Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



- Lựa chọn giới tính trước sinh là các thực hành nhằm tăng xác suất thụ

thai, hoặc các biện pháp đảm bảo bào thai chỉ mang giới tính theo mong muốn

đã xác định trước để sinh ra một đứa trẻ mang giới tính nam hoặc nữ theo mong

đợi của gia đình.

1.2. Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh hiện nay

Tư năm 2006 đến nay, mức sinh của Việt Nam luôn ở dưới mức thay thế.

Số lượng trẻ sinh ra giảm nhưng chỉ giảm trẻ em gái. Suốt hai thập kỷ (19791999), tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam mỗi năm chỉ tăng trung bình 0,1

điểm phần trăm, nhưng tư năm 2006 đến nay, tỷ số này luôn tăng mạnh. Có năm

tăng tới một điểm phần trăm, tức là gấp 10 lần so với trước đây. Hiện tỷ số này

đã cao tới mức nghiêm trọng.

1.2.1 Tỉnh Sơn La

- Tỷ số giới tính khi sinh theo niên giám thông kê tỉnh:

Năm 2010 là 101,02/100 ( thành thị 103,39/100, nông thôn 100,60/100);

Năm 2011 là 101,00/100 ( thành thị 101/100, nông thôn 100,90/100);

Năm 2012 là 101,02/100 ( thành thị 1031,07, nông thôn 101,15/100);

Năm 2013 là 101,33/100 ( thành thị 100,73/100, nông thôn 101,42/100);

Năm 2014 là 101,08/100 ( thành thị 105,99/100, nơng thơn 100,32/100);

- Tỷ số giới tính khi sinh theo niên giám thống kê chuyên ngành Tổng cục

Dân số - KHHGĐ:

Năm 2010 là 109,8/100;

Năm 2011 là 103,2/100;

Năm 2012 là 108,8/100;

Năm 2013 là 114,4/100;

Năm 2014 là 117,5/100;

Năm 2015 là 117,5/100.

1.2.2. Huyện Mai Sơn

Theo số liệu báo cáo thống kê chuyên ngành Dân số - KHHGĐ của Trung

tâm Dân số - KHHGĐ huyện, tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh biến động

phức tạp có chiều hướng gia tăng theo tưng năm cụ thể:[2]



6



Năm 2010 là 100,4/100;

Năm 2011 là 109,9/100;

Năm 2012 là 106,0/100;

Năm 2013 là 113,7/100;

Năm 2014 là 116,9/100;

Năm 2015 là 123,9/100.

1.3. Những nguyên nhân dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh

Có 3 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính

khi sinh ở Việt Nam, đó là:

- Nguyên nhân thứ nhất: Nguyên nhân trực tiếp gây mất cân bằng giới

tính khi sinh.

Lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện lựa chọn giới

tính thai nhi trước sinh là cơng cụ để thỏa mãn khao khát có con trai. Hiện nay

có nhiều cặp vợ chồng đã áp dụng một số kỹ thuật trước lúc có thai (chế độ ăn

uống, chọn ngày phóng noãn…); trong lúc thụ thai (chọn thời điểm phóng

noãn để thụ thai hy vọng có xác suất sinh con trai cao hơn, lọc rửa tinh trùng để

chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y,…); hoặc sau khi đã có thai (sử dụng siêu

âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối,…) để chẩn đốn giới tính thai nhi và nạo phá

thai nhằm loại bỏ thai nhi gái.

- Nguyên nhân thứ hai: Nguyên nhân gốc rễ của lựa chọn giới tính trước

sinh là.

