Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 : Tổ chức Thương mại Thế giới

Chương 1 : Tổ chức Thương mại Thế giới

Tải bản đầy đủ - 0trang

được WTO kế thừa, quản lý, và mở rộng. Không giống như GATT chỉ có tính chất

của một hiệp ước, WTO là một tổ chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể. WTO

chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995.

1.3 Mục tiêu của WTO

-Mục tiêu chính của hệ thống thương mại thế giới là nhằm giúp thương mại được

lưu chuyển tự do ở mức tối đa, chừng nào nó còn nằm trong giới hạn khơng gây ra

các ảnh hưởng xấu khơng muốn có.

Ngồi ra, WTO còn có những mục tiêu sau:

+ Nâng cao mức sống của con người.

+ Bảo đảm tạo đầy đủ công ăn việc làm, tăng trưởng vững chắc thu nhập và nhu

cầu thực tế của người lao động.

+ Phát triển việc sử dụng hợp lý của người lao động.

+ Phát triển việc sử dụng hợp lý các nguồn lực của thế giới .

+ Mở rộng việc sản xuất và trao đổi hàng hóa dịch vụ trên phạm vi tồn thế giới.

1.4 Các chức năng chính của WTO.

-Theo ghi nhận tại Ðiều III, Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, có 5

chức năng:

• WTO tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và điều hành và

những mục tiêu khác của Hiệp định thành lập WTO, các hiệp định đa biên

của WTO, cũng như cung cấp một khuôn khổ để thực thi, quản lý và điều

hành việc thực hiện các hiệp định nhiều bên.

• WTO là một diễn đàn cho các cuộc đàm phán giữa các nước thành viên về

những quan hệ thương mại đa biên trong khuôn khổ những quy định của

WTO. WTO cũng là diễn đàn cho các cuộc đàm phán tiếp theo giữa các

thành viên về những quan hệ thương mại đa biên; đồng thời WTO là một

thiết chế để thực thi các kết quả từ việc đàm phán đó hoặc thực thi các quyết

định do Hội nghị Bộ trưởng đưa ra.

• WTO sẽ thi hành Thoả thuận về những quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc

giải quyết tranh chấp giữa các thành viên (” Thoả thuận” này được quy định

trong Phụ lục 2 của Hiệp định thành lập WTO);



10



• WTO sẽ thi hành Cơ chế rà sốt chính sách thương mại (của các nước thành

viên), “Cơ chế” này được quy định tại Phụ lục 3 của Hiệp định thành lập

WTO;

• Ðể đạt tới sự thống nhất cao hơn về quan điểm trong việc tạo lập các chính

sách kinh tế tồn cầu, khi cần thiết, WTO sẽ hợp tác với Quỹ tiền tệ quốc tế

(IMF), Ngân hàng thế giới và các cơ quan trực thuộc của nó

1.5 Cơ cấu tổ chức

Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia vào các hội đồng, ủy ban của

WTO, ngoại trừ Cơ quan Phúc thẩm, các Ban Hội thẩm Giải quyết Tranh chấp và

các ủy ban đặc thù.

-Cấp cao nhất: Hội nghị Bộ trưởng

• Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ít nhất

hai năm một lần. Hội nghị có sự tham gia của tất cả các thành viên WTO.

Các thành viên này có thể là một nước hoặc một liên minh thuế quan (chẳng

hạn như Cộng đồng châu Âu). Hội nghị Bộ trưởng có thể ra quyết định đối

với bất kỳ vấn đề trong các thỏa ước thương mại đa phương của WTO.

-Cấp thứ hai: Đại hội đồng

• Cơng việc hàng ngày của WTO được đảm nhiệm bởi 3 cơ quan: Đại hội

đồng, Hội đồng Giải quyết Tranh chấp và Hội đồng Rà sốt Chính sách

Thương mại. Tuy tên gọi khác nhau, nhưng thực tế thành phần của 3 cơ quan

đều giống nhau, đều bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương

đương) của tất cả các nước thành viên. Điểm khác nhau giữa chúng là chúng

được nhóm họp để thực hiện các chức năng khác nhau của WTO.

