Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
7 Các hiệp định chính của Tố chức Thương mại Thế Giới (WTO)

7 Các hiệp định chính của Tố chức Thương mại Thế Giới (WTO)

Tải bản đầy đủ - 0trang

chứ khơng chỉ điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước đó.

Tất cả các thành viên của WTO đều tham gia GATS. Các nguyên tắc cơ bản của

WTO về đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia cũng đều áp dụng với GATS.

GATS chia ra bốn phương thức cung cấp dịch vụ mang tính thương mại quốc tế:

• Cung cấp qua biên giới: việc cung cấp dịch vụ được tiến hành từ lãnh thổ

của một nước này sang lãnh thổ của một nước khác. Ví dụ: Gọi điện thoại

quốc tế, khám bệnh từ xa trong đó bệnh nhân và bác sĩ khám ngồi ở hai

nước khác nhau.

• Tiêu dùng ngồi lãnh thổ: người sử dụng dịch vụ mang quốc tịch một nước

đi đến một nước khác và sử dụng dịch vụ ở nước đó. Ví dụ: Sửa chữa tàu

biển, Lữ hành, Du học, chữa bệnh ở nước ngồi.

• Hiện diện thương mại: người cung cấp dịch vụ mang quốc tịch một nước đi

đến một nước khác, lập ra một pháp nhân và cung cấp dịch vụ ở nước đó. Ví

dụ: một ngân hàng thương mại mở một chi nhánh ở nước ngồi.

• Hiện diện thể nhân: người cung cấp dịch vụ là thể nhân mang quốc tịch một

nước đi đến một nước khác và cung cấp dịch vụ ở nước đó. Ví dụ: Một giáo

sư được mời sang một trường đại học ở nước ngồi để giảng bài.

1.7.3 Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí

tuệ (TRIPS)

-Hiệp định TRIPS được thiết lập với ý nghĩa là một phần của Những Thoả thuận

Thương mại Đa phương trong vòng Đàm phán Uruguay trong khn khổ Thỏa

thuận chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Đây là lần đầu tiên các khía

cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại quốc tế được

đàm phán trong khuôn khổ của GATT. Kết quả của các cuộc đàm phán đó được thể

hiện trong Thỏa thuận Thiết lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hiệp định

TRIPS là Phụ lục 1C của Thỏa thuận Thiết lập Tổ chức WTO. Hiệp định có hiệu

lực bắt buộc đối với tất cả các Thành viên WTO, được thông qua tại Marrakesh

ngày 15 tháng 4 năm 1994 và có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 1995. Hiệp định là

một trong những trụ cột quan trọng nhất của WTO và bảo hộ sở hữu trí tuệ trở

thành một phần khơng thể tách rời trong hệ thống thương mại đa phương của WTO.



17



-Hiệp định TRIPS: Thỏa thuận đa phương toàn diện nhất về sở hữu trí tuệ cho đến

nay

• Thứ nhất, Hiệp định TRIPS là kết quả của sự kết hợp những điều ước quốc

tế quan trọng nhất trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Những điều ước quốc tế này

là Cơng ước Paris, Công ước Bern, Công ước Rome, Công ước Washington.

Quy định của những điều ước quốc tế này có hiệu lực bắt buộc thậm chí đối

với những quốc gia chưa phê chuẩn điều ước, ngoại trừ Cơng ước Rome có

hiệu lực bắt buộc với những nước đã là thành viên của Cơng ước.

• Thứ hai, Hiệp định TRIPS thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu đối với bảo hộ

quyền sở hữu trí tuệ cho tất cả các Thành viên WTO bất kể mức độ phát

triển. Đối với mỗi đối tượng sở hữu trí tuệ, Hiệp định TRIPS thiết lập những

tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu mà các nước thành viên phải tuân thủ. Nội dung

chính của những tiêu chuẩn này là đối tượng được bảo hộ, đối tượng không

được bảo hộ, quyền (bao gồm thời hạn bảo hộ tối thiểu), những trường hợp

ngoại lệ của những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu. Những tiêu chuẩn này được

thể hiện trong Hiệp định TRIPS dưới hai dạng. Trước hết, Hiệp định TRIPS

đòi hỏi các Thành viên WTO tuân thủ những quy định cơ bản, quan trọng

của Công ước Paris và Công ước Berne đã được chuyển tải vào Hiệp định

TRIPS. Hơn nữa, Hiệp định TRIPS quy định thêm một số nghĩa vụ cho các

Thành viên WTO mà những nghĩa vụ này không quy định trong Cơng ước

Paris và Cơng ước Berne.

