Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I Lịch sử phát triển Ecgonomi

I Lịch sử phát triển Ecgonomi

Tải bản đầy đủ - 0trang





Đầu thế kỷ XX Taylor gắn liền với các nghiên cứu khoa học với mọi hoạt động







lao động của con người.

Năm 1857 tác giả Wojciech Jastrzebowski đã có bài báo đề cập đến “Ecgonomi

như là một lĩnh vực khoa học về lao động dựa trên cơ sở nguyên lý của Khoa

học tự nhiên”.

 Ecgonomi thời kỳ sơ khai của loài người: mang tính chất thích nghi cá

nhân để phục vụ cuộc sông leo tréo hái lượm

 Ecgonomi thời kỳ trước chiến tranh thế giới thứ nhất: dưới sự áp dụng

triệt để của chủ nghĩa Taylor.

 Ecgonomi thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất: phục vụ cho sự hoàn

thiện vũ khí thơ sơ

 Ecgonomi thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai: hồn thiện và đa dạng hóa



vũ khí chiến tranh

• Năm 1911 Gilbreth nhận định rằng các thành tựu kinh tế của xí nghiệp cũng

như sức khỏe của người lao động phụ thuộc vào mối tương hổ giữa người với

điều kiện môi trường xung quanh. Gilbreth đã đưa ra thuyết “ Thời gian và

nghiên cứu chuyển động”

• Năm 1920 – 1930 là những năm phát triển mạnh của sinh lý lao động, tâm lý

lao động và vệ sinh lao động. Người ta bắt đầu tính tốn các khả năng của con

người trong thiết kế máy móc để vận hành một cách dễ dàng. Một phương

châm mới được đưa ra là “ Làm thích nghi máy móc với con người” (adaptation

of the machine to the man)

• Ở Nhật Bản sau khi thành lập hội nghiên cứu Ecgonomi (1963) rất nhiều nhóm

nghiên cứu khác nhau được hình thành trong các ngành đường sắt, giao thông,

vận tải, hàng không. Trong sản xuất công nghiệp hiện đại, nghiên cứu

Ecgonomi đã trở thành cần thiết và quan trọng tới mức khơng thể khơng thừa





nhận rằng Ecogonomi đã trở thành một dạng thần thánh ở nước Nhật.

Năm 1954, Hội Ecgonomi quốc tế (IEA) cũng đã được thành lập và tính đến

tháng 9 năm 2008 đã có 46 Hơi thành viên và 2 Hội thành viên liên kết.



2. Ecgonomi ở Việt Nam





Người đạt nền móng cho Ecgonomi ở Việt Nam là PGS.BS Bùi Thụ năm 1964.

Những năm 60 – 70 của thế kỷ trước, vấn đề Ecgonomi cũng được bắt đầu nêu

lên và được nghiên cứu ứng dụng trong quá trình phát triển đất nước. Ban đầ

Trang 47



Ecgonomi được đạt ra chủ yếu từ góc độ tổ chức lao động khoa học, cải tiến

thao tác và định mức lao động.

• Năm 1977 cuốn Ecgonomi của giáo sư W.T.Singleton được Bác sĩ Bùi Thụ dịch

ra tiếng Việt.

• Năm 1983. Cuốn sách “Nhân trắc E” của Bùi Thụ và Lê Gia Khải đã được

NXB Y học in ra. Đây là cuốn Atlas nhân trắc học đầu tiên của Việt Nam với 95

kích thước khác nhau của 2132 nam và 1972 nữ lứa tuổi lao động.

• Năm 1986 cuốn Atlas “ Nhân trắc học người Viêt Nam trong lứa tuổi lao động”

NXB KH & KT xuất bản. Đến năm 1991 thì phần hai được xuất bản. Một số

tài liệu giảng dạy phân tích, nhiều báo cáo kết quả nghiên cứu được cơng bố

trong các kỷ yếu cơng trình khoa học, trên các tạp chí hoặc các Hội Thảo khoa

học quốc tế và quốc gia

• Giai đoạn 1981 – 1985 về vấn đề ứng dụng Ecgonomi vào bảo hộ lao động và

áp dụng các dữ liệu nhân trắc học vào q trình lao động nhằm cải thiện điều







kiện làm việc cho cơng nhân.

Từ năm 1985 phòng thí nghiệm Ecgonomi thuộc viện y học được thành lập.

Trong lĩnh vực đào tạo Ecgonomi được đưa vào dạy chính khóa tại các trường

đại học. Chúng ta đã đưa vào phương pháp cải thiện điều kiện làm việc trong

các doanh nghiệp nhỏ và vừa phương pháp WISE của tổ chức lao động quốc tế

ILO.



