hormone oestrogen. Chính hormone này đã tác động làm tử cung biến đổi: Tế

bào biểu mô phát triển, niêm mạc được tăng sinh, mạch quản trong màng

nhầy tử cung tăng lên, nhu động sừng tử cung tăng cường, dịch nhầy cổ tử

cung được tăng tiết, kích thích cho cổ tử cung hé mở.

* Giai đoạn động dục

Đây là giai đoạn trong buồng trứng noãn bao đã chín và xuất hiện rụng

trứng. Nỗn bao tiết hormone oestrogen ở mức độ cao nhất. Những biến đổi

của tử cung: sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn. Tế bào

niêm mạc tử cung tăng sinh rất mạnh làm nội mạc tử cung dày lên, các tuyến

trong niêm mạc tử cung phát triển mạnh và tiết nhiều dịch.

* Giai đoạn sau động dục

Giai đoạn này bên trong buồng trứng hình thành thể vàng, thể vàng bắt

đầu tiết progesterone. Chính hormone này chi phối làm cho các tuyến nội mạc

tiếp tục tăng sinh và tiết dịch. Tế bào niêm mạc tử cung tăng sinh.

* Giai đoạn cân bằng sinh học

Trứng không được thụ tinh, giai đoạn này thể vàng thành thục hồn

tồn và tiết progesterone, sau đó teo dần và đến cuối giai đoạn này thì tiêu biến

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



19



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



hẳn. Vì trứng khơng được thụ tinh, hợp tử khơng được hình thành, hoạt động

tiết dịch của các tuyến nội mạc tử cung ngừng lại, lượng máu đưa đến tử cung

giảm đi rõ rệt, các tế nội mạc tử cung teo đi. Thành tử cung trở lại trạng thái sinh

lý bình thường.

c) Quá trình thụ tinh

Sự thụ tinh là một qúa trình đồng hố và dị hố lẫn nhau một cách phức tạp

giữa hai tế bào trứng và tinh trùng. Kết quả của sự thụ tinh là sinh ra một tế

bào mới gọi là hợp tử, sau này là phôi và phát triển thành một cơ thể mới khác

với bố mẹ nhưng mang đặc điểm di truyền của bố, mẹ cùng với đặc điểm di

truyền của loài.

d) Quá trình mang thai

Sự phát triển của thai là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể, nó được bắt

đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đẻ xong. Trong thực tế sự có thai

của bò được tính ngay từ ngày phối giống cuối cùng cho đến ngày đẻ. Thời

gian mang thai phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như: Tuổi của mẹ, điều kiện

nuôi dưỡng, chế độ khai thác và sử dụng, số lượng thai, đôi khi còn phụ thuộc

vào lứa đẻ và tính biệt của thai. Thời gian mang thai của bò dao động trong

khoảng 278 - 290 ngày.

Tác giả Lê Xuân Cương (1997) khi nghiên cứu nhóm bò sinh sản tại Bà Rịa –

Vũng Tàu cho biết thời gian mang thai của bò trung bình là 280 ngày.

e) Quá trình sinh đẻ

Khi gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tuỳ thuộc vào từng

lồi gia súc (bò 9 tháng 10 ngày, lợn 3 tháng 3 tuần 3 ngày, trâu 10,5 tháng,

chó 2 tháng,...). Khi bào thai đã phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thống

thần kinh và nội tiết con mẹ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau

thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài gọi là q trình sinh đẻ. Để giải thích

q trình sinh đẻ ta có thể dựa vào các học thuyết sau.

- Học thuyết áp lực

Khi bào thai ở trong tử cung cơ thể mẹ sinh trưởng và phát triển đến

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



20



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



thời kỳ cuối. Thai to tiếp giáp chặt vào thành tử cung, đè mạnh vào đuờng

sinh dục, các hoạt động của thai ngày càng tăng lên làm cho áp lực trong

đường sinh dục cái thay đổi đồng thời cũng là vật kích thích cơ giới làm cho

dường sinh dục cái tăng cường hưng phấn. Khi áp lực và kích thích cơ giới

đạt đến một mức độ nhất định sẽ gây ra phản xạ co bóp ở tử cung và cổ tử

cung làm cổ tử cung mở ra gây ra q trình đẻ.

- Học thuyết về kích tố

Ở thời gian có thai kỳ cuối hàm lượng Progesteron trong máu hạ xuống

hàm lượng oestrogen tăng lên làm cho các thụ quan hoá học trong tử cung

mẫn cảm với các kích thích sinh ra phản ứng mạnh với các chất Acetylcholin.