Nguyên nhân gốc rễ của lựa chọn giới tính thai nhi trước sinh là bất bình

đẳng giới, ưa thích con trai, coi thường giá trị của phụ nữ. Tâm lý truyền thống

Á Đơng ưa thích con trai xuất phát tư hệ thống tư tưởng gia trưởng - “trọng

nam khinh nữ”, thể hiện qua nhiều hình thức bao gồm cả chế đợ phụ hệ đã

đặtnam giới vào vị trí thống lĩnh, và đẩy phụ nữ và trẻ em gái vào vị trí phụ

thuộc, có giá trị và địa vị thấp kém trong gia đình, cợng đồng và xã hợi. Nhiều

vùng miền ở Việt Nam vẫn duy trì chế đợ phụ hệ. Hầu hết phụ nữ chuyển về

sống ở nhà chồng sau khi kết hôn trong khi con trai vẫn ở cùng với bố mẹ và

chịu trách nhiệm chăm sóc họ lúc về già. Vì con trai phải phụng dưỡng cha mẹ



7



già nên họ được thưa kế phần lớn tài sản của gia đình trong khi con gái chỉ

được phần khơng đáng kể. Quan niệm con gái là “con người ta”, coi con gái

là một thứ nghĩa vụ và gánh nặng cho gia đình. Đây là những định kiến ăn sâu

bám rễ trong cuộc sống văn hóa, xã hội của nhiều quốc gia châu Á, trong đó

có Việt Nam.

Hầu hết các gia đình ở Việt Nam, quan niệm có con trai mới được xem

là đã có con - “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, không có con trai là tuyệt

tự. Khi cha mẹ chết, con trai được đứng trước, con gái đứng sau, chỉ có cháu

trai mới được bê bát hương ông, bà; con trai mới được vào nơi thờ tự, đóng

góp giỗ tổ tiên[6].

Hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi chưa phát triển, nhất là ở các

khu vực nông thôn, nơi có tới 70 dân số đang sinh sống. Người cao tuổi hầu hết

không có lương hưu, hay trợ cấp xã hội, họ cần sự chăm sóc về y tế. Tất cả phụ

thuộc vào khả năng phụng dưỡng của con cái, mà theo quan niệm của gia đình

truyền thống, trách nhiệm đó chủ ́u tḥc về con trai. Người già vì thế sẽ cảm

thấy lo lắng cho tương lai và bất an khi về già nếu không có con trai.

Tất cả những yếu tố nêu trên đã góp phần tạo nên sự ưa chuộng và nhu

cầu có con trai rất lớn, và đây chính là nguyên nhân gốc rễ của hành vi lựa chọn

giới tính thai nhi. Cùng với sự ra đời của công nghệ siêu âm, và các kỹ thuật tiến

bộ của y học đã tạo cơ hội cho việc lạm dụng công nghệ nhằm lựa chọn giới tính

thai nhi trước khi sinh đã tạo nên hiện tượng MCBGTKS ở Việt Nam.

- Nguyên nhân thứ ba: Nguyên nhân phụ trợ làm tăng TSGT khi sinh

Qui mô gia đình nhỏ cũng góp phần tạo áp lực cho việc lựa chọn giới tính

thai nhi trước sinh. Mong muốn có con trai nhưng vẫn phải chịu áp lực giảm

sinh (mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1-2 con), đã khiến các cặp vợ chồng tìm kiếm

và sử dụng các dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh. Những tiến bợ trong y học,

nhất là các kỹ thuật lựa chọn giới tính trước sinh đã trở thành cơng cụ để thực

hiện mong muốn có con trai như một cứu cánh đối với một số cặp vợ chồng để

đáp ứng được cả 2 mục tiêu.



8



Ngồi ra, những chính sách thúc đẩy bình đẳng giới và các dịch vụ an

sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam vẫn chưa phát triển nên tâm lý muốn

có con trai để chăm sóc cha mẹ lúc về già cũng góp phần thúc đẩy một số phụ

nữ chủ đợng tìm kiếm các dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh.

1.4. Hậu quả của lựa chọn giới tính

- Thưa nam thiếu nữ trong tương lai. Theo các ước tính nhân khẩu học,

nếu tỷ số GTKS tiếp tục tăng ở tốc độ hiện nay, đến năm 2050, dân số Việt Nam

sẽ thưa tư 2,3 đến 4,3 triệu nam giới ở đợ tuổi dưới 50.

-Tình trạng dư thưa nam giới, thiếu phụ nữ khiến nhiều nam giới sẽ khó

tìm được bạn đời khi đến tuổi kết hơn. Mợt bộ phận nam giới có thể sẽ phải kết

hôn muộn và nhiều người trong số họ, đặc biệt là nam giới yếu thế - những

người nghèo và học vấn thấp, không có khả năng kết hôn. Sự “khủng hoảng về

hôn nhân” này có thể để lại một loạt hậu quả cả về mặt nhân khẩu học và mặt xã

hội, những thay đổi trong hơn nhân và gia đình.