II. Định nghĩa về Ecgonomi

Thuật ngữ Ergonomisc (theo tiếng Anh) xuất phát từ gốc tiếng Hy

Lạp: “ergo” - nghĩa là công việc, lao động và “Nomos” - nghĩa là qui luật. Xuất xứ đó

đã cho chúng ta thấy ý nghĩa của Ergonomis - mà theo cách dịch ra tiếng Việt đã được

công nhận trong các tiêu chuẩn và từ điển ở nước ta là Ecgônômi - là khoa học nghiên

cứu về những qui luật của lao động. hay nói 1 cách khác là nghiên cứu mối quan hệ

giữa con người và lao động. Nói về con người, chúng ta hiểu bao gồm các vấn đề về

hình dáng, kích thước, sự cấu tạo được gọi chung là các đặc điểm giải phẫu; các quá

trình sinh học ở bên trong duy trì sự tồn tại của cơ thể gọi chung là các đặc điểm sinh

lý, cơ sinh; và các đặc điểm về sự đáp ứng của cơ thể đối với môi trường xung quanh

gọi là các đặc điểm tâm lý. Nói về lao động, chúng ta hiểu bao gồm các nhiệm vụ phải

hoàn thành, các động tác, thao tác, các bước công việc phải làm, các phương pháp



Trang 48



trong lao động, các dụng cụ, thiết bị, máy móc, bố trí chỗ làm việc và mơi trường nơi

làm việc.

Hiện nay đã có rất nhiều định nghĩa về Ecogonomi được đưa ra bởi các cá

nhân tổ chức khác nhau, có thể nêu một số định nghĩa như sau Hội Ecogonomi quốc tế

(IEA) đã đưa ra định nghĩa như sau: : “Ecgônômi (hay các yếu tố con người) là một

ngành khoa học liên quan đến việc nghiên cứu sự tương thích giữa con người và các

yếu tố khác của hệ thống và công việc bằng cách áp dụng lý thuyết, các nguyên tắc,

các số liệu và các phương pháp để thiết kế nhằm đạt được tối ưu hố lợi ích của con

người và hiệu quả hoạt động chung của toàn hệ thống”. Michael J. Smith, trong Bộ

Bách khoa toàn thư về ATVSLĐ, tập 2, do Tổ chức Lao động quốc tế ILO xuất bản lần

thứ 4, Geneva 1998, đã đưa ra định nghĩa:“Ecgônômi công nghiệp là mơn khoa học về

sự tương thích giữa mơi trường làm việc và các hoạt động nghề nghiệp với khả năng,

kích thước và các nhu cầu của con người. Ecgônômi giải quyết các vấn đề về môi

trường làm việc vật chất, việc thiết kế các công cụ và công nghệ, thiết kế nơi làm việc,

các nhu cầu công việc và tải trọng sinh lý, cơ sinh đối với cơ thể con người. Mục tiêu

của Ecgônômi công nghiệp là nhằm tăng cường tính tương thích giữa những người lao

động, mơi trường làm việc, các công cụ và nhu cầu về nghề nghiệp của họ. Khi tính

tương thích kém thì các vấn đề về stress và sức khỏe có thể xảy ra”. Theo cuốn Từ

điển Lewis về An toàn và sức khoẻ lao động và mơi trường (J.W.Viconli - USA 2000)

thì: “Ecgơnơmi là một hoạt động gồm nhiều nguyên tắc tập trung vào sự tương thích

giữa con người và tồn bộ mơi trường làm việc của họ, với sự quan tâm đến những

người phải chịu stress do phải làm việc trong môi trường nóng, thiếu ánh sáng, ồn,

cũng như những vấn đề liên quan tới các công cụ và thiết bị tại chỗ làm việc.

Ecgơnơmi còn được coi như là các yếu tố con người và những yếu tố kỷ thuật liên

quan đến con người”.

Ở Việt Nam, từ 1990 đã đưa ra tiêu chuẩn về định nghĩa Ecgônômi như

sau:“Ecgônômi là môn khoa học liên ngành nghiên cứu tổng hợp sự thích ứng giữa

phương tiện kỹ thuật và môi trường lao động với khả năng của con người về giải

phẫu, sinh lý, tâm lý nhằm bảo đảm cho lao động có hiệu quả nhất, đồng thời bảo vệ

sức khỏe, an toàn và tiện nghi cho con người”.

