Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các giới hạn của việc phân công lao động

Các giới hạn của việc phân công lao động

Tải bản đầy đủ - 0trang

T’: Thời gian của chu trình mới

Nếu các chu trình lao động chiếm thời gian bằng nhau thì chọn phương án phân

cơng lao động trong đó thời gian hoạt động tác nghiệp của thiết bị tăng. Khi tính tốn

hiệu quả không được chỉ xuất phát từ công việc của mỗi người thực hiện riêng lẻ mà

phải đồng thời tính đến những thay đổi trong việc sử dụng thời gian lao động của

nhiều người có quan hệ với nhau trong việc thực hiện một chu trình lao động, kể cả

những người phục vụ nơi làm việc.

Chú trọng tới yếu tố tâm lý: Xét dưới góc độ tâm lý học việc phân cơng lao động

sẽ ảnh hưởng đến tính súc tích của cơng việc và dẫn đến tính đơn điệu trong lao động

Tính súc tích của lao động:

- Theo quan điểm tâm lý học: Tính súc tích của cơng việc là đặc trưng cơ bản của

lao động

- Tính súc tích của lao động phụ thuộc vào:

+ Sự đa dạng của công việc

+ Sự đa dạng của các phương thức thực hiện công việc

+ Sự có mặt của các chức năng mà nó đòi hỏi hoạt động tích cực sáng tạo của

con người.

- Do sự tiến bộ của kỹ thuật trong thế kỷ qua đã dẫn đến sự phân công lao động

và sự chun mơn hố cao trong lao động. Điều đó đã dẫn đến sự súc tích của lao động

bị giảm sút. Khi tính súc tích của lao động bị giảm sút sẽ dẫn đến tính đơn điệu trong

lao động

Tính đơn điệu trong lao động:

- Hiện nay có hai quan niệm khác nhau về tính đơn điệu trong lao động:

+ Tính đơn điệu là đặc điểm khách quan của bản thân quá trình lao động

+ Tính đơn điệu là một trạng thái tâm lý của con người. Trạng thái tâm lý này là

hậu quả của sự đều đều trong công việc.

Các nhà tâm lý học Mỹ thường theo quan niệm thứ hai. Thí dụ T.W.Harrel đã cho

rằng: “Tính đơn điệu là một trạng thái của trí tuệ, do việc thực hiện các nhiệm vụ lặp

đi lặp lại gây nên.”

Do quan niệm khác nhau về tính đơn điệu nên các nhà tâm lý học tìm kiếm các

con đường chống lại tính đơn điệu theo hai hướng khác nhau: Tổ chức lại quá trình lao

động và tìm cách chống lại tính đơn điệu ở bên ngồi bản thân q trình lao động

Trang 12



- Tính đơn điệu trong lao động là một hiện tượng tất yếu xảy ra do sự tiến bộ

của kỹ thuật, đòi hỏi nhà quản lý phải phân chia nhỏ quá trình lao động, chun mơn

hố trong lao động.

Trong một mức độ đáng kể, tình trạng này là một quy luật. Quy luật này có lợi

hay có hại cho người lao động?

Các nhà tâm lý học lao động ở các nước cũng có nhiều quan điểm khác nhau về

vấn đề này:

+ Một số nhà tâm lý học cho rằng tính đơn điệu trong lao động khơng có hại đối

với người lao động mà nó là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển nhân cách. Thí dụ như

quan điểm của N.Valentinova- nhà xã hội học Liên Xơ: “Khơng phải chỉ có sự khắc

phục tính đơn điệu của lao động do sự phân chia nhỏ q trình lao động, mà sự sử

dụng nó cũng đem lại khả năng giáo dục nhân cách, giáo dục sự tìm tòi sáng tạo của

người lao động”.

+ Một số nhà tâm lý học cho rằng bất kỳ trường hợp nào tính đơn điệu trong lao

động cũng ảnh hưởng xấu tới người lao động: Mất hứng thú đối với công việc, sự mệt

nhọc xuất hiện sớm trong ngày làm việc, cảm giác ngày làm việc dài hơn.

+ Nhiều nhà tâm lý cho rằng việc chia nhỏ quá trình lao động khơng phải bao giờ

cũng có lợi và khơng phải bao giờ cũng có hại. Nhiều cơng trình nghiên cứu của các

nhà tâm lý học đã khẳng định phải xác định giới hạn cho phép của tính đơn điệu đến

đâu là có lợi và đến đâu là có hại.

- Những cơng trình nghiên cứu của viện khoa học về lao động của Liên Xô đã

cho phép xác định mức độ cho phép của tính đơn điệu và các con đường khắc phục

ảnh hưởng xấu của nó tới người lao động

Các nhà khoa học đã nêu nguyên tắc phân chia nhỏ quá trình lao động dựa trên

thời gian của thao tác lao động kết hợp với số lượng, nội dung và tính chất của các

thành phần cấu tạo nên thao tác làm tiêu chuẩn cho mức độ đơn điệu của thao tác lao

động. Cụ thể là thời gian thao tác lao động 30 giây là thời gian tới hạn. Một thao tác

lao động cần phải bao gồm không dưới 5 thành phần khác nhau

- Các biện pháp ngăn ngừa ảnh hưởng xấu của công việc đơn điệu:

+ Hợp nhất nhiều thao tác ít súc tích thành những thao tác phức tạp, đa dạng hơn

+ Luân phiên người lao động làm các thao tác lao động khác nhau

+ Thay đổi nhịp độ của các động tác

Trang 13



+ Đưa chế độ lao động và nghỉ ngơi có cơ sở khoa học vào lao động và sử dụng

thể dục trong lao động sản xuất

+ Sử dụng các phương pháp lao động thẩm mỹ khác nhau trong thời gian lao

động sản xuất, nhất là âm nhạc

+ Nghiên cứu sử dụng các hệ thống khen thưởng vật chất và tinh thần một cách

chính xác.

