Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I Phương pháp đánh giá và cải thiện điều kiện chiếu sáng

I Phương pháp đánh giá và cải thiện điều kiện chiếu sáng

Tải bản đầy đủ - 0trang

1. Ánh sáng thiếu

* Đánh giá ánh sáng thiếu

- Đo cường độ chiếu sáng trung bình nơi làm việc

- Nhìn thấy bóng, nhất là xung quanh vị trí làm việc và lối đi lại

- Hỏi cơng nhân có những triệu chứng căng thẳng mắt hay phải nheo mắt để

nhìn khơng

* Điều chỉnh ánh sáng thiếu



- Định kỳ thay thế bóng đèn theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Những bóng đã

cũ phải được thay mới ngay, trước khi nó bị cháy.

- Định kỳ làm sạch nguồn chiếu sáng. Bụi và bẩn phủ trên nguồn sáng làm giảm

cường độ chiếu sáng.

- Bố trí thêm nguồn sáng ở những nơi thích hợp.

- Sơn tường và trần màu sáng để ánh sáng có thể được phản xạ tốt.

- Sử dụng sự phản xạ ánh sáng và ánh sáng cục bộ để loại trừ hiện tượng bị

bóng.

- Khơng bố trí vị trí làm việc với nguồn sáng phía sau cơng nhân.

2. Ánh sáng chói

Ánh sáng chói là vấn đề hay gặp, xảy ra khi có nguồn ánh sáng chói hoặc do

phản xạ ánh sáng cao trong tầm nhìn chi tiết của cơng nhân. Trong hầu hết trường hợp,

mắt của sẽ tự điều chỉnh để thích nghi mức độ ánh sáng chói. Khi hiện tượng thích

nghi xảy ra, mắt sẽ trở nên khó để nhìn chi tiết vùng mờ và tối khu vực xung quanh vị

trí làm việc.

Trang 61



Ánh sáng chói gây ra căng thẳng và khó chịu khi làm việc và sẽ dẫn đến giảm

khả năng nhìn của một người. Ngun nhân gây chói gồm 2 loại: trực tiếp và gián tiếp.

- Nguyên nhân gây chói gián tiếp:

+ Những phản xạ ánh sáng chói từ bề mặt nhẵn, bóng hoặc sáng

+ Phản xạ từ kính của khung tranh hay cửa sổ mờ

+ Phản xạ của màn hình

- Ngun nhân gây chói trực tiếp:

+ Ánh sáng rất chói từ vị trí nguồn sáng khơng tốt (đặt sai vị trí, khơng

có chụp che chắn), góc mắt - đèn thấp

+ Ánh sáng mặt trời

2.1 Các cách phát hiện nguồn gây chói

-



Phát hiện nguồn gây chói trực tiếp: Ngồi tại vị trí lao động, nhìn vào chi tiết



thao tác với khoảng cách mắt có thể nhìn rõ theo mặt phẳng ngang, sau đó dùng tấm

bìa hoặc quyển sách che hướng chiếu của nguồn sáng phía trước. Nếu chi tiết nhìn

thấy dễ hơn thì chắc chắn nguồn sáng được che đó gây chói.

-



Phát hiện nguồn chói gián tiếp: ngồi tại vị trí làm việc, che nguồn sáng phía trên



đầu, nếu thấy chi tiết nhìn dễ hơn thì vị trí đó có vấn đề về phản xạ gây chói.

-



Các cách phát hiện chung:

+ Đặt một chiếc gương lên bề mặt làm việc, nếu có phản xạ ánh sáng từ phía



trên, thì nguồn sáng đó có khả năng gây chói.

+ Đo góc mắt - đèn để đánh giá chói trực tiếp.

+ Tìm các vật dụng gây chói: mặt kính, mặt bàn sáng bóng, màn hình bóng…

+ Hỏi cơng nhân về những triệu chứng mệt mỏi đau nhức mắt, đau đầu hay phải

cố nheo mắt để nhìn.

Trang 62



2.2 Điều chỉnh vấn đề chói

- Sử dụng vài nguồn sáng cường độ nhỏ tốt hơn dùng một nguồn sáng cường độ

cao.

- Sử dụng nguồn sáng có sự khuếch tán ánh sáng tốt hoặc ánh sáng được tập

trung. Dùng nguồn sáng gián tiếp hoặc nguồn sáng trực tiếp có chụp parabol được ưa

dùng.

