Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ - THẢO LUẬN

KẾT QUẢ - THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



nhân như: Vệ sinh kém trong khi can thiệp bò đẻ khó, thể trạng bò q béo

hoặc q gầy, do sót nhau, môi trường nuôi chưa đảm bảo vệ sinh là điều kiện

thuận lợi cho vi khuẩn phát triển nhất là vi khuẩn ngồi mơi trường, một phần

do thụ tinh nhân tạo không đúng kỹ thuật đã làm tổn thương đường sinh dục

tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh cho bò.

Một số hình ảnh các bệnh hay mắc ở bò sữa tại trại



Hình 1.9. Bò sữa bị bệnh viêm tử



Hình 1.10. Bò sữa bị sót nhau



cung



Hình 4.11. Bò sữa bị lệch dạ múi khế



SVTT: Đặng Hoàng Chinh



40



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



2. Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa tại trại

TH True Milk

2.1. Tình hình bò sữa mắc bệnh viêm tử cung trong 2 năm 2017- 2018

Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở bò sữa qua các năm chiếm tỷ lệ cao

nhất trong số các bệnh sinh sản mà đàn bò sữa ở trại hay mắc. Trong thời gian

thực tập chúng tôi thu thập được số liệu đàn bò sữa bị viêm tử cung trong 2

năm 2017 - 2018.

Số liệu được trình bày ở bảng 2.4

Bảng 2.4 : Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa trong 2 năm

2017 – 2018

Số



Năm

2017

2018

( Nguồn : thú y trại )



con



theo



dõi Số



(con)

3467

7482



(con)

1089

1217



con



mắc Tỷ



lệ



mắc



(%)

31.4%

16.3%



Kết quả bảng 2.4 cho thấy, năm 2017 tỷ lệ bò sữa tại trại mắc bệnh

viêm tử cung khá cao, trong 3467 con có tới 1089 con mắc bệnh, chiếm tỷ lệ

tới 31,4%. Năm 2018, có 1217 con mắc bệnh trong 7482 con, chiếm tỷ lệ

16,3%. Tỷ lệ bò mắc bệnh viêm tử cung qua 2 năm có dấu hiệu giảm rõ rệt.

Khi tìm hiểu kỹ chúng tơi thấy: cơng tác phòng và trị bệnh của trại có phần

được chú ý cải tiến hơn. Kĩ năng phối giống, các thao tác đỡ đẻ thành thục

hơn, không gây ảnh hưởng đến tử cung bò. Nhu cầu dinh dưỡng trong thức ăn

của bò sữa được thay đổi tốt hơn nên các ca bò đẻ khó giảm đi đáng kể. Vì

vậy tỷ lệ bò bị mắc bệnh viêm tử cung ở năm 2018 giảm đi so với năm 2017.

Trong q trình điều tra chúng tơi nhận thấy, ở trại tỷ lệ bò sữa mắc

bệnh viêm tử cung tương đối cao nhưng chỉ mắc ở thể nhẹ, triệu chứng tồn

thân khơng nặng, nếu theo dõi kỹ và thực hiện việc tiêm phòng bệnh trước và

sau khi đẻ, vệ sinh sát trùng nghiêm ngặt thì hiệu quả điều trị sẽ cao hơn.



SVTT: Đặng Hoàng Chinh



41



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



2.2. Tình hình bò sữa mắc bệnh viêm tử cung qua các lứa đẻ

Trong thời gian thực tập chúng tôi trực tiếp theo dõi bệnh viêm tử cung

ở đàn bò sữa qua các lứa đẻ trong 2 năm 2017 - 2018. Kết quả được thể hiện ở

bảng 2.5:

Bảng 2.5 : Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung qua các lứa đẻ

2017



Năm



Số



Lứa

Lứa 1

Lứa 2

Lứa 3

Lứa 4

Lứa 5

Lứa 6+



2018

con Số con Tỉ



lệ Số con Số



con Tỷ



theo dõi



mắc



mắc



theo dõi mắc



mắc



(con)



