Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



Lượng mưa trung bình 1.633mm, trong đó có trên 70% lượng mưa tập

trung từ tháng 5 - 10. Lượng mưa bình quân cao nhất 2.784 mm (1978), bình

quân thấp nhất 1.16mm (1969).

Tổng lượng nước bốc hơi bình quân năm 825 mm, ẩm độ trung bình

nhiều năm phổ biến là 80 - 86%.

Nhìn chung, khí hậu thời tiết ở Nghĩa Đàn phù hợp cho cây trồng, vật

nuôi phát triển.

Nghĩa Đàn nằm trong lưu vực sông Hiếu là nhánh sông lớn nhất của hệ

thống sông Cả bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào chảy qua địa phận huyện

Nghĩa Đàn với chiều dài trên 50km. Tổng lượng dòng chảy bình qn nhiều

năm qua huyện là 3,7 tỷ m3 nước. Dòng chảy lớn nhất mùa lũ 5810m 3/s, mùa

cạn chỉ đạt 13m3/s. Ngồi ra, còn có trên 100 hồ đập thủy lợi với trữ lượng

hàng chục triệu m3, đây là lợi thế về nguồn nước mặt cho phát triển kinh tế

nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và là cơ sở cho việc xây dựng vùng du lịch

sinh thái sau này.

1.1.3. Cơ sở vật chất của trang trại

Trang trại của tập đoàn TH True Milk tại Nghĩa Đàn (Nghệ An) đạt kỷ

lục với cánh đồng trồng ngun liệu ni bò và một nhà máy sản xuất chế

biến sữa tươi sạch cho ra 500 triệu lít sữa/năm.

Nơi đây hiện có 45.000 con bò sữa với hơn 22.000 con cho sữa, cho

năng suất sữa bình qn 40 lít/ con/ ngày được nuôi trong trang trại tập trung

và khép kín. Để cung cấp thức ăn cho bò, TH còn có một cánh đồng nguyên

liệu hơn 2.000 ha với các loại ngơ, cao lương, hướng dương, cỏ Mombasa

(Mỹ).... Bò sữa sống dưới các chuồng trại lợp tôn lạnh 3 lớp, có quạt gió, hệ

thống phun sương làm mát cho bò... Chúng được nghe các bản nhạc cổ điển,

dân ca mỗi ngày.

Bò sữa tại trang trại TH chủ yếu được nhập khẩu từ các nước có nguồn

giống tốt, cho năng suất sữa cao, chất lượng như New Zealand, Australia....

Trang trại có chế độ ăn riêng cho từng cá thể bò với các chế độ dinh dưỡng

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



5



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



khác nhau: bò đang vắt sữa, bò cạn sữa, bò đang dưỡng bệnh, bê con.... Nước

uống của chúng được lọc qua hệ thống máy móc hiện đại nhập từ Hà Lan.

Mỗi cụm trại đều có một nhà máy xử lý nước sạch Amiad để cung cấp nước

uống, tắm mát cho bò sữa. Từng con bò được gắn chíp điện tử dưới chân để

theo dõi một số chỉ tiêu của bò như số bước chân trong một ngày, độ dẫn điện

của sữa,....



Hình 1.1. Bò sữa được gắn chíp điện tử vào chân



SVTT: Đặng Hoàng Chinh



6



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



Hình 1.2. Chíp điện tử

Trường hợp nào bị bệnh sẽ tự động loại ra khỏi khu vực vắt sữa và đảm

bảo chất lượng sữa tốt nhất. Nhà máy sản xuất chế biến sữa tươi sạch có cơng

suất thiết kế hơn 500 triệu lít sữa/năm, lớn nhất và hiện đại nhất châu Á cả về

quy mô lẫn công nghệ. Tồn bộ sản phẩm làm hồn tồn từ sữa bò tươi

nguyên chất qua các quy trình được kiểm tra hàm lượng dinh dưỡng như

protein, chất béo, test kháng sinh, các chỉ tiêu lý hóa, vi sinh. TH True Milk

vừa nhận danh hiệu Trang trại chăn ni bò sữa tập trung, ứng dụng cơng

nghệ cao có quy mơ lớn nhất châu Á do tổ chức kỷ lục châu Á xác nhận.