• Đại hội đồng là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO tại Geneva, được

nhóm họp thường xuyên. Đại hội đồng bao gồm đại diện (thường là cấp đại

sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên và có thẩm quyền

quyết định nhân danh hội nghị bộ trưởng (vốn chỉ nhóm họp hai năm một

lần) đối với tất cả các công việc của WTO.

• Hội đồng Giải quyết Tranh chấp được nhóm họp để xem xét và phê chuẩn

các phán quyết về giải quyết tranh chấp do Ban Hội thẩm hoặc Cơ quan



11



Phúc thẩm đệ trình. Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành

viên (cấp đại sứ hoặc tương đương)

• Hội đồng Rà sốt Chính sách Thương mại được nhóm họp để thực hiện việc

rà sốt chính sách thương mại của các nước thành viên theo cơ chế rà sốt

chính sách thương mại. Đối với những thành viên có tiềm lực kinh tế lớn,

việc rà sốt diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần. Đối với những thành

viên khác, việc rà sốt có thể được tiến hành cách quãng hơn.

-Cấp thứ ba: Các Hội đồng Thương mại

• Các Hội đồng Thương mại hoạt động dưới quyền của Đại hội đồng. Có ba

Hội đồng Thương mại là: Hội đồng Thương mại Hàng hóa, Hội đồng

Thương mại Dịch vụ và Hội đồng Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí tuệ

liên quan đến Thương mại. Một hội đồng đảm trách một lĩnh vực riêng.

Cũng tương tự như Đại hội đồng, các hội đồng bao gồm đại diện của tất cả

các nước thành viên WTO. Bên cạnh ba hội đồng này còn có sáu ủy ban và

cơ quan độc lập khác chịu trách nhiệm báo cáo lên Đại hội đồng các vấn đề

riêng rẽ như thương mại và phát triển, môi trường, các thỏa thuận thương

mại khu vực, và các vấn đề quản lý khác. Đáng chú ý là trong số này có

Nhóm Cơng tác về việc Gia nhập chịu trách nhiệm làm việc với các nước

xin gia nhập WTO.

• Hội đồng Thương mại Hàng hóa chịu trách nhiệm đối với các hoạt động

thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT),

tức là các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về hàng hóa.

• Hội đồng Thương mại Dịch vụ chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc

phạm vi của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), tức là các

hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về dịch vụ.

• Hội đồng Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí

tuệ chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định về

Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ

(TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh

vực quyền sở hữu trí tuệ.

-Cấp thứ tư: Các Ủy ban và Cơ quan

12



• Dưới các hội đồng trên là các ủy ban và cơ quan phụ trách các lĩnh vực

chuyên môn riêng biệt

• Dưới Hội đồng Thương mại Hàng hóa là 11 ủy ban, 1 nhóm cơng tác, và 1

ủy ban đặc thù.

• Dưới Hội đồng Thương mại Dịch vụ là 2 ủy ban, 2 nhóm cơng tác, và 2 ủy

ban đặc thù.

• Dưới Hội đồng Giải quyết Tranh chấp (cấp thứ 2) là Ban Hội thẩm và Cơ

quan Phúc thẩm.

Ngoài ra, do yêu cầu đàm phán của Vòng đàm phán Doha, WTO đã thành lập Ủy

ban Đàm phán Thương mại trực thuộc Đại hội đồng để thức đẩy và tạo điều kiện

thuận lợi cho đàm phán. Ủy ban này bao gồm nhiều nhóm làm việc liên quan đến

các lĩnh vực chuyên mơn khác nhau.