(con)



(%)



(con)



(con)



(%)



1607

774

540

152

132

262



636

166

113

44

37

93



39.6%

21.4%

20.9%

28.9%

28.0%

35.5%



1219

1682

1326

1264

475

1516



541

44.4%

254

15.1%

157

11.8%

101

8.0%

37

7.8%

127

8.4%

(Nguồn:thú y trại)



Qua kết quả bảng 2.5 cho thấy: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn

bò sữa thường tập trung vào những bò đẻ lứa đầu lần lượt theo 2 năm 2017 và

2018 (39,6% và 44,4%), năm 2017 tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung giảm dần ở

các lứa đẻ sau và bắt đầu tăng ở lứa thứ 4, năm 2018 tỷ lệ mắc bệnh viêm tử

cung các lứa sau có xu hướng giảm mạnh và khơng có dấu hiệu tăng.

Ở những lứa đầu tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung là khá cao là do trong lần

sinh đẻ đầu tiên các bộ phận của cơ quan sinh dục giãn nở chưa hồn tồn,

thường dẫn đến hiện tượng đẻ khó và phải dùng biện pháp can thiệp bằng tay

hay dụng cụ để kéo thai ra ngồi từ đó làm trầy xước niêm mạc đường sinh

dục tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn từ ngoài xâm nhập vào qua những

vết thương trên niêm mạc tử cung gây viêm.

Những lứa đẻ tiếp sau tỷ lệ viêm giảm dần, nhưng đến lứa đẻ lần thứ 4

trở về sau tỷ lệ viêm tử cung lại tiếp tục tăng lên (2017). Tỷ lệ mắc bệnh viêm

tử cung tăng ở lứa đẻ thứ 6+ trong 2 năm (35,5% và 8,4%), có thể thời điểm

này do bò đã đẻ nhiều lứa, trương lực của tử cung giảm dẫn tới sự co bóp của

SVTT: Đặng Hồng Chinh



42



Lớp: Thú y K2



lệ



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



tử cung giảm không đủ cường độ để đẩy hết các sản phẩm trung gian sau khi

đẻ ra ngoài, sự hồi phục của tử cung chậm, cổ tử cung đóng muộn tạo điều

kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm.

2.3. Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa theo giai đoạn

Với mục đích xác định tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các giai đoạn

sinh sản: chờ phối, sau phối và sau đẻ. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, theo

dõi 274 con bò sữa đang trong giai đoạn chờ phối, 359 con bò sữa trong giai

đoạn sau phối và 543 con bò sữa trong giai đoạn sau đẻ. Từ đó có được tỷ lệ

bò sữa mắc bệnh viêm tử cung ở các giai đoạn sinh sản khác nhau. Kết quả

được thể hiện ở bảng 2.6

Bảng 2.6 : Tỷ lệ viêm tử cung ở 3 giai đoạn chờ phối, sau phối và sau đẻ

Giai đoạn

Chờ phối

Sau phối

Sau đẻ



Tỷ lệ mắc



Số con theo dõi



Số con mắc



274



12



4%



359



7



2%



543



121



22%



(%)



( Nguồn : thú y trại )

Qua kết quả bảng 2.6 ta thấy, đàn bò sữa tại trại chủ yếu bị bệnh viêm

tử cung ở giai đoạn sau đẻ lần lượt là (22%), giai đoạn chờ phối (4%) và sau

phối (2%) là gần như nhau.

Theo chúng tơi, giai đoạn chờ phối đàn bò sữa mắc bệnh do các nguyên nhân:

+ Do mầm bệnh xâm nhập vào tử cung từ giai đoạn đẻ, giai đoạn này

thời gian kéo dài và bệnh đã được điều trị nên khả năng mắc bệnh không lớn.