1.1.4. Cơ cấu tổ chức, chức năng của Trại

a) Cơ cấu của trại

Trại có tổng tất cả là 100 người chia thành 8 bộ phận gồm có:

+ Bộ phận đàn



+ Bộ phận khu vắt sữa



+ Bộ phận thú y



+ Bộ phận điện nước



+ Bộ phận thức ăn



+ Bộ phận hành chính



+ Bộ phận khu bê



+ Bộ phận lái máy



Có 1 trưởng trại quản lý chung và 1 phó trại làm quản lý đàn. Mỗi bộ

phận có 1 người trưởng và 1 người làm phó bộ phận.

SVTT: Đặng Hồng Chinh



7



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



Trại có 12 dãy chuồng hơn 6000 bò gồm bò đẻ, bò vắt sữa, bò tơ và bò

có chửa. Có 3 dãy chuồng bê với gần 1000 bê. Khu vắt sữa nằm tách riêng ra

nằm ở phía Tây của trại.

b) Chức năng, nhiệm vụ của trại

Là trại của công ty TH chuyên ni bò vắt sữa, 100% bò HF (Holstein

Friesian). Trại có hệ thống vắt sữa hiện đại, sữa vắt được cung cấp cho nhà

máy chế biến. Trại còn có nhiệm vụ nuôi bê và cung cấp cho các trại khác

trong cùng cơng ty.

Ngồi ra, trại nhận thêm nhân sự vào để đào tạo, hướng dẫn cho những

người làm nghiên cứu và các đề tài nghiên cứu khoa học.

c) Quy mô chăn nuôi

Công ty cổ phần Thực phẩm Sữa TH được xây dựng với quy mô công

nghiệp hiện đại, tại Trang trại bò sữa TH, cách chế biến thức ăn, chăn ni bò

sữa kiểu tập trung, vắt sữa bò thuộc một quy trình khép kín với quy trình cơng

nghệ nhập khẩu 100% từ Israel.

Theo kế hoạch tổng thể, công ty đặt mục tiêu đạt sản lượng sữa bằng

50% tổng lượng sữa của cả nước vào năm 2011 và đạt tổng sản lượng sữa tươi

nguyên liệu gấp 3 - 4 lần tổng sản lượng sữa tươi nguyên liệu của cả nước vào

năm 2015.

Quy mô dự án gồm 13 trang trại (12 trại sản xuất và 1 trại cách ly), dự

kiến mỗi trang trại ni 2.500 con bò vắt sữa, một nhà máy chế biến sữa công

suất 100 tấn sữa/ngày và đạt công suất 500 tấn/ngày vào năm 2012, bằng công

nghệ tiên tiến và thiết bị hiện đại của Israel. Ðây là dự án lớn nhất của ngành

Nông nghiệp lần đầu được xây dựng tại Nghệ An nói riêng và trong cả nước

nói chung.

Ngày 27/2/2010, Công ty Cổ phần thực phẩm sữa TH đã nhập đợt bò

đầu tiên 1.600 con bò sữa thuần chủng HF (Holstein Friesian) từ New

Zealand qua cảng Cửa Lò cho dự án chăn ni bò sữa và chế biến sữa tập

trung quy mô công nghiệp. Tiếp theo, ngày 18/4/2010 công ty nhập đợt 2 với

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



8



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



tổng số 1.490 con. Như vậy, dự án đã nhập về 3.090 con trong tổng số dự kiến

nhập là 24.000 con phục vụ hoạt động nhân giống cho dự án. Đàn bò giống

nhập về đều có sức khoẻ tốt, đáp ứng yêu cầu về kiểm dịch và vệ sinh thú y

của Việt Nam.

Dự án thành cơng sẽ một trong những mơ hình điểm về chăn ni bò

sữa cơng nghiệp gắn liền với chế biến công nghiệp, chủ động tạo vùng

nguyên liệu ổn định và bền vững. Dự án dự kiến góp phần tăng ngân sách

khoảng 40 triệu USD/năm cho tỉnh Nghệ An.