Oestrogen đi vào trong máu làm tăng cường tổng hợp Acetylcholin và ức chế

men có tác dụng phá huỷ hormone tuyến yên. Đồng thời hormone tuyến yên

lại ức chế men Cholinesteaza (men có tác dụng phá huỷ Acetylcholin trong cơ

thể). Tất cả các yếu tố trên làm cho tử cung xuất hiện những cơn co bóp, cổ tử

cung mở ra gây ra quá trình đẻ.

- Học thuyết biến đổi nhau thai

Khi bào thai đã phát triển thành thục, quan hệ sinh lý giữa nhau mẹ và

nhau con trở lên không cần thiết nữa do đó màng thai bắt đầu biến thành sơ

hóa. Chính vì thế quan hệ giữa mẹ và con bị đứt bào thai trở thành một dị vật

do đó bị tử cung cơ thể mẹ co bóp và tống ra ngồi.

Q trình sinh đẻ của gia súc nói chung và bò nói riêng bao gồm các

giai đoạn sau:

- Giai đoạn mở cổ tử cung: Được tính từ khi con mẹ có triệu chứng rặn

đẻ đến khi cổ tử cung mở hoàn toàn. Đặc điểm của giai đoạn này là những

cơn rặn của con mẹ còn yếu và thưa, càng về cuối giai đoạn này cường độ

những cơn rặn mạnh dần lên, thời gian nghỉ giữa 2 lần rặn rút ngắn dần lại.

Cuối giai đoạn này sảy ra hiện tượng vỡ ối.

- Giai đoạn sổ thai: Được tính từ khi vỡ ối đến khi bào thai cuối cùng

được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ. Đặc điểm của giai đoạn này là gia súc mẹ tập

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



21



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



trung tất cả sức lực để rặn để đẩy bào thai ra ngoài thời gian giai đoạn này dài

ngắn phụ thuộc vào từng lồi gia súc ở bò là bò 20 phút đến 3 giờ.

- Giai đoạn bong nhau: Tính từ khi sổ bào thai cuối cùng đến khi toàn bộ

nhau thai con được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ, thời gian này ở bò 4 - 6 giờ. Quá thời

gian kể trên mà nhau thai con không được đẩy ra ngồi thì được gọi là bệnh sát

nhau.

Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ

sinh dục và có khả năng sinh sản. Lúc này bộ phận sinh dục đã căn bản hoàn

thiện và có thể bước vào hoạt động sinh sản. So với sự thành thục về thể vóc,

thành thục về tính ở gia súc nói chung và ở lợn nói riêng thường sớm hơn, nên

người ta thường không phối lợn ở chu kỳ động dục đầu tiên mà phối lợn ở

những chu kỳ sau, khi mà nái đã phát triển về thể vóc.

Sự thành thục về tính được nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận ngoài của cơ

quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh. Đầu tiên hai mép âm hộ sưng đỏ

và có dịch chảy ra, sau đó chuyển thành màu đỏ thẫm và dịch trở nên keo

dính. Tương ứng là sự biến đổi của thần kinh: lúc đầu con vật hưng phấn, sự

hưng phấn đạt dần đến cao độ, gia súc ở trạng thái không yên tĩnh, kêu rống,

nhảy lên lưng con khác hay để con khác nhảy lên. Sau đó con vật chuyển sang

trạng thái mê ì, thích gần con đực, xuất hiện các tư thế của phản xạ giao phối,

hai chân sau dạng ra, đuôi cong về một bên. Cùng với sự biểu hiện động dục

bên ngồi, ở bên trong buồng trứng cũng có sự biến đổi, các noãn bao nổi lên

trên bề mặt và chín, niêm mạc tử cung tăng sinh, cổ tử cung mở dần kèm theo

tiết dịch.

4.2. Khái quát về viêm

a, Khái niệm

Hiện tượng sưng, nóng, đỏ, đau của viêm đã được đề cập tới trong y

học cổ đại và những khái niệm về viêm cũng được hình thành từ rất sớm song

lại rất khác nhau. Theo Vũ Triệu An và cộng sự (1990) viêm là một phản ứng

bảo vệ của cơ thể mà nền tảng của nó là phản ứng tế bào. Phản ứng này hình

SVTT: Đặng Hồng Chinh



22



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



thành và phát triển phức tạp dần trong q trình tiến hố của sinh vật.

Viêm là một q trình phức tạp, ln ln thay đổi, có nhiều tính chất

bảo vệ, nhằm duy trì sự hang định nội mơi. Phản ứng này hình thành trong

q trình tiến hố của sinh giới và bao gồm ba hiện tượng đồng thời tồn tại và

liên quan chặt chẽ với nhau: Rối loạn tuần hoàn, Rối loạn chuyển hố - tổn

thương mơ bào và Tế bào tăng sinh.