Như vậy là tuy các định nghĩa đưa ra khơng hồn tồn thống nhất về câu từ,

song về cơ bản các khái niệm được nêu lên với những ý cốt lõi giống nhau. Điều đó

Trang 49



cho thấy, về bản chất, Ecgônômi nghiên cứu hoặc sử dụng các thông tin liên quan đến

cấu trúc cơ thể của con người gồm các khả năng và giới hạn thể lực, các kích thước và

đặc điểm cơ của cơ thể, các đặc điểm sinh lý, đặc điểm hoạt động của não bộ và chức

năng của hệ thần kinh trung ương, các đặc điểm tâm lý và hành vi của con người... để

xây dựng nên thành những nguyên tắc hay yêu cầu cho thiết kế môi trường lao động,

thiết kế, chế tạo các đối tượng kỹ thuật, quản lý lao động, tổ chức lao động khoa học,

an toàn vệ sinh lao động nhằm đảm bảo cho lao động hiệu quả nhất và bảo vệ sức

khỏa, an toàn cho người lao động.

1. Mục tiêu của Ecgonomi

Trong mọi hoạt động, Ecgônômi luôn luôn theo đuổi các mục tiêu nhằm tối

ưu hiệu quả hoạt động của hệ thống Con người - Đối tượng kỹ thuật - Mơi trường lao

động, mà ta có thể gọi tắt là hệ thống Người - Máy - Môi trường. Ecgônômi làm thích

ứng lao động với các khả năng của con người về giải phẫu, sinh lý và tâm lý, đảm bảo

cho lao động được tiến hành với hiệu quả cao nhất, với tổn hao sinh học thấp và đảm

bảo an toàn cho con người. Chúng ta có thể hình tượng hóa mối tương thích giữa con

người với đối tượng kỹ thuật như trên sơ đồ



Từ phân tích trên cho thấy mục tiêu của Ecogonomi là:







Hướng tới việc loại trừ mọi nguy hại cho sức khỏe của con người

Hướng tới sự tiện nghi cho con người, tức là làm cho các đối tượng

kỹ thuật phù hợp với các khả năng hữu hạn của con người, có tác

dụng động viên các q trình tâm lý, sinh lý, hạn chế mệt mỏi và

thúc đẩy khả năng lao động lâu dài mà không làm ảnh hưởng đến



sức khỏa của con người

• Hướng tới tối ưu hóa các tổn hao sinh học trong q trình lao động

Trang 50







Làm cho lao động hiệu quả cao (tăng năng suất và chất lượng của lao

đơng)



Vậy, mục tiêu chính của ecgônômi là làm cho công cụ, thiết bị, công việc

phù hợp với con người chứ không phải là làm cho con người phù hợp với công việc,

công cụ, thiết bị.

2. u cầu và ngun tắc chính của Ecgonomi





Đối với khơng gian làm việc và phương tiện lao động: Cấu trúc khơng gian vị

trí làm việc phải đảm bảo an tồn, tiện nghi cho 90% người sử dụng (từ P 5 đến

P95). Tư thế, lực cơ, chuyển động của cơ thể; khả năng tiếp nhận thông tin từ

các phương tiện phản ánh thơng tin, đặc tính chuyển động của cơ thể phải đảm







bảo an tồn và tiện nghi.

Đối với mơi trường lao động: Đảm bảo kích thước khơng gian di chuyển, thao

tác. Trao đổi khơng khí, cân bằng nhiệt, màu sắc, âm thanh, rung động, bức xạ



phải đảm bảo nằm trong giới hạn cho phép.

• Đối với q trình lao động: Bảo đảm an toàn, sức khỏe, tiện nghi để thực hiện

mục tiêu lao động. Loại trừ quá tải và dưới tải – giới hạn trên và dưới của chức

năng sinh lý, tâm sinh lý.

Để đạt được mục đích, đối tượng nghiên cứu của Ecgônômi không đơn

thuần chỉ là con người trong hoạt động lao động, mà ở mọi nơi, mọi chỗ làm việc hay

sinh hoạt, vui chơi giải trí, con người đều chịu tác động của rất nhiều yếu tố xung

quanh. Nếu trong điều kiện sản xuất, đó là sự tác động của thiết bị, máy móc, của

chính q trình cơng nghệ, của việc tổ chức vị trí lao động đó và mơi trường lao động

do chính q trình sản xuất đó tạo nên. Những yếu tố điều kiện lao động này không

ngừng tác động trực tiếp đến người lao động. Bởi vậy, nghiên cứu tác động tương hỗ

giữa con người với điều kiện lao động và từng yếu tố của điều kiện này hay mối tác

động tương hỗ giữa các yếu tố Người-Máy-Môi trường trong nghiên cứu của

Ecogonomi.