1.1.5. Cơng tác vệ sinh, chăm sóc, phòng trị bệnh cho đàn bò sữa

Cơng tác vệ sinh của trại bao gồm các khâu: dọn phân, làm sạch nền

đất ở chuồng, rửa máng ăn, tắm chải cho đàn bò, xử lý rác thải, thức ăn dư

thừa, phun thuốc sát trùng cho chuồng trại và xung quanh, sát trùng các

phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú y, xử lý nguồn

nước….

Tuỳ vào điều kiện thời tiết, mùa vụ mà việc vệ sinh chăm sóc thay đổi

cho phù hợp:

- Dọn phân, làm sạch nền đất ở chuồng, tắm chải: mỗi ngày rửa và tắm

cho bò 3 lần/1 ngày vào mùa hè, mùa rét thì 2 - 3 ngày tắm 1 lần. Máng ăn có

máy đi dọn cỏ 1 ngày 3 - 4 lần, vào đầu buổi sáng máy đi thu dọn và bỏ hết

thức ăn dư thừa.

- Sát trùng: Với chuồng trại thì có chế độ phun thuốc sát trùng định kỳ và

không định kỳ. Trong chuồng sử dụng dung dịch cồn Iod 10% để phun thuốc

sát trùng định kỳ một tuần một lần. Bên ngoài phun thuốc sát trùng một tháng

một lần, khi có dịch mỗi ngày phun 1 lần vào buổi sáng trong ngày.

Các phương tiện vận chuyển ra vào trại đều được phun thuốc sát trùng. Để

vào khu chăn nuôi phải đi thay quần áo bảo hộ và qua một vũng dung dịch sát

trùng.

- Nguồn nước uống: Nước sử dụng cho bò uống được lấy từ giếng

khoan, sau đó qua hệ thống lọc, rồi theo hệ thống ống dẫn đến từng máng

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



9



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



uống trong chuồng, nguồn nước ở đây đã được sở Tài nguyên và Môi trường

kiểm tra và cấp giấy phép đạt tiêu chuẩn chăn nuôi.

- Xử lý phân thải: Phân thải và nước tiểu của bò được thu lại và cho vào

hệ thống xử lý phân thô, phân tiếp tục được chuyển ra khỏi trại và được đưa

đến nhà máy xử lý phân ở khu khác.

* Phòng bệnh bằng vacxin

Trại đã áp dụng một chương trình vacxin cụ thể và chặt chẽ đối với

từng loại bò. Cụ thể việc phòng bệnh bằng vacxin được thể hiện qua bảng

dưới đây :

Bảng 1.1. : Lịch phòng bệnh bằng vacxin cho đàn bò sữa của trại

Cách dùng

Giai đoạn



5 tuần tuổi

3 tháng tuổi



4 tháng tuổi



Loại vacxin

Aftovax

BIVALENT

Tụ huyết trùng

chủng P52 +

Botulism

Aftovax

BIVALENT

+

Botulism



5 tháng tuổi



Covexin 10

CattleMaster4

L5



6 tháng tuổi



Aftovax

BIVALENT

Covexin 10

CattleMaster4

L5



7 tháng tuổi



Rb – 51



SVTT: Đặng Hồng Chinh



Phòng bệnh



Liều

Đường

(ml/con) đưa vacxin



LMLM



2



Tiêm dưới

da



Tụ huyết trùng +

2

Phòng nhiễm độc thịt



Tiêm bắp



LMLM

+

Phòng

2

nhiễm độc thịt



Tiêm dưới

da



Do VK Clostridium +

VK Rhinotracheitis +

+

VR BVD + VR

+

2

Parainfluenza P13 + 5

chủng lepto

LMLM + Do VK

Clostridium + VK

+

Rhinotracheitis + VR

+

2

BVD

+

VR

+

Parainfluenza P13 + 5

chủng lepto

Xảy thai truyền nhiễm 2



10



Tiêm bắp



Tiêm dưới

da+

tiêm

bắp

Tiêm bắp



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



Rabisin



10 tháng tuổi



Tụ huyết trùng

Tụ Huyết Trùng +

chủng P52 +

2

Phòng nhiễm độc thịt

Botulism



Tiêm bắp



12 tháng tuổi



Rb - 51



Tiêm bắp



13 tháng tuổi



Covexin 10

CattleMaster4

L5



14 tháng tuổi



Botulism

Anthrax



Bệnh dại



Xảy thai truyền nhiễm



2



Tiêm dưới

da



9 tháng tuổi



2



Do VK Clostridium +

+ VK Rhinotracheitis +

Tiêm dưới

+ VR BVD + VR 2

da+tiêm

Parainfluenza P13 + 5

bắp

chủng lepto

Phòng nhiễm độc thịt

+

Tiêm dưới

+ bệnh do VK Bacillus 2

da

anthracis

( Nguồn từ thú y trại)