• Thứ ba, Hiệp định TRIPS trao cho các Thành viên WTO quyền tự quyết nhất

định. Bên cạnh những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu, Hiệp định TRIPS dành

quyền tự quyết cho các Thành viên trong một số vấn đề nhằm giúp các nước

thiết lập tiêu chuẩn quốc gia về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo chính sách

của các nước này trên cơ sở các quy định tuỳ nghi (trong tiếng Anh là

flexible provisions).

-Hiệp định TRIPS: Mục tiêu cơ bản nhất là thúc đẩy tự do trong thương mại quốc tế

• Phù hợp với mục tiêu của WTO, mục tiêu của Hiệp định TRIPS là thúc đẩy

tự do trong thương mại quốc tế bằng cách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đồng

thời ngăn chặn các quốc gia thành viên sử dụng quyền sở hữu trí tuệ như

những rào cản trong thương mại

18



• Mục tiêu này nên được đặt trong mối quan hệ với Điều 7 và Điều 8 của

Hiệp định TRIPS. Theo đó, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải góp

phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, chuyển giao và phổ biến công nghệ, đem

lại lợi ích chung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức cơng nghệ,

đem lại lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế, tạo ra sự cân bằng giữa quyền và

nghĩa vụ (Điều 7). Các Thành viên WTO được phép áp dụng các biện pháp

bảo vệ sức khỏe cộng đồng cũng như những lợi ích cơng cộng khác và được

ngăn chặn lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ hoặc những hành vi cản trở thương

mại bất hợp lý hoặc ảnh hưởng xấu đến chuyển giao công nghệ quốc tế

(Điều 8).

1.7.4 Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMS)

-Cùng với quá trình phát triển của thương mại thế giới, dòng lưu chuyển vốn đầu tư

cũng tăng không ngừng, thực tế đã vượt xa tốc độ tăng trưởng thương mại giữa các

nước. Cho đến nay, 1/3 thương mại trên thế giới là trao đổi giữa các cơng ty có liên

hệ với nhau về sở hữu, hay nói một cách khác, 1/3 thương mại thế giới ngày nay

gắn liền với đầu tư. Cuối thập niên 40 khi xây dựng nên hệ thống thương mại đa

biên, người ta cũng nghĩ đến cơ chế điều tiết đầu tư trên phạm vi toàn cầu. Tuy

nhiên ý tưởng trên khi đó chưa thực hiện được. Cho đến tận Vòng đàm phán

Uruguay thì vấn đề đầu tư mới được đề cập như là vấn đề riêng trong WTO.

-Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh các vấn

đề về thương mại quốc tế. Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụ lục của Hiệp

định về việc Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới được ký kết tại Marrakesh,

Maroc vào ngày 15/04/1994. Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến

thương mại (TRIMs) là một trong các hiệp định của WTO mà các thành viên gia

nhập tổ chức này phải ký kết. Hiệp định TRIMS có hiệu lực từ ngày 01/01/1995.

Năm 1995, các nước thành viên WTO ký kết Hiệp định TRIMS chấp nhận ràng

buộc rằng các biện pháp TRIMS của nước mình phải phù hợp với GATT (tiền thân

của WTO).

-Hiệp định TRIMs ra đời là một bước tiến lớn. Mặc dù nhiều ý kiến cho rằng Hiệp

định này chưa giải quyết thỏa đáng lợi ích của tất cả các nước phát triển và đang

phát triển, nó được coi là bước thoả hiệp ban đầu giữa quan điểm các nước phát

19



triển và đang phát triển về việc đưa ra quy định điều chỉnh hoạt động đầu tư nhằm

hạn chế trở ngại cho thương mại quốc tế.