- Các bóng đèn được che chắn tốt bởi các chụp đèn.

- Tăng ánh sáng ở khu vực xung quanh nguồn gây chói.

- Sử dụng chiếu sáng cục bộ có thể tự điều chỉnh được độ sáng.

- Bố trí vị trí nguồn sáng thích hợp để làm giảm phản xạ ánh sáng tới mắt.

- Sử dụng bề mặt thao tác bằng các vật liệu mờ, ít bóng, màu sơn tường có độ

bóng ít. Loại bỏ những đồ vật có tính chất bóng và sáng cao.

- Giữ cường độ chiếu sáng chung theo tiêu chuẩn được khuyến cáo

- Bố trí vị trí lao động hợp lý, phối hợp với cửa sổ và bóng đèn huỳnh quang

được lựa chọn tốt cho thị lực.

3. Độ tương phản khơng thích hợp

Có 2 kiểu của vấn đề tương phản

- Tương phản do cường độ chiếu sáng khác nhau: khi có nhiều mức độ chiếu sáng khác



nhau từ vùng này sang vùng khác trong khu làm việc, nếu khu vực xung quanh sáng

hơn khu vực làm việc thì sự tập trung chú ý sẽ bị giảm trong vùng làm việc.

- Tương phản do màu sắc giữa các chi tiết thao tác: ví dụ như mực in trên giấy, ký hiệu

và nền trên màn hình, nếu tương phản q ít thì làm cho nhiệm vụ đọc và quan sát khó

khăn hơn. Trong công nghiệp nếu các chi tiết chuyển động của máy gần tựa màu nhau

thì sẽ khó để nhận biết hơn.



Trang 63



3.1 Xác định sự tương phản không tốt

- Quan sát các khu vực xung quanh thấy mức chiếu sáng khác nhau lớn.

- Quan sát thấy các chi tiết thao tác khó phân biệt so với màu nền làm việc. Các

cơng việc phải nhìn các chữ và ký tự khó so với nền như nhìn trên màn hình, vật liệu.

3.2 Điều chỉnh tương phản không tốt

- Tăng tương phản giữa chi tiết và nền: sử dụng bút viết mực hơn là bút chì, viết lên



giấy màu trắng hơn là màu xám. Điều chỉnh độ sáng máy photo, chỉnh độ sáng và

tương phản của màn hình quan sát.

- Giảm phản xạ chói: sử dụng bề mặt làm việc bằng chất liệu mờ, di chuyển những vật

gây chói ra khỏi trường nhìn.

- Sử dụng màu tương phản nhau giữa chi tiết và nền. Màu sơn của bộ phận cố định và

bộ phận chuyển động của máy tương phản nhau, tạo điều kiện quan sát tốt, làm giảm

nguy cơ tai nạn.

4. Phân bố ánh sáng không đồng đều

Khi ánh sáng bị phân bố không đồng đều, các phần của trần nhà và vùng xung

quanh trở nên tối và mờ hơn. Điều này sẽ gây sự điều tiết mắt khác nhau khi nhìn từ

vùng này sang vùng khác, làm cho khó phát hiện và thao tác các chi tiết.

4.1 Phát hiện ánh sáng khơng đồng đều

- Tìm các vùng tối trong xưởng và vùng phân bố ánh sáng không đồng đều.

- Đo cường độ ánh sáng tại nhiều điểm khác nhau trong khu xưởng, giá trị

cường độ ánh sáng điểm đo được phải tối thiểu từ 2/3 giá trị cường độ ánh sáng chung.

4.2 Điều chỉnh ánh sáng không đồng đều

- Bổ sung hoặc thay thế nguồn chiếu sáng

- Sơn trần và tường màu sáng có phản xạ ánh sáng tốt

Trang 64



- Làm sạch trần, tường và nguồn sáng

5. Nhấp nháy ánh sáng

Nhấp nháy ánh sáng là hiện tượng thay đổi nhanh và liên tục của cường độ ánh

sáng làm cho ánh sáng bị chập chờn.