Qua thời gian thực tập tại trại, chúng tôi thấy trại đã quan tâm tới công tác vệ

sinh, vệ sinh và sát trùng xung quanh sạch sẽ, cống và rãnh thốt nước thải

được khơi thơng định kỳ, có khu chứa phân riêng biệt. Công tác quản lý ra

vào khu chăn nuôi rất chặt chẽ. Tuy nhiên chuột và ruồi vẫn còn nhiều, chúng

là vật chủ trung gian và gieo rắc mầm bệnh.

2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở trong nước

Hơn 10 năm trở lại đây, phong trào chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam đang

phát triển mạnh về số lượng ở trang trại cũng như trong nơng hộ. Tình hình

dịch bệnh cũng khơng ngừng tăng lên, đặc biệt là các bệnh sản khoa một số

tác giả như Nguyễn Văn Thanh (1999), Phạm Trung Kiên (2012).... đã có

những nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản và bệnh sinh sản của bò nói chung và

bệnh viêm tử cung ở bò sữa nói riêng.

Theo Nguyễn Văn Thanh (1999), bệnh Viêm tử cung ở đại gia súc nói

chung và bò sữa nói riêng là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện

dưới nhiều thể khác nhau. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới

rối loạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái.

Nguyễn Văn Thanh, Trần Tiến Dũng (2007) đã tiến hành khảo sát tỷ lệ

mắc và thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa ni tại một số

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



11



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



địa phương ngoại thành Hà Nội và Bắc Ninh cho biết : tỷ lệ mắc bệnh viêm tử

cung ở đàn bò sữa ni tại một số địa phương thuộc huyện Gia lâm thành phố

Hà Nội và huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh là khá cao trung bình 21,32% có địa

phương lên tới 25,71%.

Nguyễn Văn Thanh và cs (2007) nghiên cứu về thành phần các loài vi

khuẩn trong dịch viêm tử cung âm đạo của bò sữa và tính mẫn cảm với một số

thuốc kháng sinh thơng dụng cho biết : trong dịch tử cung âm đạo bò khoẻ

mạnh sau đẻ 12-24 giờ có 88,89% số mẫu bệnh phẩm phát hiện thấy E.coli;

83,33% có Staphylococcus; 77,78% có Streptococus và 55,56% phát hiện thấy

Salmonella. Khi tử cung âm đạo bị viêm, 100% số mẫu bệnh phẩm xuất hiện

các vi khuẩn kể trên ngoài ra con xuất hiện thêm 02 loại vi khuẩn

Pseudomonas với tỷ lệ 22,27% và Corynebacterium với tỷ lệ 18,18%. Các

loại vi khuẩn kể trên mẫn cảm không cao với các thuốc thú y thông dụng.

Phạm Trung Kiên (2012) nghiên cứu thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn

bò sữa ni tại khu vực đồng bằng sông Hồng thông báo: tỷ lệ mắc bệnh viêm tử

cung ở đàn bò sữa ni tại một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông

Hồng là khá cao, trung bình 22,88% giao động từ 20,52% đến 26,07%. Bệnh

thường mắc ở những bò đẻ lứa đầu và những bò đã đẻ nhiều lứa. Tỷ lệ mắc bệnh

ở các mùa là khác nhau, cao nhất vào mùa hè 29,46% và thấp nhất là mùa thu

17,28 %, tỷ lệ bệnh ở giai đoạn sau khi sinh cao hơn nhiều so với giai đoạn chờ phối.