Mục đích của Hiệp định TRIMs

• Là một trong 16 Hiệp định đa phương của WTO, Hiệp định TRIMs quy định

về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị cấm sử dụng đối với

các nước thành viên. Mục tiêu chính của hiệp định là thúc đẩy việc mở rộng,

phát triển tự do hoá đầu tư và thương mại quốc tế để tăng trưởng và phát

triển kinh tế của tất cả các nước tham gia trên cơ sở đảm bảo tự do cạnh

tranh. Vì sự phát triển của đất nước, bảo vệ và tăng cường khả năng cạnh

tranh của các công ty nội địa, đồng thời để đảm bảo cân bằng cán cân thanh

tốn, chính phủ các nước đang phát triển thường áp dụng TRIMs. Do đó,

Hiệp định này cũng có tính đến các nhu cầu cụ thể về thương mại và khả

năng tài chính của các nước thành viên đang phát triển, nhất là các nước

thành viên kém phát triển. Với các điều khoản đưa ra, mục tiêu của Hiệp

định TRIMs là tạo ra công bằng mậu dịch. Các công cụ khuyến khích đầu tư

(như ưu đãi về thuế, tiền thuê đất và các hỗ trợ khác của Chính phủ) sẽ giảm

dần và được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử.

• Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại là vấn đề có ý nghĩa lớn.

Thực hiện nghĩa vụ của hiệp định TRIMs sẽ tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư

tham gia vào các ngành công nghiệp, chế biến nơng sản, xố bỏ rào cản đối

với đầu tư nước ngồi (FDI). Việc điều chỉnh chính sách nhằm xoá bỏ yêu

cầu cân đối thương mại và cân đối ngoại tệ cũng là điều kiện thuận lợi để

thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành hàng đáp ứng nhu cầu trong

nước. Thực tiễn ở nhiều quốc gia, khi thu hút đầu tư nước ngoài, các doanh

nghiệp FDI thường mở những ngành mới, thực hiện chuyển giao công nghệ

và kỹ năng sản xuất kinh doanh cho lao động của nước sở tại nhằm thu được

lợi thế cạnh tranh. Đây cũng chính là cơ hội để nâng cao trình độ nguồn

nhân lực nước ta khi vào WTO.

• Thực hiện cam kết của hiệp định TRIMs, nhìn chung sẽ tạo thuận lợi để thu

hút đầu tư nước ngoài, nhưng cũng gặp nhiều khó khăn trong duy trì mục

tiêu khuyến khích sử dụng nguồn lực trong nước (tỷ lệ nội địa hoá), tăng

cường xuất khẩu (tỷ lệ xuất khẩu) và thúc đẩy phát triển một số ngành công

20



nghiệp, đây cũng là vấn đề nhạy cảm ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu cơng

nghiệp hố - hiện đại hố. Việt Nam đã cam kết tuân thủ hoàn toàn Hiệp

định TRIMs ngay khi trở thành thành viên chính thức của WTO, cam kết

xoá bỏ các rào cản về đầu tư, với mục tiêu tổng thể để tăng cường tính hấp

dẫn, thơng thống và minh bạch của mơi trường đầu tư nước ngồi tại Việt

Nam. Việt Nam đã có một q trình áp dụng TRIMs với các mục tiêu cơ bản

là vừa thu hút được đầu tư trực tiếp nước ngoài, vừa đẩy mạnh phát triển sản

xuất trong nước.

-Hiệp định về TRIMs gồm phần mở đầu, 9 điều và một phụ lục kèm theo qui định

những biện pháp đầu tư của nước tiếp nhận không phù hợp với các điều III và XI

khoản 1 của GATT. Những biện pháp đó là :

• Khối lượng nhập khẩu chỉ được giới hạn ở mức tương đương với khối lượng

hàng xuất khẩu của cơng ty.

• Qui định về tỷ lệ các phụ kiện được sản xuất tại chỗ trong thành phẩm (tỷ lệ

nội địa hoá sản phẩm), đòi hỏi này trái với điều III của GATT là không được

phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu.

• Những hạn chế liên quan đến sử dụng nguồn ngoại tệ. Khối lượng ngoại tệ

dùng để nhập khẩu chỉ hạn chế ở mức tương đương với khối lượng ngoại tệ

mà cơng ty có được thơng qua xuất khẩu hoặc các nguồn khác.

• Những u cầu về tỷ lệ xuất khẩu đối với các sản phẩm được sản xuất trên

thị trường nội địa.