+ Do công tác phối giống không đúng kỹ thuật, không đảm bảo vô

trùng và có thể do nhiễm khuẩn đường tiết niệu: cơng tác phối giống tác động

đến âm đạo và tử cung bò khơng nhiều như cơng tác đỡ đẻ nên khả năng bò bị

nhiễm khuẩn gây viêm thấp hơn giai đoạn đẻ.

Ở giai đoạn sau đẻ, đàn bò sữa mắc bệnh chủ yếu là do cơng tác hộ lý

SVTT: Đặng Hồng Chinh



43



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



đỡ đẻ khơng tốt, hoặc do tác động của dụng cụ sản khoa khi đỡ đẻ gây xây

xước niêm mạc đường sinh dục và tử cung, điều kiện vệ sinh sau đẻ kém nên

khả năng vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh là rất lớn.

Như vậy, để tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn bò sữa ni tại trại giảm thì cần

phải có biện pháp triệt để nhằm cải tạo môi trường chăn nuôi, phương thức chăn

ni.

2.4. Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh viêm tử cung tại trại trong thời

gian thực tập

Trong thời gian thực tập tại trại với việc trực tiếp theo dõi bệnh viêm tử cung,

kết quả số ca mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa cái trong thời gian thực

tập được trình bày ở bảng 2.7 sau đây :

Bảng 2.7 : Số ca mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa sinh sản từ

tháng 6 đến tháng 9 năm 2019

Thời gian



Số con theo dõi Số con mắc bệnh Tỷ lệ mắc bệnh



Tháng 6

Tháng 7

Tháng 8



(con)

383

256

181



(con)

76

53

40



(%)

20%

20,7%

22,1%



Kết quả ở bảng 2.7 cho thấy tháng 6 có số bò bị viêm tử cung nhiều

nhất 76 con/ 383 con theo dõi. Tháng 7 có 53 con viêm tử cung/ 256 con theo

dõi. Tháng 8 có số bò bị viêm là 40 con/ 181 con theo dõi. Tháng 8 có tỷ lệ

mắc bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất với 22,1% , tháng 6 với tháng 7 tỷ lệ bò mắc

bệnh gần như nhau . Chúng tơi giải thích kết quả trên là do tháng 7 là tháng

mùa hè, nhiệt độ môi trường thường cao trung bình trên 30°C, lượng mưa

nhiều nên độ ẩm khơng khí cao. Đây là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát

triển mạnh. Mặt khác mùa hè cũng là mùa của loài ruồi phát triển. Ruồi là một

trong những nguồn lây truyền mầm bệnh từ động vật mắc bệnh sang động vật

khoẻ góp phần làm cho tỷ lệ mắc viêm tử cung bò sữa tăng lên. Hơn nữa do

bò sữa thường thích ứng với điều kiện thời tiết lạnh, vì vậy vào mùa hè, thời

SVTT: Đặng Hồng Chinh



44



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



tiết nóng, ẩm độ khơng khí cao cũng ảnh hưởng đến sức khoẻ của đàn bò như

stress nhiệt độ làm cho sức đề kháng với bệnh giảm với những hoocmon bất

lợi được giải phóng vào máu gây trở ngại cho quá trình thực bào của bạch cầu

đối với vi sinh vật.

Vì vậy, để phòng bệnh cho bò sữa và đặc biệt vào thời điểm có tỷ lệ

viêm tử cung khá cao như mùa hè, cần chú ý đảm bảo đầy đủ và cân đối

thành phần các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của bò sữa, đặc biệt là

trong giai đoạn bò sữa mang thai, tránh tình trạng bò sữa quá béo hoặc quá

gầy, sức đề kháng suy giảm. Nước sạch cũng cần được cung cấp đầy đủ cho

bò sữa. Ngồi ra , cần vệ sinh chuồng ni, đảm bảo khơ ráo, thơng thống.

Chuồng ni nhốt bò đẻ phải vệ sinh sạch sẽ trước khi cho bò sữa vào.