- Số người di cư trong nước và ra nước ngồi vì mục đích hơn nhân cũng

có thể tăng lên, làm cho xã hội càng mất ổn định hơn. Điều này sẽ gây ra những

hậu quả trầm trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và cuộc sống

của phụ nữ, nam giới, gia đình và cả cợng đồng.

- Nhiều phụ nữ có thể phải kết hôn sớm hơn, tỷ lệ ly hôn và tái hôn của

phụ nữ sẽ tăng cao. Bên cạnh đó là sự quan ngại về bạo hành giới, buôn bán phụ

nữ, cơ sở mại dâm có thể gia tăng để phục vụ cho nhu cầu tình dục khi mà xã

hội có nhiều nam giới độc thân.

- Lựa chọn giới tính khi sinh khơng những khơng cải thiện được vị thế của

người phụ nữ mà thậm chí còn làm gia tăng thêm sự bất bình đẳng giới và bạo

hành đối với phụ nữ và bé gái.

Bức tranh hiện tại của Trung Quốc, Ấn Độ… là một bài học cho Việt

Nam. Trung Quốc hiện thiếu 67 triệu phụ nữ; còn Ấn Đợ gần đây nổi lên nhiều

hành vi man rợ về bạo lực giới, bạo lực tình dục, đang thiếu 42 triệu phụ nữ.



9



Nhiều chuyên gia quốc tế tưng cho rằng tỷ số giới tính khi sinh tăng ở

những nước có nền văn hóa tương đồng với Việt Nam (ưa thích con trai hơn con

gái), nhưng chưa có nước nào lại có tốc độ gia tăng nhanh như Việt Nam.

1.5 Các quy định của pháp luật về hành vi lựa chọn giới tính khi sinh

- Pháp lệnh số 06/2003/PL-UBTVQH ngày 09 tháng 01 năm 2003 của ủy

ban thường vụ Quốc hội về dân số, khoản 2 điều 7 nêu rõ nghiêm cấm các hành

vi lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức.

- Nghị định số 104/2003/NĐ-CP/2003/NĐ-CP, ngày 16 tháng 9 năm 2003

của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh

Dân số quy định:[9]

Điều 9. Nghiêm cấm các hành vi cản trở, cưỡng bức thực hiện kế hoạch

hoá gia đình, bao gồm:

1. Đe dọa, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; xâm phạm thân thể người sử

dụng biện pháp tránh thai, người sinh toàn con trai hoặc toàn con gái.

2. Ép buộc, áp đặt sử dụng biện pháp tránh thai, mang thai, sinh sớm, sinh

dày, sinh nhiều con, sinh con trai, sinh con gái.

3. Gây khó khăn cho người tự nguyện sử dụng biện pháp tránh thai.

Điều 10. Nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi, bao gồm:

1. Tuyên truyền, phổ biến phương pháp tạo giới tính thai nhi dưới các

hình thức: tổ chức nói chuyện, viết, dịch, nhân bản các loại sách, báo, tài liệu,

tranh, ảnh, ghi hình, ghi âm; tàng trữ, lưu truyền tài liệu, phương tiện và các

hình thức tuyên truyền, phổ biến khác về phương pháp tạo giới tính thai nhi.

2. Chẩn đốn để lựa chọn giới tính thai nhi bằng các biện pháp: xác định

qua triệu chứng, bắt mạch; xét nghiệm máu, gen, nước ối, tế bào; siêu âm, ....

3. Loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính bằng các biện pháp phá thai,

cung cấp, sử dụng các loại hóa chất, thuốc và các biện pháp khác.

- Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của

Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 tại mục b khoản 7 điều 40 quy định:[10] “Lựa

chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức hoặc xúi giục, ép ḅc người khác

phá thai vì giới tính của thai nhi” là vi phạm pháp luật



10



- Nghị định của chính phủ số 114/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm

2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em [03] quy định tại.