1.7.5 Hiệp định về Nông nghiệp (AoA)

-Hiệp định về Nông nghiệp (tiếng Anh: Agreement on Agriculture, viết tắt là AoA)

là một trong các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Nó được ký

kết tại Vòng đàm phán Uruguay và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995,

cũng là ngày mà WTO chính thức đi vào hoạt động. Hiệp định đưa ra ba loại trợ

cấp nơng nghiệp đó là: Trợ cấp màu hổ phách (bị cấm), trợ cấp màu xanh da trời

(có thể bị kiện) và trợ cấp màu xanh lá cây (không bị kiện). Mục tiêu của Hiệp định

về Nông nghiệp là tiến hành cải cách trong lĩnh vực nơng nghiệp và xây dựng các

chính sách nơng nghiệp có định hướng thị trường hơn nữa. Hiệp định cũng nhằm

21



nâng cao khả năng dự đoán trước các thay đổi và đảm bảo an ninh lương thực cho

các nước xuất khẩu cũng như nhập khẩu.

Các quy định và cam kết trong Hiệp định Nông nghiệp được xây dựng xoay quanh

ba nhóm vấn đề chính được gọi là ba trụ cột (pillars). Đó là:

• Tiếp cận thị trường: giảm bớt các rào cản thương mại đối với hàng nông sản

nhập khẩu

• Trợ cấp nội địa: đưa ra các quy định và cam kết quản lý trợ cấp cho sản xuất

trong nước cũng như các chương trình tương tự khác, bao gồm cả các

chương trình kích thích tăng giá nơng sản do các trang trại bán ra hoặc các

chương trình đảm bảo thu nhập cho người nơng dân.

• Trợ cấp xuất khẩu: đưa ra các quy định và cam kết quản lý trợ cấp đối với

hàng nông sản xuất khẩu hay những biện pháp tương tự khác khiến cho hàng

nông sản xuất khẩu có tính cạnh tranh giả tạo trên thị trường quốc tế.

Hiệp định cho phép các chính phủ khuyến khích khu vực kinh tế nơng thơn, nhưng

nên thơng qua các chính sách ít làm biến dạng thương mại. Hiệp định cho phép có

sự linh động trong việc thực thi các cam kết. Các nước đang phát triển không cần

phải giảm bớt trợ cấp hay cắt giảm thuế quan nhiều như các nước phát triển. Họ

cũng có thời gian chuyển tiếp dài hơn để thực hiện các cam kết của mình. Các nước

kém phát triển hồn tồn khơng phải thực hiện những cam kết giống như của các

nước phát triển và đang phát triển. Hiệp định cũng có những điều khoản đặc biệt

giải quyết mối quan tâm của các nước phải nhập khẩu lương thực và các nước kém

phát triển.

1.7.6 Hiệp định về Hàng Dệt may (ATC)

-Hiệp định về Hàng Dệt may (tiếng Anh: Agreement on Textiles and Clothing, viết

tắt là ATC) được ký kết cùng với đa số các hiệp định khác của Tổ chức Thương mại

Thế giới (WTO) tại Vòng đàm phán Uruguay. Nó thay thế cho Thỏa thuận Đa sợi

(MFA) để quản lý thương mại quốc tế trong lĩnh vực hàng dệt may. Đây là hiệp

định duy nhất của WTO có điều khoản tự huỷ. Theo quy định được ghi trong hiệp

định, nó đã hết hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2005, và thương mại hàng dệt

may đã quay về áp dụng theo các quy định chung của GATT 1994. Điều đó có

nghĩa là chấm dứt chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may và các nước nhập khẩu

22



khơng còn có thể có các biện pháp phân biệt đối xử đối với hàng dệt may của các

nước xuất khẩu khác nhau.

-Về nguyên tắc, Hiệp định về Hàng Dệt may cho phép các nước thành viên áp dụng

hạn ngạch đối với hàng dệt may. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian 10 năm (từ

1995 đến 2004), các thành viên phải dần dần dỡ bỏ rào cản này. Việc dỡ bỏ được

thực hiện theo 4 bước, cho phép cả nước xuất khẩu lẫn nước nhập khẩu điều chỉnh

theo tình hình mới. Hạn ngạch ban đầu của một nước thành viên được áp dụng theo

hạn ngạch mà nước đó đặt ra tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 1994.