Theo Nguyễn Hữu Nam, (2004) : Viêm là một phản ứng tồn thân

chống lại mọi kích thích có hại, thể hiện ở cục bộ mô bào.

b, Nguyên nhân sinh vật

-



Các loại vi khuẩn, virut, ký sinh trùng, các loại côn trùng đều có thể gây



viêm cho cơ thể gia súc do độc lực cũng như sự tác động cơ giới của chúng. Vi

khuẩn gây viêm thường có 3 loại:

Loại vi khuẩn hoá mủ: Loại này thường gây viêm hoá mủ đối với tế bào tổ

chức cơ thể gia súc. Thường thấy nhất là loại Staphylococcus và Streptococus

thường kết hợp gây nhiễm.

-



Loại vi khuẩn gây thối rữa: Thường chúng gây quá trình thối rữa đối với



tế bào tổ chức và gây nhiễm trùng toàn thân như các trực khuẩn gây hoạ thư sinh

hơi.

-



Vi khuẩn gây nhiễm trùng đặc biệt: Chủ yếu là vi khuẩn gây hiện tượng



truyền nhiễm từ các vết thương như vi khuẩn uốn ván, vi khuẩn nhiệt thán, tỵ

thư (Clostridium tetani, Bacillus anthracis, Malleomyces mallei).

c, Hậu quả của phản ứng tuần hoàn khi viêm

Khi cơ thể bị viêm thì tại ổ viêm xảy ra phản ứng tuần hồn và phản

ứng tế bào gây nên các rối loạn chủ yếu như sau:

Rối loạn chuyển hoá: tại ổ viêm quá trình oxy hố tăng mạnh, nhu cầu

oxy tăng nhưng vì có rối loạn tuần hồn nên khả năng cung cấp oxy khơng

đủ, gây rối loạn chuyển hố gluxit, lipid và protein gây ra hiện tượng tăng độ

axit, xeton, lipid, albumoza, polipeptid và các axit amin tại ổ viêm.



SVTT: Đặng Hoàng Chinh



23



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



Tổn thương mơ bào: các tế bào bị tổn thương tại ổ viêm giải phóng các

enzym cũng làm trầm trọng thêm q trình huỷ hoại mơ bào và phân huỷ các

chất tại vùng viêm, chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh lý cao

và hạ thấp độ pH của ổ viêm.

Theo Nguyễn Hữu Nam, (2004) ngoài tính chất bảo vệ thì tổn thương

mơ bào còn tạo ra nhiều chất có hại tham gia vào thành phần của dịch rỉ viêm,

chính các chất này đã góp phần hình thành và phát triển vòng xoắn bệnh lý

trong viêm.

Dịch rỉ viêm: là sản phẩm được tiết ra tại ổ viêm bao gồm nước, thành

phần hữu hình và các chất hòa tan như nước, muối, albumin, globulin,

íibrinogen, bạch cầu, hồng cầu, tiếu cầu có tác dụng tạo vành đai ngăn cản viêm

lan, Đặc biệt là các chất có hoạt tính sinh lý như histamin, serotonin,

acetylcholine có tác dụng làm giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch gây đau.

Tăng sinh mô bào: là hiện tượng tăng lên về số lượng các tế bào trong ổ

viêm, các tế bào này có thể từ máu tới hoặc các tế bào tại chỗ sinh sản phát

triến ra. Trong quá trình viêm, giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa

nhân trung tính. Sự tăng sinh và phát triến của các loại tế bào phụ thuộc vào

mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng phản ứng của cơ thể

(Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, 1997)

Các tế bào viêm: là các tế bào tăng sinh trong ổ viêm, bao gồm: bạch

cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ưa toan, bạch cầu ưa kiềm, bạch cầu đơn

nhân lớn. Chúng có chức năng thực bào, ẩm bào hay tạo ra những kích thích

tại các ổ viêm và giữ vai trò quan trọng giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của

các tác nhân lạ từ môi trường.

4.3. Bệnh viêm tử cung

-



Bệnh viêm tử cung ở trâu, bò cái sinh sản ảnh hưởng rất lớn đến khả



năng sản xuất của vật nuôi như làm cho trâu, bò cái mất sữa, chậm động dục trở

lại, không thụ thai, làm giảm năng suất. Trường hợp nặng trâu, bò cái giảm khả

năng sinh sản dẫn đến vơ sinh vĩnh viễn

SVTT: Đặng Hồng Chinh



24



Lớp: Thú y K2



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×