1.6 Các ngun tắc hoạt động chính của WTO

Các hiệp định của WTO mang tính chất lâu dài và phức tạp đó là vì những văn bản

pháp lý bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động rộng lớn. Các hiệp định này giải quyết

các vấn đề liên quan đến: nơng nghiệp, hàng dệt may, ngân hàng, bưu chính viễn

thơng, mua sắm chính phủ, tiêu chuẩn cơng nghiệp, các qui định về vệ sinh dịch tễ,

sở hữu trí tuệ và nhiều lĩnh vực khác nữa. Tuy nhiên có một số các nguyên tắc hết

sức cơ bản và đơn giản xuyên suốt tất cả các hiệp định. Các nguyên tắc đó chính là

nền tảng của hệ thống thương mại đa biên. Sau đây là chi tiết các nguyên tắc đó.

1.6.1 Thương mại không phân biệt đối xử.

Nguyên tắc này được áp dụng bằng hai loại đãi ngộ song song, đó là đãi ngộ tối huệ

quốc và đối xử quốc gia.

-Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN):

Đối xử mọi người bình đẳng như nhau. Theo qui định của các hiệp định WTO,

nguyên tắc này được áp dụng như sau: Mỗi thành viên đối xử với mọi thành viên

khác bình đẳng với nhau như là các bạn hàng được ưu đãi nhất. Nếu như một nước

cho một nước khác được hưởng lợi nhiều hơn thì đối xử "tốt nhất" đó phải được

giành cho tất cả các nước thành viên WTO khác để các nước khác vẫn tiếp tục có



13



được đối xử tối huệ quốc. Nguyên tắc MFN đảm bảo rằng mỗi thành viên WTO đối

xử trên 140 thành viên khác tương tự nhau.

Ngun tắc này rất quan trọng vì vậy nó được ghi nhận tại điều đầu tiên của hiệp

định chung về quan thuế và thương mại GATT về thương mại hàng hoá. Nguyên

tắc MFN cũng được đề cao trong hiệp định chung về dịch vụ GATS, hiệp định về

quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại TRIMs tuy có khác nhau một ít ở

từng hiệp định.

- Đối xử quốc gia (NT):

Đối xử người nước ngoài và người trong nước như nhau. Hàng nhập khẩu và hàng

sản xuất trong nước phải được đối xử như nhau, ít nhất là sau khi hàng hố nhập

khẩu đã đi vào đến thì trường nội địa. Theo nguyên tắc này, khi áp dụng những qui

chế trong nước và thuế nội địa đối với hàng nhập khẩu thì phải cung cấp các điều

kiện tương tự như đối với sản phẩm trong nước. Vì thế các thành viên của WTO

không được áp dụng thuế nội địa để bảo vệ sản xuất trong nước và không được

phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu từ các nước thành viên WTO khác.

Nguyên tắc này cũng áp dụng cho dịch vụ nhãn hiệu thương mại, bản quyền và

quyền phát minh sáng chế trong nước và của nước ngoài. Đối xử quốc gia chỉ áp

dụng được khi hàng háo dịch vụ và đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ đã vào đến

thị trường. Vì vậy, việc đánh thuế nhập khẩu hàng hố khơng vi phạm ngun tắc

này mặc dù hàng nội địa không chịu thuế tương tự.

1.6.2 Thương mại phải ngày càng được tự do thông qua đàm phán.

-WTO đảm bảo thương mại giữa các nước ngày càng tự do hơn thơng qua q trình

đàm phán hạ thấp hàng rào thuế quan để thúc đẩy buôn bán. Hàng rào thương mại

bao gồm thuế quan, và các biện pháp khác như cấm nhập khẩu, quota có tác dụng

hạn chế nhập khẩu có chọn lọc, đơi khi vấn đề khác như tệ quan liêu, chính sách

ngoại hối cũng được đưa ra đàm phán.