-Hiệp định quy định tỷ lệ hàng dệt may phải đưa vào áp dụng quy định chung của

GATT 1994 tại mỗi bước nêu trên. Nếu trong số đó có các mặt hàng dệt may đang

áp dụng hạn ngạch thì hạn ngạch phải bị dỡ bỏ. Những tỷ lệ này được quy định dựa

theo mức trao đổi thương mại hàng dệt may của nước nhập khẩu vào năm 1990.

Hiệp định cũng quy định rằng khối lượng nhập khẩu cho phép theo hạn ngạch phải

được tăng lên mỗi năm theo một tỷ lệ nhất định, và qua mỗi bước, tỷ lệ này cũng

phải tăng lên. Tỷ lệ tăng lên đó được xác định dựa trên một cơng thức tính với giá

trị là tốc độ tăng nhập khẩu qua các năm áp dụng Thỏa thuận Đa sợi.

1.7.7 Hiệp định về Chống bán Phá giá (ADP)

-Hiệp định về Chống bán Phá giá là một trong những hiệp định của Tổ chức

Thương mại Thế giới (WTO) được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay. Tên đầy đủ

của Hiệp định là Hiệp định về việc Thực thi Điều VI của Hiệp định chung về Thuế

quan và Thương mại 1994 (GATT 1994). Điều VI của GATT 1994 cho phép các

thành viên có biện pháp chống lại hành vi bán phá giá. Hiệp định về Chống bán

Phá giá quy định chi tiết các điều kiện để các thành viên WTO có thể thực hiện các

biện pháp như vậy. Cả Hiệp định và Điều VI được sử dụng cùng nhau để điều chỉnh

các biện pháp chống bán phá giá.

-Định nghĩa đầy đủ của hành vi bán phá giá được quy định trong Hiệp định. Nói

một cách vắn tắt, đó là hành vi của một cơng ty bán một mặt hàng xuất khẩu thấp

hơn giá thông thường mà họ bán mặt hàng đó tại thị trường trong nước. Để áp dụng

biện pháp chống bán phá giá, nước nhập khẩu là thành viên WTO phải chứng minh

được ba điều kiện sau:



23



• Có hành động bán phá giá: được tính bằng độ chênh lệch giữa giá của mặt

hàng nhập khẩu với giá của mặt hàng tương tự bán tại thị trường của nước

xuất khẩu (gọi là biên độ phá giá).

• Có thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất của nước nhập khẩu đang cạnh

tranh trực tiếp với hàng nhập khẩu.

• Hành động bán phá giá là nguyên nhân gây ra thiệt hại vật chất, hoặc đe dọa

gây ra thiệt hại vật chất nêu trên.

1.7.8 Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng (SCM)

-Những quy tắc GATT về trợ cấp quy định trong điều XVI được làm rõ và nêu chi

tiết tại. Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) và Hiệp định nơng

nghiệp. Nói rộng ra, các điều khoản của Hiệp định SCM áp dụng cho các sản phẩm

cơngnghiệp; còn các điều khoản của Hiệp định nông nghiệp áp dụng cho các sản

phẩm nơng nghiệp.

-Hiệp định SCM thừa nhận rằng chính phủ dung các khoản trợ cấp để đạt những

mục đíchchính sách khác nhau. Tuy nhiên, Hiệp định hạn chế quyển của chính phủ

trợ cấptác động bóp méo thương mại. Những quy tắc của Hiệp định là phức tạp.

-Hiệp định phân chia trợ cấp thành trợ cấp bị cấm và trợ cấp được chấp nhận. Trợ

cấp bị cấm bao gồm cả trợ cấp xuất khẩu. Trước đây, quy tắc chống việc sử dụng

trợ cấp xuất khẩu đối với các sản phẩm công nghiệp chỉ áp dụng ở những nước phát

triển; nay Hiệp định mở rộng quy tắc này sang các nước đang phát triển. Các nước

đang phát triển có thời kỳ quá độ 8 năm để chuyển thực hành trợ cấp cho phù hợp

với nguyên tắc. Trong thời kỳ này, các nước này không được tăng mức trợ cấp xuất

khẩu. Quy tắc nói trên chống dung trợ cấp xuất khẩu khơng áp dụng cho những

nước chậm phát triển và đang phát triển có mức GNP tính theo đầu người thấp hơn

1000 USD.

-Mọi khoản trợ cấp không bị cấm coi là được chấp nhận. Các khoản trợ cấp được

chấp nhận chia làm hai loại: Trợ cấp có thể khiếu kiện và trợ cấp khơng thể khiếu

kiện.