2.5. Tình hình tỷ lệ bò sữa mắc các thể viêm tử cung

trong thời gian thực tập

Để chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung ở bò sữa, người ta dựa

vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ và tồn thân. Việc chẩn đoán phân

biệt các thể viêm tử cung có một ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng những

phác đồ điều trị thích hợp với từng thể viêm nhằm đạt kết quả điều trị cao với

thời gian điều trị ngắn, chi phí cho điều trị thấp đặc biệt là đảm bảo khả năng

sinh sản cho gia súc cái.

Dựa vào những biểu hiện triệu chứng lâm sàng điển hình của những

con bò sữa mắc bệnh viêm tử cung kết hợp với việc khám tử cung bằng

phương pháp khám trực tiếp thơng qua trực tràng trong số 169 bò sữa mắc

bệnh viêm tử cung tại trại, chúng tôi thu được kết quả trình bày tại bảng 2.7



SVTT: Đặng Hồng Chinh



45



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



Bảng 2.8 : Tỷ lệ mắc các thể viêm tử cung bò sữa ( n=169 )

Số con mắc ( con )



Tỷ lệ



n = 169



(%)



Viêm nội mạc tử cung



135



79.88%



Viêm cơ tử cung



32



18.93%



Viêm tương mạc tử cung



2



1.18%



Thể viêm



Qua bảng 2.8 cho thấy: Trong số bò mắc viêm tử cung, chủ yếu là bò mắc

viêm nội mạc tử cung chiếm tỷ lệ cao 79,88%, bò mắc thể viêm cơ tử cung chiếm

18,93% và thể viêm chiếm thấp nhất là viêm tương mạc tử cung 1,18%.

Bệnh viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất

là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ làm

niêm mạc tử cung bị xây xát, tổn thương.

Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, do bác sĩ thú y

điều trị không kịp thời làm cho dịch rỉ viêm, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu

vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và

lâm ba quản. Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử.

Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung. Thể

viêm này thường cấp tính cục bộ, tồn thân xuất hiện những triệu chứng điển

hình và nặng. Thân nhiệt tăng cao, mạch đập nhanh, con vật ủ rũ, uể oải, đại

tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn, hiện tượng nhai lại giảm hay

ngừng. Lượng sữa còn rất ít hay mất hẳn, thường kế phát viêm vú.

3. Đánh giá kết quả thử nghiệm các phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung

trên đàn bò sữa tại trại TH True Milk

Trong thời gian thực tập ở trại chúng tôi tiến hành thử nghiệm phác đồ điều trị

bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa bằng 2 phác đồ:

 Phác đồ 1 :

+ Tiêm Citius 5% (Ceftiofur), tiêm bắp với liều 2 ml/50kg TT./ngày, liệu trình 3 5 ngày.

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



46



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



+ Tiêm Neuxyn 5% (Flunixin) , tiêm bắp với liều 2ml/45kg TT./ngày, liệu trình 2

- 3 ngày.

 Phác đồ 2 :

+ Tiêm Han-Clamox ( Amoxicillin ), tiêm bắp với liều 1ml/20kg

TT/ngày, điều trị trong 3 - 5 ngày liên tục .

+ Tiêm Oxytocin, tiêm dưới da với liều 3ml/con/ngày, liệu trình 3 ngày

+ Cho uống 20 - 25l điện giải 2 - 3 lần/ngày hoặc hơn nữa.

Bảng 3.9 : Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên

bò sữa tại trại

Số

Số

Phác



đồ



điều trị





điều

trị

(con)



Số



Tỷ lệ



con



khỏi



khỏi



bệnh



(con)



(%)



ngày



Số



Tỷ lệ



điều



động



động



trị



dục



dục



trung



trở lại trở lại



bình



(con)



(%)



(ngày)



Số

chửa



có Tỷ lệ Số

con



lần đầu chửa lần

phối



đầu phối



giống



giống



(con)



(%)



Phác đồ 1



20



19



95



4



18



94,7



15



83,3



Phác đồ 2



20



16



80



5



13



81,2



9



69,2



Kết quả bảng 3.9 cho thấy: Phác đồ điều trị thứ 1 cho kết quả cao nhất.