Các loại đèn sử dụng nguồn điện xoay chiều với tần số 50 (60)Hz, đều dao

động có chu kỳ với tần số 100 (120)Hz trong một giây. Tức nghĩa nguồn sáng được bật

tắt khoảng 100 (120) lần trong một giây, hay dao động phát sáng khoảng 50 (60) lần

trong một giây, gây lên sự nhấp nháy ánh sáng. Đối với đèn huỳnh quang cũng hoạt

động trên cơ sở thay đổi tức thì (sự dao động phát sáng) nên gây nên sự nhấp nháy ở

tần số chính 50 (60)Hz. Sự nhấp nháy này rất nhanh và ở trên ngưỡng gây tần số nhấp

nháy bình thường của mắt người, vì vậy khơng nhìn thấy được, tuy nhiên các giác

quan của con người vẫn có thể cảm nhận và bị ảnh hưởng trực tiếp từ tần số nhấp nháy

này.

Sự ảnh hưởng của hiện tượng nhấp nháy ánh sáng đến sức khỏe và năng suất

lao động còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

+ Có xảy ra thường xun hay khơng

+ Loại bóng đèn được dùng (hệ thống chiếu sáng bằng đèn sợi tóc, đèn huỳnh

quang hoặc đèn cao áp HID - high intensity discharge)

+ Cường độ ánh sáng khu vực xung quanh vị trí làm việc

5.1 Các trường hợp có thể nhìn thấy nhấp nháy ánh sáng

-



Phụ thuộc loại bóng đèn được dùng:

Hiện tượng nhấp nháy phụ thuộc loại bóng đèn, sự nhấp nháy dao động ít ở



bóng đèn sợi tóc và huỳnh quang, còn hiện tượng nhấp nháy ở đèn thủy ngân cao áp,

đèn halogen kim loại và bóng đèn natri có vỏ trong suốt dễ nhận biết hơn.



Trang 65



Ở một số bóng đèn huỳnh quang có thể nhìn thấy hiện tượng nhấp nháy ở hai

cực phần cuối của bóng, bởi vậy khi dùng đèn huỳnh quang thường phải có chụp che

được hai đầu của bóng đèn.

-



Khi tần số nhấp nháy ánh sáng bị giảm dưới ngưỡng:

Thông thường tần số nhấp nháy của bóng đèn ở giá trị lớn nhất, lớn hơn hoặc



bằng 50Hz, sau một thời gian nó giảm dần. Hiện tượng nhìn thấy nhấp ánh sáng phụ

thuộc vào tần số nhấp nháy. Con người có thể bắt đầu cảm nhận được khi tần số nhấp

nháy dưới 50Hz và hầu hết mọi người đều thấy rõ nhấp nháy trong khoảng tần số từ

10-25Hz.

Trường hợp này xảy ra khi các bóng đèn khơng tốt, đã cũ hoặc bị lão hóa sẽ gây

hiện tượng nhấp nháy ánh sáng ở tần số mắt bắt đầu cảm nhận được, do vậy cần phải

thay thế bóng mới ngay.

- Khi có sự thay đổi điện áp lớn:

Trong các xưởng sản xuất, khi bật tắt các thiết bị điện tiêu thụ nguồn điện năng

lớn như các máy móc lớn, máy hàn, máy chụp chiếu trong y học…, làm thay đổi điện

thế mạnh gây nên nhấp nháy ánh sáng.

Thông thường sự dao động điện thế thường nhỏ ít gây ảnh hưởng. Tuy nhiên,

trong các văn phòng, phòng hành chính thì chỉ cần điện thế dao động nhỏ khoảng 10%,

tức giảm khoảng 5-15Hz, cũng đủ gây ra tần số nhấp nháy khó chịu.

Điều này có thể giảm được bằng dùng bộ cân bằng điện thế.

-



Do hiệu ứng hoạt nghiệm “stroboscopic effect”

Hiệu ứng hoạt nghiệm xảy ra trên các máy móc chuyển động quay và các vật



chuyển động khác gây khó chịu nếu cơng việc cần u cầu chú ý cao. Có thể nguy

hiểm khi hiệu ứng hoạt nghiệm này xuất hiện ở các bộ phận quay của của máy móc,

bởi có thể gây nên cảm giác vận tốc di chuyển bị giảm, ngừng quay hay đảo chiều

quay, gây mất an toàn và tai nạn lao động.



Trang 66



Điều này có thể tránh bằng cách dùng đèn sợi tóc cục bộ để chiếu sáng các chi

tiết di chuyển quay của máy móc.