-Hiệp định nêu ra hai hình thức chế tài khi trợ cấp của chính phủ gây ra “những tác

động xấu” tới lợi ích thương mại của những nước khác.

24



-Khi những tác động xấu đó gây tổn hại vật chất đối với ngành sản xuất trong nước

của nước nhập khẩu, Hiệp định cho phép nước này đánh thuế đối kháng để cân

bằng trợ cấp. Các khoản thuế như vậy chỉ được áp dụng sau khi điều tra kỹ lưỡng,

các cơ quan có thẩm quyền điều tra thỏa mãn rằng có mối liên hệ nhân quả giữa

nhập khẩu được trợ cấp với thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất liên quan. Hơn

nữa, những cuộc điều tra như vậy thông thường chỉ được khởi sự trên cơ sở ngành

sản xuất bị tác động kiến nghị rằng việc nhập khẩu đang gây thiệt hại cho họ.

-Lần lượt như vậy, cả trường hợp khi có những thiệt hại nghiêm trọng đối với

ngành sản xuất trong nước lẫn cả trường hợp có những tác động ngược lại khác,

nước nhập khẩu có thể đưa vấn đề ra trước Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) để

đảm bảo nước áp dụng trợ cấp rút bỏ hoặc điều chỉnh tác động đang gây ra.

-Chính phủ áp dụng trợ cấp nhằm đạt những mục tiêu chính sách khác nhau. Vì

vậy, có thể sẵn sang thực hiện trợ cấp để thúc đẩy sự phát triển những ngành sản

xuất mới; để khuyến khích đầu tư và thiết lập các ngành công nghiệp trong những

vùng lạc hậu trong nước; để hỗ trợ các ngành sản xuất phát triển xuất khẩu; để cải

thiện cơ sở hạ tầng sản xuất nông nghiệp và bảo đảm thu nhập hợp lý cho nông

dân.

Những quy tắc GATT chi phối sử dụng trợ cấp là phức tạp, đối với nông sản

thường khác với công nghệ phẩm. Những điều khoản chủ yếu của GATT về trợ cấp

được nêu chitiết trong Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM), và

trong Hiệp định nông nghiệp. Trừ một vài ngoại lê, những điều khoản của Hiệp

định SCM áp dụng cho công nghệ phẩm; những điều khoản của Hiệp định nông

nghiệp chi phối nông phẩm.

1.7.9 Hiệp định về Tự vệ (SG)

-Hiệp định về Tự vệ (tiếng Anh: Agreement on Safeguards), còn gọi là Hiệp định

SG (SG Agreement) là một trong những hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế

giới (WTO), được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay. Hiệp định cho phép thành

viên WTO áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu khi sự tăng đột biến của nhập

khẩu một mặt hàng gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước.

Điều kiện áp dụng



25



Hiện tượng tăng đột biến nêu trên có thể là tăng tuyệt đối về khối lượng hàng nhập

khẩu, có thể là tăng tương đối (khối lượng nhập khẩu không tăng nhưng thị phần

hàng nhập khẩu tăng so với thị phần hàng sản xuất trong nước).

Khi xảy ra hiện tượng nêu trên, ngành sản xuất trong nước hoặc các công ty trong

nước có thể u cầu chính phủ tiến hành điều tra để áp dụng các biện pháp tự vệ.

Hiệp định quy định việc điều tra phải tiến hành một cách minh bạch và theo một

trình tự nhất định.

Để kết luận là có thể áp dụng các biện pháp tự vệ, cơ quan điều tra cần phải xác

định rằng ngành sản xuất trong nước đã chịu "thiệt hại nghiêm trọng", hoặc đang có

nguy cơ phải chịu thiệt hại nghiêm trọng. Thiệt hại nghiêm trọng đó phải là hậu quả

của việc tăng nhập khẩu đột biến.