* Giới hạn xã hội học của việc phân công lao động:

Sự hoạt động của con người trong xã hội rất phong phú và đa dạng. Nó khơng chỉ

đóng khung trong một lĩnh vực lao động trí óc hoặc lao động chân tay, mà thường

xuyên có sự kết hợp chặt chẽ với nhau. Vì vậy việc phân cơng lao động phải bảo đảm

tính chất phong phú của nội dung, tính hấp dẫn của công việc, bảo đảm các điều kiện

để phát huy những khả năng sáng tạo của con người, phải chú ý đến mặt hình thành

khuynh hướng nghề nghiệp của mỗi người trong lao động.

3. Đặc điểm tâm lý chung của những người lao động cấp dưới

Ta phải xem xét đến một số mẫu người lao động với đặc tính tâm lý khác nhau và

cần sử dụng cho họ các biện pháp quản lý lao động khác nhau. Chúng ta phải chú ý

đến 4 loại người cấp dưới sau đây:





Người thành đạt: người có ý thức bản thân rất cao có khả năng tự quản lý,

điều chỉnh hành vi của mình, ít cần đến xung đột bên ngoài hoặc tiền

thưởng. Người lãnh đạo ít khiển trách, khen thưởng cho những người mới

vào làm, các nhận xét của lãnh đạo cũng phải thận trọng, tạo điều kiện để

họ tự do làm việc, phát huy sáng kiến. Nếu chúng ta khơng biết khai thác,







khuyến khích họ thì có thể họ trở thành dạng người bất kham.

Người bất kham: có nhiều nguyên nhân dẫn đến loại người này do không

được tạo điều kiện cải tiến hay sáng chế. Người lãnh đạo phải có nghệ

thuật tinh xảo trong việc quản lý họ, sẵn sàng thỏa mãn đòi hỏi của họ,

song ln dặt ra các u cầu cao, kiềm chế hết sức khắt khe và đạt trách

nhiệm hết sức nặng nề. Dùng thủ thuật “lấy cái tât, khống chế cái bất







kham”

Kiểu người khơng thay thế được: người lộng hành có khả năng trở thành

siêu thủ trưởng. Có nhiều biện pháp để loại bỏ hạn người này nhưng yêu

cầu thủ trưởng phải sáng suốt, cam đảm có trách nhiệm trước tổ chức.

Trang 14







Nhân viên yếu kém: loại nhân viên mang tính ăn bám, ăn vạ, cùn lì. Đói

với loại người này người cán bộ cần phải có biện pháp kiên quyết, lãnh

đạo cứng rắn thì sẽ loại được.



II. ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG

Định mức lao động là đề ra tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng công việc phải

đạt được trong một đơn vị thời gian.

Như vậy về nguyên tắc, định mức lao động là xác định sự hao phí cần thiết về

thời gian để thực hiện một công việc.

Định mức lao động phải dựa trên cơ sở kỹ thuật nghĩa là phải xây dựng trên cơ

sở những thông số của thời gian, của phương tiện lao động, đối tượng lao động,

phương pháp thao tác hợp lý và trình độ hiểu biết về khoa học lao động, tổ chức

lao động.

- Về thời gian: Phải tính đến sự hao phí thời gian đã được quy chế hố trong thực

hiện các hành động lao động có liên quan với nhau về mặt kỹ thuật.

- Về thiết bị: Các thông số làm việc của các thiết bị như số lượng máy, tình trạng

máy, cơng suất máy, chế độ làm việc của máy…

- Về thủ thuật lao động: Thủ thuật bằng tay, thủ thuật khi sử dụng máy, các cử

động hợp lý, cử động thừa

- Trình độ tổ chức lao động: Lập kế hoạch lao động, phân công và hợp tác lao

động, bố trí nơi làm việc, phục vụ nơi làm việc, cải thiện các điều kiện lao động…

Định mức lao động phải dựa trên cơ sở kinh tế, nghĩa là phải nghiên cứu ngày

công lao động, thời gian lao động, thời gian lao động kinh tế nhất, tính đến các yếu tố

phẩm chất vật liệu, cách sử dụng vật liệu, hợp lý hoá dây chuyền lao động…

Định mức lao động phải dựa trên cơ sở tâm sinh lý, nghĩa là phải xác định được

khả năng của con người khi thực hiện mỗi yếu tố của cơng việc, sự hao phí về thể lực

của con người trong khi thực hiện một công việc. Những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng

trực tiếp đến hoạt động sinh lý của người lao động trong khi làm việc và ảnh hưởng

đến khả năng làm việc của con người

Định mức lao động phải dựa trên cơ sở đảm bảo sự thống nhất giữa quyền lợi cá

nhân và quyền lợi tập thể. Song song với việc định mức lao động phải xây dựng một



Trang 15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các giới hạn của việc phân công lao động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×