-Kể từ khi GATT, sau đó là WTO được thành lập đã tiến hành 8 vòng đàm phán để

giảm thuế quan, dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan và mở cửa thị trường. Để thực hiện

nguyên tắc tự do thương mại này, WTO đảm nhận chức năng là diễn đàn đàm phán

thương mại đa phương để các nước có thể liên tục thảo luận về vấn đề tự do hố

thương mại.

14



1.6.3 WTO tạo ra mơi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng.

WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công bằng

và khơng bị bóp méo. Các quy định về phân biệt đối xử được xây dựng nhằm đảm

bảo các điều kiện công bằng trong thương mại. Các đều khoản về chống phá giá,

trợ cấp cũng nhằm mục đích tương tự. Tất cả các hiệp định của WTO như Nông

nghiệp, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại đều nhằm mục đích

tạo ra được một mơi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các nước.

1.6.4 Tính tiên liệu được thông qua ràng buộc thuế.

Các cam kết không tăng thuế cũng quan trọng như việc cắt giảm thuế vì cam kết

như vậy tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể dự đốn tốt hơn các cơ hội trong

tương lai.

Trong WTO, khi các nước thoả thuận mở cửa thị trường cho các hàng hoá và dịch

vụ nước ngoài, họ phải tiến hành ràng buộc các cam kết thuế. Đối với thương mại

hàng hoá, các ràng buộc này được thể hiện dưới hình thức thuế trần.

Một nước có thể thay đổi mức thuế ràng buộc, tuy nhiên điều này chỉ có thể thực

hiên được sau khi nước đó đã đàm phán với các nước bạn hàng và có nghĩa là phải

bồi thường cho khối lượng thương mại đã bị mất. Qua vòng đàm phán Uruguay,

một khối lượng thương mại lớn được hưởng cam kết về ràng buộc thuế. Tính riêng

trong lĩnh vực hàng nơng sản 100% sản phẩm đã được ràng buộc thuế. Kết quả là

WTO đã tạo được sự đảm bảo cao hơn cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư.

1.6.5 Các thoả thuận thương mại khu vực.

WTO thừa nhận các thoả thuận thương mại khu vực nhằm mục tiêu đẩy mạnh tự do

hoá thương mại. Các liên kết như vậy là một ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ Tối

huệ quốc theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, nhằm bảo đảm các thoả thuận này tạo

thuận lợi cho thương mại các nước liên quan song không làm tăng hàng rào cản trở

thương mại với các nước ngoài liên kết.

1.6.6 Các điều kiện đặc biệt dành cho các nước đang phát triển.

WTO là một tổ chức quốc tế với hơn 2/3 tổng số nước thành viên là các nước đang

phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi, vì thế một trong những nguyên tắc

15



cơ bản của WTO là khuyến khích phát triển, dành những điều kiện đối xử đặc biệt

và khác biệt cho các nước này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của

họ vào hệ thống thương mại đa biên. Để thực hiện được nguyên tắc này, WTO dành

cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi những linh hoạt

và các ưu đãi nhất định trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến việc

trợ giúp kỹ thuật cho các nước này.

1.7 Các hiệp định chính của Tố chức Thương mại Thế Giới (WTO)

-Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh các vấn

đề về thương mại quốc tế. Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụ lục của Hiệp

định về việc Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới được ký kết tại Marrakesh,

Maroc vào ngày 15 tháng 4 năm 1994. Bốn phụ lục đó bao gồm các hiệp định quy

định các quy tắc luật lệ trong thương mại quốc tế, cơ chế giải quyết tranh chấp, cơ

chế rà sốt chính sách thương mại của các nước thành viên, các thỏa thuận tự

nguyện của một số thành viên về một số vấn đề không đạt được đồng thuận tại diễn

đàn chung. Các nước muốn trở thành thành viên của WTO phải ký kết và phê

chuẩn hầu hết những hiệp định này, ngoại trừ các thỏa thuận tự nguyện. Sau đây sẽ

là một số hiệp định chính của WTO:

1.7.1 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994)

-Hiệp ước chung về thuế quan và thương mại (tiếng Anh: General Agreement on

Tariffs and Trade, viết tắt là GATT) là một hiệp ước được ký kết vào ngày 30 tháng

10 năm 1947, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1948 nhằm điều hòa chính sách

thuế quan giữa các nước ký kết. Kể từ khi GATT được thành lập vào năm 1948, các

nước tham gia GATT đã cùng nhau tiến hành nhiều đợt đàm phán để ký kết thêm

những thỏa thuận thương mại mới.