Tuy nhiên cũng cần biết rằng trong một số trường hợp đặc biệt, khi con

người hoạt động, sử dụng công cụ, thiết bị để đạt một mục đích cụ thể khác như trong

lĩnh vực quân sự, trong lĩnh vực thám hiểm vũ trụ, chúng ta khơng thể đòi hỏi cơng cụ,

thiết bị (ở đây là thiết bị, khí tài như con tàu vũ trụ, xe tăng, máy bay chiến đấu...) phải

phù hợp, tiện nghi đối với con người, mà chúng ta phải chấp nhận mục tiêu hàng đầu

Trang 51



là tính năng, tác dụng của thiết bị, khí tài đó và cần phải tuyển chọn con người một

cách kỹ lưỡng, bảo đảm phù hợp với những yêu cầu đặt ra của thiết bị, khí tài và phải

huấn luyện, tập luyện cho họ có thể thích ứng để làm việc, thao tác với thiết bị, khí tài

đó. Đây là trường hợp đặc biệt của Ecgônômi.

3. Các hướng phát triển và ứng dụng Ecgonomi

Ecogonomi phát triển theo hai hướng là Ecogonomi dự phòng hay còn gọi

là Ecogonomi thiết kế và Ecgonomi sữa chữa hay còn gọi là Ecgonomi can thiệp.

3.1 Với ý nghĩa dự phòng

Ecgonomi có thể tham gia tích cực trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho

mọi đối tượng, đồng thời hạn chế các tác hại do môi trường và điều kiện lao động

không thuận lợi. Thiết kế một nhà máy, một qui trình cơng nghệ, một cơng cụ phải dựa

trên sự hiểu biết về Ecgonomi, nghĩa là thấy rõ sự hạn chế của khả năng con người,

biết tôn trọng những đặc điểm hình thái, sinh lý, tâm lý của người lao động thì khơng

những tăng được năng suất mà lại còn tránh được cho người lao động các tai nạn và

bệnh tật khơng muốn có. Trong mục đích dự phòng, Ecgonomi can thiệp nay từ giai

đoạn thiết kế.





Địa điểm xây dựng nhà máy: Bản thiết kế phải kèm theo những giải

thích về q trình sản xuất, các yếu tố có thể ảnh hưởng tới việc

nhiễm bẩn khơng khí, đất, nước và lan truyền tiếng ồn sang khu dân

cư và dự kiến cách xử lý,... Nhà Ecgơnơmi tham gia xét duyệt và góp

ý về các tiêu chuẩn vệ sinh-sinh lý và ecgônômi ngay từ khi còn







trong giai đoạn thiết kế.

Thiết kế dây truyền cơng nghệ, máy móc: Thiết kế phải làm giảm

gánh nặng thể lực, tâm thần và gánh nặng do môi trường, đề xuất các

cải tiến để thích nghi gánh nặng lao động và gánh nặng môi trường

đối với khả năng chịu đựng của con người. Muốn làm được điều đó,

ngay từ giai đoạn thiết kế mỗi sản phẩm phải tính đến các đặc điểm

liên quan đến người sử dụng như; tuổi, giới, đặc điểm nhân trắc, thể

lực, trình độ học vấn, phong tục tập quán… Ecgônômi làm nhiệm vụ

cung cấp các thông tin trên, đồng thời giám sát việc thực hiên các

u cầu đó.

Trang 52







Tổ chức lao động khoa học: Ecgơnơmi nghiên cứu định mức lao

động, hoàn thiện và hợp lý hóa các thao tác, áp dụng phương pháp

lao động theo các ngun tắc Ecgơnơmi (tiết kiệm và hợp lý hóa cử

động, thao tác…), quy định chế độ lao động và nghỉ ngơi…

Ecgơnơmi còn nghiên cứu hình thức tổ chức lao động khoa học, cách

bố trí mặt bằng thao tác cho thuận lợi, phù hợp với các ngun tắc







Ecgơnơmi về vùng thao tác và trường thị giác

Tuyển chọn nghề nghiệp: Mặc dù Ecgônômi luôn tuân thủ theo

phương châm làm cho công việc phù hợp với con người, nhưng đối

với một số cơng việc có những đòi hỏi thích nghi nghề nghiệp đặc

biệt thì Ecgơnơmi tham gia tuyển chọn những người có khả năng

thích nghi tốt với nghề nghiệp đó.