3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở nước ngồi

Chăn ni bò là một nghề chiếm tỷ trọng cao trong ngành chăn nuôi ở

nhiều nước trên thế giới. Nhằm khai thác hiệu quả giá trị dinh dưỡng và sinh

khối của loài, các nước phát triển trên thế giới không ngừng đầu tư cải tạo

giống và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng

sinh sản của chúng. Trong đó các vấn đề về bệnh sinh sản của gia súc cũng là

chủ đề được ngành thú y đặc biệt quan tâm. Hàng năm các chương trình đào

tạo quốc tế về sinh sản gia súc được tổ chức tại một số Trường Đại học thú y,

Trung tâm Khoa học quốc tế về Nông nghiệp của các nước có ngành chăn

SVTT: Đặng Hồng Chinh



12



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



ni phát triển như Pháp, Thủy Điển, Úc, Ai Cập…. Nội dung của các khóa

đào tạo chủ yếu về nghiên cứu phương pháp chẩn đoán phát hiện và điều trị

các bệnh sinh sản, vì hàng năm các bệnh sinh sản đã gây tổn thất rất lớn trong

chăn ni nói chung và chăn ni bò sữa nói riêng.

Trong các bệnh của cơ quan sinh dục cái thì bệnh ở tử cung đã được

nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Ở các nước có ngành chăn ni bò phát

triển (Pháp, Úc, Hà Lan, Mỹ, Canada), để hạn chế các bệnh sản khoa, nhiều

cơng trình nghiên cứu đã tập trung giải quyết đã có kết quả cao trong việc

khống chế các bệnh sản khoa (Andriamarga S, Stephan J và Thibier M, 1984)

đã nghiên cứu vấn đề dịch tễ với sự quan tâm đặc biệt đến chu kỳ tính để hạn

chế bệnh viêm tử cung ở bò sữa. Các tác giả Chuffaux SY, Recorbet Y, Baht P,

Crespean F và Thibier M, (1987) đã tiến hành sinh thiết niêm mạc tử cung bò

bị bệnh sản khoa để tìm hiểu quá trình sinh bệnh cho biết: hậu quả của thụ

tinh nhân tạo thô bạo, sai nguyên tắc đã làm tăng tỷ lệ bệnh viêm tử cung

trong chăn nuôi bò sữa.

4. Cơ sở lý luận

4.1. Đặc điểm sinh sản của bò sữa

4.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục của bò sữa

- Giống như các lồi gia súc khác, đường sinh dục bò sữa được chia

thành 2 bộ phận: bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong.

+) Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: Âm mơn, âm vật, tiền đình.

+) Bộ phận sinh dục bên trong gồm: Âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống

dẫn trứng.

a, Bộ phận sinh dục bên ngồi

+ Âm mơn (Vulva) hay còn gọi là âm hộ: Nằm dưới hậu mơn, bên ngồi có 2

mơi (Labia vulvae) bờ trên hai mơi có nhiều tuyến tiết chất nhờn trắng và mồ

hôi.

+ Âm vật (Clit): Giống như dương vật thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng,

trên âm vật có lớp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gập xuống dưới.

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



13



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



+ Tiền đình (Vestibum vaginae sinus inogenitalis): là giới hạn giữa âm môn và

âm đạo. Trong tiền đình có màng trinh, trước là âm đạo. Màng trinh gồm các

sợi cơ đàn hồỉ ở giữa và do 2 lớp niêm mạc giáp lại thành một nếp. Tiền đình

có một số tuyến xếp chéo hướng về âm đạo.

b, Bộ phận sinh dục bên trong

*Âm đạo (Vagina)

Là một cái ống tròn, trước âm đạo có cổ tử cung, phía sau là tiền đình, có

màng trinh (Hymen). Cấu tạo của âm đạo chia thành 3 lớp:

- Lớp liên kết ở ngồi.

- Lớp cơ trơn: Có cơ dọc bên ngồi, cơ vòng bên trong, các cơ này liên kết

với các cơ ở cổ tử cung.

- Lớp niêm mạc âm đạo: Có nhiều tế bào thượng bì, gấp nếp dọc hai bên

nhiều hơn ở chính giữa.

Âm đạo của bò Việt Nam dài khoảng 22-25cm (Hoàng Kim Giao và Nguyễn

Thanh Dương, 1997), (Trần Tiến Dũng và Cs, 2002), âm đạo là cơ quan giao

cấu kích thích phóng tinh ra, tinh trùng di chuyển vào tử cung nhờ các dịch

nhầy ở cổ tử cung.