Vì có tỷ lệ khỏi bệnh cao nhất (95%), thời gian điều trị ngắn (số ngày điều trị

trung bình 4 ngày), tỷ lệ số con có chửa lần đầu phối giống cao (83,3%). Theo

chúng tôi sở dĩ dùng phác đồ điều trị thứ 1 có kết quả như vậy đó là do sự

phối hợp của các thuốc phù hợp, trong đó thuốc kháng sinh Citius 5% có

thành phần chính là Ceftiofur, một kháng sinh thuộc nhóm Cephalosporin, có

phổ kháng khuẩn rộng trên các vi khuẩn Gram (-) và Gram (+), bao gồm cả

các vi khuẩn tạo Beta lactamase nên diệt được hầu hết các loại vi sinh vật

xâm nhập vào tử cung. Mặt khác, Neuxyn 5% có thành phần chính là

Flunixin, là thuốc kháng viêm khơng có steroid (NSAID) thế hệ mới với tác

SVTT: Đặng Hồng Chinh



47







Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



động hạ sốt, giảm đau, kháng viêm, tiêu độc, giúp bò phục hồi nhanh

hơn,nâng cao được sức đề kháng của cơ thể. Đối với việc điều trị bệnh sinh

sản, đặc biệt là bệnh viêm tử cung thì thời gian điều trị ngắn là rất quan trọng,

thời gian điều trị càng ngắn đồng nghĩa với việc niêm mạc tử cung ít bị tổn

thương, nhanh chóng hồi phục nên ít ảnh hưởng tới việc sinh sản sau này.

Như vậy, phác đồ điều trị thứ 1 là tốt nhất và nên đưa vào để điều trị.

 Phác đồ 3:

Phác đồ PGF2α: Là phác đồ dùng để điều trị bò bị viêm tử cung ở giai

đoạn chờ phối. Cloprostenol là chất tổng hợp tương tự như PGF2α tự nhiên.

Trong Cơ quan sinh sản, prostaglandin ( PGs ) đóng vai trò trong sự rụng

trứng, gây thối hóa thể vàng, vận chuyển giao tử, nhu động dạ con, xổ màng

nhau và vận chuyển tinh trùng trong đường sinh dục của cả con đực và cái.

PGs được sử dụng trong các liệu pháp sinh sản chủ yếu do có khả năng gây

thối hóa thể vàng. Nhưng cũng có thể dùng để điều trị sót nhau, viêm tử

cung có mủ hoặc mạn tính: Cloprostenol có tác dụng kích thích thành dạ con ,

gây co bóp tử cung (Hoạt động này có thể giúp đào thải nhau còn sót lại). Nếu

khơng bị nhiễm trùng máu thì Ovuprost có thể hỗ trợ trong việc điều trị nhiễm

trùng tử cung sau khi sinh nhờ tác dụng gây tiêu biến thể vàng và kích thích

co bóp dạ con. Sự sụt giảm nhanh chóng của lượng progesterone và tăng lên

của oestrogen , hệ quả của sự tiêu biến thể vàng, kích thích cơ chế phòng vệ

của tử cung và tăng hỗ trợ trong việc giải quyết nhiễm trùng.

Tuy vậy, trong thời gian thực tập từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2019, trang trại

đang trong thời gian có số bò mang thai dài ngày chờ đẻ rất nhiều, số bò chờ

phối ít, lại khơng mắc bệnh viêm tử cung, nên khơng có số liệu để chúng

tơi phân tích đánh giá. Vì vậy tơi chỉ nói qua về phác đồ PGF2α để hiểu rõ

thêm về cơ chế của hormone sinh sản này trong việc đẩy dịch viêm tử cung

khi cần thiết.



SVTT: Đặng Hoàng Chinh



48



Lớp: Thú y K2



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ - THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×