Điều 9. Hành vi lựa chọn giới tính thai nhi

1. Phạt tiền tư 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các

hành vi sau đây:

a) Bắt mạch, xác định qua triệu chứng, bói toán hoặc bằng các hình thức

khác khơng được pháp luật cho phép để xác định giới tính thai nhi mà các hành

vi này có tính chất trục lợi;

b) Nói chuyện, viết, dịch, nhân bản các loại sách, báo, tài liệu, tranh, ảnh,

ghi âm, ghi hình hoặc các hình thức khác khơng được pháp luật cho phép để

tuyên truyền, phổ biến phương pháp tạo giới tính thai nhi.

2. Phạt tiền tư 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các

hành vi sau đây:

a) Siêu âm, xét nghiệm máu, gen, nước ối, tế bào hoặc các biện pháp khác

không được pháp luật cho phép để xác định giới tính thai nhi;

b) Cung cấp hoá chất, thuốc hoặc các biện pháp khác để loại bỏ thai nhi mà

biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính;

c) Nghiên cứu hoặc áp dụng phương pháp nhân tạo để tạo nên giới tính

thai nhi theo mong muốn;

d) Tàng trữ, lưu hành các loại tài liệu, phương tiện chứa đựng nợi dung về

phương pháp tạo giới tính thai nhi.

3. Phạt tiền tư 7.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các

hành vi sau đây:

a) Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực để ép buộc người mang thai phải loại

bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính;

b) Phá thai mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do

lựa chọn giới tính.

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề tư 01 tháng đến

03 tháng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi quy định tại điểm a và điểm



11



b khoản 2 Điều này; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề tư 03

tháng đến 06 tháng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi quy định tại điểm

b khoản 3 Điều này;

b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi quy

định tại điểm a và điểm b khoản 1, điểm d khoản 2, điểm a khoản 3 Điều này.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc tiêu huỷ các loại tài liệu, phương tiện chứa đựng nội dung về

phương pháp tạo giới tính thai nhi được sử dụng để thực hiện hành vi quy định

tại điểm a và điểm b khoản 1, điểm d khoản 2 Điều này.

- Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong

lĩnh vực Y tế trong đó có vi phạm hành chính về Dân số [11] (tạo giới tính, chẩn

đốn giới tính, loại bỏ thai nhi vì lý do giới tính) cụ thể:

Điều 33. Vi phạm quy định về sinh con theo phương pháp hỗ trợ sinh sản

1. Phạt tiền tư 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ

thông tin về tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho, nhận tinh trùng, phôi.

2. Phạt tiền tư 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong

các hành vi sau đây:

a) Thực hiện cho, nhận noãn; cho, nhận tinh trùng; cho, nhận phôi khi

không được phép theo quy định của pháp luật;

b) Không bảo đảm điều kiện thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy

định của pháp luật.

3. Phạt tiền tư 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong

các hành vi sau đây:

a) Thực hiện kỹ thuật mang thai hộ;

b) Thực hiện kỹ thuật sinh sản vơ tính;

c) Cấy tinh trùng, noãn, phơi giữa những người cùng dòng máu về trực hệ

và giữa những người khác giới có họ trong phạm vi ba đời.

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

Đình chỉ hoạt đợng trong thời hạn tư 06 tháng đến 12 tháng đối với hành

vi quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này.



12



- Thông tư số 07/2014/TT-BYT ngày 25/2/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế

quy định về quy tắc ứng xử của công chức, viên chức và người lao động làm

việc tại các cơ sở y tế làm việc tại các cơ sở cung cấp dịch vụ liên quan đến chẩn

đốn giới tính thai nhi, liên quan đến phá thai [12].

1.6. Tình trạng sinh con thứ 3 trở lên tại huyện Mai sơn và tỷ số giới

tính khi sinh trong lần sinh thứ 3 của các cặp vợ chồng

Cơ cấu dân số trẻ, số nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ cùng với tốc độ gia tăng

dân số cơ học hàng năm ở mức cao, góp phần làm tăng mức sinh. Đánh giá

trong cả giai đoạn thực hiện pháp lệnh dân số đến nay và các Chỉ thị Nghị quyết

của Đảng Nhà Nước các cấp, mức sinh tuy giảm nhưng chưa thực sự bền vững,

số sinh con thứ ba trở lên hàng năm biến động phức tạp có chiều hướng ngày

càng tăng.