Âm đạo còn là cái ống để thai đi ra ngồi khi sinh đẻ và cũng là ống thải các

chất dịch trong tử cung ra.

* Tử cung (Uterus)

Tử cung bò thuộc nhóm tử cung hai sừng (Uterus bicorius), nó có hình sừng

cừu gồm một thân tử cung ngắn, hai sừng tử cung dài và cùng một cổ tử cung.

Bò cái tơ toàn bộ tử cung nằm trong xoang chậu, khi đã đẻ nhiều lần thì tử

cung nằm trong xoang bụng, tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, hợp tử phát

triển được là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc tử

cung cung cấp. Giai đoạn đầu hợp tử sống được một phần nhờ vào nỗn

hồng. Sau này giữa mẹ và thai hình thành hệ thống nhau thai. Niêm mạc tử

cung và dịch tử cung giữ vai trò quan trọng trong sinh sản và vận chuyển tinh

trùng và trứng, tham gia điều hoà chức năng của thể vàng, đảm nhận sự làm

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



14



Lớp: Thú y K2



Báo cáo thực tập tốt nghiệp



GVHD: Nguyễn Đình Tường



tổ, mang thai và đẻ. Tử cung của bò gồm 3 phần từ ngoài vào trong là: cổ tử

cung, thân tử cung và sừng tử cung.

- Cổ tử cung: Là phần ngồi cùng của tử cung, cổ tử cung bò hình tròn thơng

với âm đạo, dài khoảng 6 - 10 cm, đường kính từ 3 - 6 cm. Cổ tử cung ln

ln đóng, chỉ mở khi nào hưng phấn cao độ hoặc khi sinh đẻ hoặc khi bị bệnh

lý. Niêm mạc cổ tử cung gấp nếp nhiều lần làm cho thành cổ tử cung không

đồng đều tạo thành những thuỳ gọi là thuỳ hoa nở, có từ 3 - 5 lần hoa nở. Thuỳ

ngồi cùng nhơ vào âm đạo khoảng 0,5 - 1,0cm nhìn bên ngồi tựa như hoa cúc

dại. Có sự khác biệt về cổ tử cung giữa bò già và bò trẻ, giữa bò đẻ ít và bò đẻ

nhiều, giữa các giống bò, giữa bò đẻ bình thường và bò đẻ khơng bình thường.

- Thân tử cung: Ở bò thân tử cung rất ngắn, chỉ khoảng từ 2 - 4 cm, thân tử

cung nối giữa cổ tử cung với sừng tử cung.

- Sừng tử cung: Bò cái có 2 sừng tử cung gồm sừng trái và sừng phải, độ dài

của sừng khoảng 20 - 25cm, đường kính phần dưới sừng tử cung 3 - 4cm,

phần ngọn chỉ khoảng 0,5 - 0,8cm. Hai sừng tử cung của bò cái phần gắn với

thân tử cung dính lại với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng, phía trên

của tử cung gọi là rãnh giữa tử cung dài 3 - 5cm, rãnh này dễ dàng nhận thấy

khi khám qua trực tràng để chẩn đốn gia súc có thai và bệnh lý ở tử cung.

*) Buồng trứng (Ovarium)

Buồng trứng của bò gồm một đôi, treo ở cạnh trước dây chằng rộng, gần mút

sừng tử cung và nằm trong xoang chậu, hình dáng buồng trứng rất đa dạng,

nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc ơ van dẹt, khơng có lõm rụng, khi mới

sinh buồng trứng có khối lượng khoảng 0,3 gram, khi trưởng thành có khối

lượng 10 - 20 gram, kích thước dài 1 - 2 cm, rộng 1 - 1,5 cm (Nguyễn Tấn

Anh và Cs, 1992). Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng và tiết

ra các hormon. Cấu tạo của buồng trứng gồm lớp trong và lớp vỏ, được bao

bọc bởi lớp biểu mô mầm. Lớp trong có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết.

Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 nỗn bào ở các giai đoạn phát triển

khác nhau, tầng ngồi là những nỗn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng

SVTT: Đặng Hoàng Chinh



15



Lớp: Thú y K2



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×