1.7.2 Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS)

-Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (tiếng Anh: General Agreement on Trade

in Services, viết tắt là GATS) là một hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới

(WTO). Hiệp định được ký kết sau khi kết thúc Vòng đàm phán Uruguay và bắt

đầu có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995. Hiệp định được thiết lập nhằm mở

rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa phương sang lĩnh vực dịch vụ

16



chứ không chỉ điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước đó.

Tất cả các thành viên của WTO đều tham gia GATS. Các nguyên tắc cơ bản của

WTO về đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia cũng đều áp dụng với GATS.

GATS chia ra bốn phương thức cung cấp dịch vụ mang tính thương mại quốc tế:

• Cung cấp qua biên giới: việc cung cấp dịch vụ được tiến hành từ lãnh thổ

của một nước này sang lãnh thổ của một nước khác. Ví dụ: Gọi điện thoại

quốc tế, khám bệnh từ xa trong đó bệnh nhân và bác sĩ khám ngồi ở hai

nước khác nhau.

• Tiêu dùng ngồi lãnh thổ: người sử dụng dịch vụ mang quốc tịch một nước

đi đến một nước khác và sử dụng dịch vụ ở nước đó. Ví dụ: Sửa chữa tàu

biển, Lữ hành, Du học, chữa bệnh ở nước ngồi.

• Hiện diện thương mại: người cung cấp dịch vụ mang quốc tịch một nước đi

đến một nước khác, lập ra một pháp nhân và cung cấp dịch vụ ở nước đó. Ví

dụ: một ngân hàng thương mại mở một chi nhánh ở nước ngồi.

• Hiện diện thể nhân: người cung cấp dịch vụ là thể nhân mang quốc tịch một

nước đi đến một nước khác và cung cấp dịch vụ ở nước đó. Ví dụ: Một giáo

sư được mời sang một trường đại học ở nước ngoài để giảng bài.

1.7.3 Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí

tuệ (TRIPS)

-Hiệp định TRIPS được thiết lập với ý nghĩa là một phần của Những Thoả thuận

Thương mại Đa phương trong vòng Đàm phán Uruguay trong khuôn khổ Thỏa

thuận chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Đây là lần đầu tiên các khía

cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại quốc tế được

đàm phán trong khuôn khổ của GATT. Kết quả của các cuộc đàm phán đó được thể

hiện trong Thỏa thuận Thiết lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hiệp định

TRIPS là Phụ lục 1C của Thỏa thuận Thiết lập Tổ chức WTO. Hiệp định có hiệu

lực bắt buộc đối với tất cả các Thành viên WTO, được thông qua tại Marrakesh

ngày 15 tháng 4 năm 1994 và có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 1995. Hiệp định là

một trong những trụ cột quan trọng nhất của WTO và bảo hộ sở hữu trí tuệ trở

thành một phần khơng thể tách rời trong hệ thống thương mại đa phương của WTO.



17



-Hiệp định TRIPS: Thỏa thuận đa phương toàn diện nhất về sở hữu trí tuệ cho đến

nay

• Thứ nhất, Hiệp định TRIPS là kết quả của sự kết hợp những điều ước quốc

tế quan trọng nhất trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Những điều ước quốc tế này

là Công ước Paris, Công ước Bern, Công ước Rome, Công ước Washington.

Quy định của những điều ước quốc tế này có hiệu lực bắt buộc thậm chí đối

với những quốc gia chưa phê chuẩn điều ước, ngoại trừ Cơng ước Rome có

hiệu lực bắt buộc với những nước đã là thành viên của Công ước.