Biện pháp áp dụng

Biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng ở mức vừa đủ để ngăn chặn thiệt hại và giúp

ngành sản xuất trong nước có thời gian tự điều chỉnh. Các biện pháp tự vệ có thể áp

dụng dưới hình thức một khoản thuế nhập khẩu bổ sung, hạn ngạch, hạn ngạch thuế

quan, giấy phép nhập khẩu, hay phụ thu. Thời hạn áp dụng một biện pháp tự vệ là

không quá 4 năm, trong trường hợp có gia hạn thì tổng tồn bộ thời hạn áp dụng

không được quá 8 năm

1.7.10 Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu (ILP)

Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu là một trong các hiệp định của Tổ chức

Thương mại Thế giới (WTO) được ký tại Vòng đàm phán Uruguay vào năm 1994.

Hiệp định quy định việc cấp phép nhập khẩu phải được tiến hành một cách đơn

giản, minh bạch, và có thể đốn định trước được. Chẳng hạn như Hiệp định yêu cầu

các thành viên phải công bố công khai những thông tin chi tiết về việc giấy phép

nhập khẩu được cấp như thế nào, và tại sao lại được cấp. Hiệp định cũng yêu cầu

các thành viên phải thông báo với WTO khi đưa ra những thủ tục cấp phép mới

hoặc thay đổi những thủ tục đang có hiệu lực. Hiệp định còn hướng dẫn các thành

viên phải đánh giá các đơn xin cấp giấy phép nhập khẩu như thế nào.

Một số loại giấy phép được cấp tự động nếu như đã thỏa mãn một số điều kiện nhất

định được đặt ra từ trước. Hiệp định quy định những tiêu chuẩn cho việc cấp phép

tự động để thủ tục này không làm cản trở trao đổi thương mại.

26



Một số loại giấy phép khác không được cấp tự động. Đối với những loại giấy phép

này, Hiệp định có những quy định nhằm tối thiểu hóa gánh nặng của người nhập

khẩu khi tiến hành nộp đơn xin giấy phép, để cho các thủ tục hành chính khơng làm

cản trở hay biến dạng trao đổi thương mại. Hiệp định đặt ra thời hạn để cơ quan

hữu trách của nước thành viên phải đưa ra quyết định có cấp giấy phép nhập khẩu

hay không: 30 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ trong trường hợp xem xét từng hồ sơ

một, hoặc 60 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ trong trường hợp xem xét tất cả các hồ sơ

cùng một lúc

1.7.11 Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch (SPS)

- Hiệp định SPS là Hiệp định về áp dụng các biện biện pháp vệ sinh an toàn thực

phẩm và kiểm dịch động thực vật của tổ chức thương mại quốc tế (WTO) . Hiệp

định SPS của WTO có hiệu lực từ ngày 01/01/1995.

- Hiệp định SPS ghi nhận nhu cầu tự bảo vệ mình của các nước thành viên WTO

trước các rủi ro qua xâm nhập của sâu hại và dịch bệnh, nhưng đồng thời cũng tìm

cách giảm thiểu bất kỳ tác động tiêu cực nào của các biện pháp SPS tới thương mại.

- Các khía cạnh của Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch (SPS )

• Khía cạnh sức khỏe: bảo vệ sức khỏe con người và động thực vật thông qua

các biện pháp kiểm soát rủi ro liên quan tới hàng nhập khẩu.

• Khía cạnh thương mại: các thành viên WTO không được sử dụng các biện

pháp SPS không cần thiết, thiếu cơ sở khoa học, tùy tiện hoặc là các biện

pháp tạo nên những hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế.



1.7.12 Hiệp định về các Rào cản Kĩ thuật đối với Thương mại (TBT)

-Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại cũng được biết đến như là hiệp

định TBT là một hiệp ước quốc tế của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, nó đã

được đàm phán ở Uruguay đa số đã đồng ý về thuế quan và thương mại bắt đầu áp

dụng từ ngày 01/01/1995. Hàng năm Uỷ ban TBT của WTO đều tiến hành rà soát

việc thực thi Hiệp định của các Thành viên. Bên cạnh đó, 3 năm một lần Uỷ ban

TBT của WTO lại tiến hành việc thực thi Hiệp định, đặc biệt các điều khoản về

minh bạch hoá, để đưa ra các khuyến nghị điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ của

27



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

7 Các hiệp định chính của Tố chức Thương mại Thế Giới (WTO)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×