Ngồi ra, những nhấp nháy khơng nhìn thấy và hiệu ứng hoạt nghiệm có thể

phần lớn tránh được bằng cách sử dụng 2 hoặc nhiều hơn ống đèn lệch pha nhau. Với

đèn bật 3 pha, sự nhấp nháy ít hơn đèn sợi tóc. Đưa ra đề xuất trong phòng làm việc

bình thường khơng bao giờ nên được chiếu sáng bởi một bóng đèn huỳnh quang đơn

mà cần chiếu sáng bởi từ 2 bóng đèn huỳnh quang lệch pha nhau. Khi đèn huỳnh

quang xuất hiện nhấp nháy nhìn thấy thì phải thay bóng đèn ngay.

5.2 Ảnh hưởng của hiện tượng nhấp nháy ánh sáng

Cả 2 loại nhấp nháy nhìn thấy và khơng nhìn thấy đều hại với mắt. Tiếp xúc lâu dài

gây ra đau đầu và các triệu chứng căng thẳng mắt. Các nghiên cứu đã chỉ ra là sự nhấp

nháy khơng nhìn thấy được từ đèn huỳnh quang có thể làm tăng các dấu hiệu mệt mỏi

sinh lý và giảm hiệu quả lao động rõ rệt.

Để phòng tránh những tác hại này, trong từng trường hợp cụ thể chúng ta phải

sử dụng các biện pháp điều chỉnh hợp lý như những phân tích ở trên, nhằm giảm sự

ảnh hưởng của hiện tượng nhấp nháy ánh sáng cho người lao động.



CHƯƠNG VII. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC ECGÔNÔMI KHI THIẾT KẾ VỊ TRÍ

LAO ĐỘNG ĐỨNG VÀ NGỒI

1. Lao động đứng

* Những thuận lợi của lao động đứng

- Có thể phát huy lực lớn hơn

- Di động dịch chuyển được nhiều hơn

- Vùng với tới của tay được rộng hơn (35 cm ở mỗi bên của cơ thể)

- Có thể bê được những vật nặng (nặng trên 4,5 kg)

* Những bất lợi của lao động đứng

- Đòi hỏi gắng sức cơ tĩnh để duy trì các khớp ở chân, đầu gối và đùi khi đứng

Trang 67



- Diện tích chân đế nhỏ hơn (là diện tích 2 bàn chân) so với tư thế ngồi (là diện tích

của chân ghế) nên tư thế đứng kém bền vững hơn.

- Yêu cầu tiêu hao năng lượng lớn hơn

* Điều kiện để đảm bảo tư thế đứng tối ưu

- Giữ thân mình thẳng, chân đế phân bố đều cả 2 chân

- Có khả năng thay đổi được tư thế

- Có khả năng nghỉ ngắn ở tư thế ngồi

- Không sử dụng bàn đạp (khi cần phải dùng thì thì hạn chế số bàn đạp đến mức tối đa

và dễ thao tác).

- Có khơng gian vận động thích hợp

2. Lao động ngồi

Tư thế lao động ngồi là tư thế lao động chính phổ biến và thuận lợi hơn so với

tư thế đứng, tuy nhiên cần phải có ghế ngồi tốt phù hợp với công việc và người lao

động. Ghế ngồi tồi, thiết kế không phù hợp sẽ gây nên các vấn đề cho cột sống, cho hệ

tuần hoàn, và các vấn đề về hô hấp.

* Những thuận lợi của lao động ngồi

- Ít mệt mỏi hơn so với lao động đứng; chỉ cần chống đỡ cho thân để duy trì tư thế

ngồi

- Có mức độ vững chắc cao

- Có khả năng tốt hơn thực hiện những cơng việc đòi hỏi chính xác và tinh xảo

- Sử dụng được cả 2 chân để thao tác điều khiển bằng chân

- Thao tác điều khiển chân được chính xác

- Phát huy lực lớn trong điều khiển bằng chân

* Những bất lợi của lao động ngồi

- Ngồi làm việc lâu và liên tục gây nên mệt mỏi (như bất kỳ tư thế kéo dài nào)

- Có thể gây ra đau vùng thắt lưng ( khi ngồi xuống xương chậu sẽ quay ra sau tạo nên

thế gù – kyphosis- của cột sống ngược lại với thế ưỡn lưng – lordosis- khi đứng

thẳng).

* Điều kiện để đảm bảo tư thế ngồi tối ưu

- Có khả năng thay đổi được tư thế



Trang 68



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I Phương pháp đánh giá và cải thiện điều kiện chiếu sáng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×