• Thứ hai, Hiệp định TRIPS thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu đối với bảo hộ

quyền sở hữu trí tuệ cho tất cả các Thành viên WTO bất kể mức độ phát

triển. Đối với mỗi đối tượng sở hữu trí tuệ, Hiệp định TRIPS thiết lập những

tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu mà các nước thành viên phải tuân thủ. Nội dung

chính của những tiêu chuẩn này là đối tượng được bảo hộ, đối tượng không

được bảo hộ, quyền (bao gồm thời hạn bảo hộ tối thiểu), những trường hợp

ngoại lệ của những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu. Những tiêu chuẩn này được

thể hiện trong Hiệp định TRIPS dưới hai dạng. Trước hết, Hiệp định TRIPS

đòi hỏi các Thành viên WTO tuân thủ những quy định cơ bản, quan trọng

của Công ước Paris và Công ước Berne đã được chuyển tải vào Hiệp định

TRIPS. Hơn nữa, Hiệp định TRIPS quy định thêm một số nghĩa vụ cho các

Thành viên WTO mà những nghĩa vụ này không quy định trong Cơng ước

Paris và Cơng ước Berne.

• Thứ ba, Hiệp định TRIPS trao cho các Thành viên WTO quyền tự quyết nhất

định. Bên cạnh những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu, Hiệp định TRIPS dành

quyền tự quyết cho các Thành viên trong một số vấn đề nhằm giúp các nước

thiết lập tiêu chuẩn quốc gia về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo chính sách

của các nước này trên cơ sở các quy định tuỳ nghi (trong tiếng Anh là

flexible provisions).

-Hiệp định TRIPS: Mục tiêu cơ bản nhất là thúc đẩy tự do trong thương mại quốc tế

• Phù hợp với mục tiêu của WTO, mục tiêu của Hiệp định TRIPS là thúc đẩy

tự do trong thương mại quốc tế bằng cách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đồng

thời ngăn chặn các quốc gia thành viên sử dụng quyền sở hữu trí tuệ như

những rào cản trong thương mại

18



• Mục tiêu này nên được đặt trong mối quan hệ với Điều 7 và Điều 8 của

Hiệp định TRIPS. Theo đó, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải góp

phần thúc đẩy đổi mới cơng nghệ, chuyển giao và phổ biến cơng nghệ, đem

lại lợi ích chung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức cơng nghệ,

đem lại lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế, tạo ra sự cân bằng giữa quyền và

nghĩa vụ (Điều 7). Các Thành viên WTO được phép áp dụng các biện pháp

bảo vệ sức khỏe cộng đồng cũng như những lợi ích cơng cộng khác và được

ngăn chặn lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ hoặc những hành vi cản trở thương

mại bất hợp lý hoặc ảnh hưởng xấu đến chuyển giao công nghệ quốc tế

(Điều 8).

1.7.4 Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMS)

-Cùng với quá trình phát triển của thương mại thế giới, dòng lưu chuyển vốn đầu tư

cũng tăng không ngừng, thực tế đã vượt xa tốc độ tăng trưởng thương mại giữa các

nước. Cho đến nay, 1/3 thương mại trên thế giới là trao đổi giữa các cơng ty có liên

hệ với nhau về sở hữu, hay nói một cách khác, 1/3 thương mại thế giới ngày nay

gắn liền với đầu tư. Cuối thập niên 40 khi xây dựng nên hệ thống thương mại đa

biên, người ta cũng nghĩ đến cơ chế điều tiết đầu tư trên phạm vi tồn cầu. Tuy

nhiên ý tưởng trên khi đó chưa thực hiện được. Cho đến tận Vòng đàm phán

Uruguay thì vấn đề đầu tư mới được đề cập như là vấn đề riêng trong WTO.

-Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh các vấn

đề về thương mại quốc tế. Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụ lục của Hiệp

định về việc Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới được ký kết tại Marrakesh,

Maroc vào ngày 15/04/1994. Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến

thương mại (TRIMs) là một trong các hiệp định của WTO mà các thành viên gia

nhập tổ chức này phải ký kết. Hiệp định TRIMS có hiệu lực từ ngày 01/01/1995.

Năm 1995, các nước thành viên WTO ký kết Hiệp định TRIMS chấp nhận ràng

buộc rằng các biện pháp TRIMS của nước mình phải phù hợp với GATT (tiền thân

của WTO).

-Hiệp định TRIMs ra đời là một bước tiến lớn. Mặc dù nhiều ý kiến cho rằng Hiệp

định này chưa giải quyết thỏa đáng lợi ích của tất cả các nước phát triển và đang

phát triển, nó được coi là bước thoả hiệp ban đầu giữa quan điểm các nước phát

19



triển và đang phát triển về việc đưa ra quy định điều chỉnh hoạt động đầu tư nhằm

hạn chế trở ngại cho thương mại quốc tế.

Mục đích của Hiệp định TRIMs

• Là một trong 16 Hiệp định đa phương của WTO, Hiệp định TRIMs quy định

về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị cấm sử dụng đối với

các nước thành viên. Mục tiêu chính của hiệp định là thúc đẩy việc mở rộng,

phát triển tự do hoá đầu tư và thương mại quốc tế để tăng trưởng và phát

triển kinh tế của tất cả các nước tham gia trên cơ sở đảm bảo tự do cạnh

tranh. Vì sự phát triển của đất nước, bảo vệ và tăng cường khả năng cạnh

tranh của các công ty nội địa, đồng thời để đảm bảo cân bằng cán cân thanh

tốn, chính phủ các nước đang phát triển thường áp dụng TRIMs. Do đó,

Hiệp định này cũng có tính đến các nhu cầu cụ thể về thương mại và khả

năng tài chính của các nước thành viên đang phát triển, nhất là các nước

thành viên kém phát triển. Với các điều khoản đưa ra, mục tiêu của Hiệp

định TRIMs là tạo ra cơng bằng mậu dịch. Các cơng cụ khuyến khích đầu tư

(như ưu đãi về thuế, tiền thuê đất và các hỗ trợ khác của Chính phủ) sẽ giảm

dần và được áp dụng trên cơ sở khơng phân biệt đối xử.

• Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại là vấn đề có ý nghĩa lớn.

Thực hiện nghĩa vụ của hiệp định TRIMs sẽ tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư

tham gia vào các ngành công nghiệp, chế biến nơng sản, xố bỏ rào cản đối

với đầu tư nước ngồi (FDI). Việc điều chỉnh chính sách nhằm xố bỏ yêu

cầu cân đối thương mại và cân đối ngoại tệ cũng là điều kiện thuận lợi để

thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành hàng đáp ứng nhu cầu trong

nước. Thực tiễn ở nhiều quốc gia, khi thu hút đầu tư nước ngoài, các doanh

nghiệp FDI thường mở những ngành mới, thực hiện chuyển giao công nghệ

và kỹ năng sản xuất kinh doanh cho lao động của nước sở tại nhằm thu được

lợi thế cạnh tranh. Đây cũng chính là cơ hội để nâng cao trình độ nguồn

nhân lực nước ta khi vào WTO.

• Thực hiện cam kết của hiệp định TRIMs, nhìn chung sẽ tạo thuận lợi để thu

hút đầu tư nước ngoài, nhưng cũng gặp nhiều khó khăn trong duy trì mục

tiêu khuyến khích sử dụng nguồn lực trong nước (tỷ lệ nội địa hoá), tăng

cường xuất khẩu (tỷ lệ xuất khẩu) và thúc đẩy phát triển một số ngành công

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 : Tổ chức Thương mại Thế giới

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×