Trong những năm gần đây, tình trạng sinh con thứ ba trở lên là mối quan

tâm của các ban ngành đoàn thể nhân dân toàn huyện. Xu hướng sinh con thứ ba

trở lên không chỉ tồn tại ở khu vực vùng sâu vùng xa như những năm trước, tỷ lệ

này này có xu hướng tăng ở các xã trung tâm trình đợ dân trí cao. Điều đặc biệt

hơn các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên phần lớn là các cặp vợ chồng đã

sinh 02 con một bề. Theo số liệu báo cáo thống kê chuyên ngành Dân số trung

tâm Dân số - KHHGĐ huyện Mai Sơn [2].

Năm 2012 tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 10,26%

Năm 2013 tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 7.56 %

Năm 2014 tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 7,16 %

Năm 2015 tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 10,66%

Năm 2016 tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 12,97%

Trong đó hàng năm tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên thuộc các

cặp vợ chồng đã sinh con một bề chiếm trên 85%. Thực tế này cho thấy tỷ lệ lựa

chọn giới tính ở các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên là rất phức tạp.

1.7. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn giới tính khi sinh

trong lần sinh thứ 3 của các cặp vợ chồng



13



Có thể nhận thấy, Việt Nam rất nỗ lực trong việc vận động cặp vợ chồng

không sinh con thứ 3 khơng lựa chọn giới tính thai nhi. Chúng ta đã đạt được

thành tựu trong việc giảm tốc độ gia tăng dân số, tuy nhiên vẫn còn tình trạng

các cặp vợ chồng sinh con thứ 3, đặc biệt là vấn đề lựa chọn giới tính thai nhi

trên cả nước nói chung, tỉnh huyện Mai Sơn nói riêng.

1.7.1.Yếu tố cá nhân

- Yếu tố nhân khẩu học

Các yếu tố nhân khẩu học liên quan đến việc sinh con thứ 3 trở lên và lựa

chọn giới tính thai nhi như tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp và điều kiện kinh

tế gia đình được đề cập đến trong khá nhiều trên báo đài.

Trong Thống kê thăm dò của cá nhân (2016) tại các xã thị trấn, cho thấy

trong tổng số bà mẹ sinh con thứ 3 trong năm phần lớn là con trai, dải đều trong

tồn huyện. kết quả cho thấy khơng riêng tưng đối tượng tưng vùng, miền, nghề

nghiệp và trình đợ dân trí.

- ́u tớ tâm lý cá nhân

́u tố tâm lý có ảnh hưởng sâu sắc đến việc sinh con thứ 3 trở lên tại Việt

Nam. Có nhiều yếu tố tâm lý đã và đang thúc đẩy những gia đình quyết tâm sinh

thêm con, những yếu tố tâm lý này không phải đột nhiên sinh ra, chúng vẫn tồn

tại trong xã hợi Việt Nam tư rất lâu. Ví dụ như tư tưởng trọng nam khinh nữ,

muốn có con trai để nối dõi tơng đường, tâm lý thích đơng con để gia đình có

thêm lao đợng hay về già có nơi nương tựa, và quan niệm rằng nếu đông con trai

thì sẽ được “nhờ cậy vào con cái lúc ốm đau, già ́u”, “đơng con, đơng của”[6].

Tâm lý ưa thích con trai khơng chỉ là vấn đề duy trì nòi giống gia đình mà

còn là vấn đề áp lực, uy tín và sự thưa nhận về đạo đức. Trong mợt bối cảnh xã

hội nơi mà hệ thống thân tộc vẫn đề cao nam giới hơn nữ giới, có thể là nguyên

nhân làm gia tăng áp lực buộc mọi người phải sinh bằng được con trai, do vậy

càng làm tăng sự ưa thích con trai.

Bên cạnh đó, các quan niệm sinh con vào “năm đẹp” cũng luôn tồn tại

trong tâm lý các cặp vợ chồng, họ sẵn sàng đẻ thêm con vào năm đẹp để “ có

lộc”, “tốt cho con”.

1.7.2.Yếu tố gia đình



14



Trong cộng đồng Việt Nam, những người già được con cháu và cợng đồng

tơn trọng, kính mến do vậy đối với những quyết định quan trọng trong cuộc

sống, vai trò của người lớn tuổi là rất lớn. Hiện nay đa số người già vẫn quan

niệm con cháu là lộc trời ban, nhà nào đông con cháu nhà đó càng có phúc.

Tại Việt Nam, hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi vẫn chưa phát

triển, nhất là ở những khu vực nông thôn, nơi có tới 70% dân số đang sinh sống.

Người cao tuổi hầu hết không có lương hưu, hay trợ cấp xã hội. Tất cả phụ thuộc

vào khả năng phụng dưỡng của con cái, mà theo quan niệm của gia đình truyền

thống, trách nhiệm đó chủ ́u tḥc về con trai. Chính vì vậy, người già luôn

cảm thấy lo lắng cho tương lai và mong muốn có con trai [6].

1.7.3.Yếu tố xã hội

- Phong tục tập quán

Việt Nam là một quốc gia nằm trong Châu Á mang nặng tư tưởng “ trọng

nam khinh nữ ” với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu đã thấm nhuần vào quan

niệm của người dân, thêm vào đó hàng ngàn năm sống trong giáo lý và những

phong tục tập quán thấm đẫm tư tưởng Nho giáo đề cao con trai, hạ thấp con gái

đã góp phần hình thành nên tâm lý “ưa thích con trai” và khát vọng phải có con

trai. Đó là nguyên nhân sâu xa tạo nên sức ép tâm lý đối với phụ nữ chỉ sinh con

gái. Tuy hiện nay chuẩn mực gia đình hai con được các gia đình chấp nhận, hầu

hết các cặp vợ chồng đều chỉ muốn có hai con nhưng trong đó phải có ít nhất

mợt con trai. Mọi người cho rằng con trai là rất quan trọng đối với các gia đình

và con trai có trách nhiệm tiếp nối dòng dõi, thờ cúng tổ tiên và chăm sóc cha

mẹ lúc về già. Sức ép nặng nề nhất được tác động tư bố mẹ chồng đặc biệt với

những người phụ nữ làm dâu trưởng hay con dâu đợc nhất trong gia đình, khơng

ít cha mẹ chồng trước khi qua đời vẫn một mực tiếc nuối vì chưa có cháu trai

“nối dõi tơng đường” nhiều người chồng cũng đứng về phía cha mẹ mình để gây

sức ép đối với vợ. Đòi hỏi vợ phải sinh con trai, với sức ép của dư luận xã hợi,

sự dè bỉu, kích bác những cặp vợ chồng chỉ có con gái. Bên cạnh đó chế độ an

sinh xã hội của nước ta chưa tốt, người già vẫn phải trông cậy vào sự nuôi

dưỡng của các con cộng với tư tưởng người Á Đông là phải ở cùng con trai với



15



suy nghĩ con trai có trách nhiệm nhiều hơn con gái trong việc phụ dưỡng chăm

sóc bố mẹ lúc về già và lo liệu ma chay, thờ cúng khi bố mẹ chết[6]..

- Chính sách dân sớ

Chính sách sinh thấp và kéo dài. Thực hiện Pháp lệnh dân số đã đạt được

thành công hết sức tốt đẹp trong việc giảm sinh. Ở một số quốc gia Đông Á, việc

ban hành nghiêm ngặt chính sách quy mơ gia đình đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới

việc giảm mức sinh. Ở Việt Nam chính sách gia đình quy mơ nhỏ và chương trình

KHHGĐ trong những năm 1980-1990 đã khiến quy mơ gia đình nhỏ được chấp

nhận rợng rãi như mợt ch̉n mực và thực sự ảnh hưởng đến hành vi sinh đẻ của

người dân ở các địa phương và các vùng, miền khác nhau. Quy mơ gia đình nhỏ

chỉ có 1 đến 2 con cũng chính là lý do dẫn đến lựa chọn giới tính khi sinh.

1.7.4. Yếu tố dịch vụ y tế

Lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện lựa chọn giới

tính như: áp dụng ngay tư lúc có thai (chế độ ăn uống, chọn ngày phóng noãn);

trong lúc thụ thai (chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc

rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y…) hoặc khi đã có thai

(sử dụng siêu âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối…) để chẩn đốn giới tính, nếu là

thai trai thì họ để lại, nếu thai gái phá đi….



CHƯƠNG 2



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×