3.2 Hướng Ecgonomi sửa chữa

Hướng Ecgonomi sử chữa được phát huy rộng rãi ở những nơi có bất hợp lý

trong q trình lao động, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Do điều kiện và trình độ

kinh tế, đa số các thiết bị máy móc và cơng cụ ở các nước đang phát triển đều nhập từ

các nước phát triển, nơi có các điều kiện kinh tế và xã hội rất khác biệt. Các đặc điểm

về nhân trắc, thể lực, sinh lý, cơ sinh và tâm sinh lý cũng có nhiều điểm khác biệt giữa

các nước, các dân tộc.

Chính vì vậy, trong q trình vận hành các trang thiết bị, máy móc, dụng cụ

nhập khẩu có thể phát sinh các yếu tố bất hợp lý, có hại, nguy hiểm làm ảnh hưởng

đến người lao động và tăng nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bênh nghề nghiệp. Trong

bối cảnh đó, cần có sự can thiệp của Ecgơnơmi bằng những giải pháp cải thiện hợp lý.

Ecgônômi sửa chữa thường được thực hiện theo 4 giai đoạn:





Phát hiện (chẩn đốn) dựa trên sự phân tích các hoạt động nghề



nghiệp (quay phim, chụp ảnh các tư thế làm việc, quan sát biểu

đồ sinh lý, phân tích các sự cố,…)

• Thử nghiệm: Dùng thử nghiệm phân tích các biểu đồ đã chọn.

• Ứng dụng: Cải tạo các bất hợp lý theo các thử nghiệm thành cơng.

• Đánh giá: Quan sát hành vi người lao động dựa vào các hiệu quả

( chất lượng, số lượng, trị giá sản phẩm, an toàn thiết bị, an toàn con

người, sức khỏe, ổn định nhân sự)



Trang 53



CHƯƠNG IV. ECGONOMI VỚI AN TỒN SỨC KHỎE LAO ĐỘNG

Ecgơnơmi là mơn khoa học liên ngành nghiên cứu tổng hợp sự thích ứng

giữa các phương tiện kỹ thuật và môi trường lao động với khả năng của con người về

giải phẩu, tâm lý, sinh lý. nhằm đảm bảo cho lao động có hiệu quả nhất, đồng thời bảo

vệ sức khoẻ, an toàn cho con người.

Ecgơnơmi tập trung vào sự thích ứng của máy móc, công cụ với người điều

khiển nhờ vào việc thiết kế, tuyển chọn và huấn luyện. Ecgônômi tập trung vào việc

tối ưu hố mơi trường xung quanh thích hợp với con người và sự thích nghi của con

người với điều kiện môi trường. Ecgônômi coi cả hai yếu tố bảo vệ sức khoẻ người lao

động và năng suất lao động quan trọng như nhau. Trong Ecgônômi người ta thường

nhấn mạnh tới khái niệm nhân trắc học Ecgônômi tức là quan tâm tới sự khác biệt về

chủng tộc và nhân chủng học khi nhập khẩu hay chuyển giao cơng nghệ của nước

ngồi.

CHƯƠNG V. 10 NGUYÊN TẮC ECOGONOMI

1. LÀM VIỆC Ở TƯ THẾ TRUNG LẬP



Đảm bảo đường cong – S của cột sống



Đảm bảo đường cong sinh lý cột sống dù

đứng hay ngồi. Khi đứng, đặt một chân lên

gác chân để giữ đường cong cột sống phù

hợp.



Làm việc ở tư thế “đường cong C” trong

thời gian dài sẽ gây căng thẳng cho lưng.

Cung cấp tựa lưng tốt sẽ giúp đường cong

cột sống lưng phù hợp.



Trang 54



Tư thế “đường cong V ngược” gây ra sự

căng thẳng cho lưng lớn hơn, thậm chí

ngay cả khi không nâng nhấc vật nặng

Cách phổ biến để cải thiện là sử dụng vật

nâng hoặc nghiêng.



Giữ cổ thẳng

Tư thế cổ vặn hoặc cúi trong thời gian dài

cũng gây căng thẳng tương tự với vùng

lưng.

Cách tốt nhất là thường xuyên điều chỉnh

thiết bị để cổ trong tư thế trung lập.

Giữ khủy tay sát người

Tư thế phù hợp cho cánh tay là giữ khuỷu

tay sát 2 bên cơ thể và vai được thư giãn.



Đây là ví dụ về việc thay đổi bố trí cơng cụ

để tay ở vị trí trung lập.



Giữ cổ tay ở vị trí trung lập

Một cách để giữ bàn tay cùng mặt phẳng

với cánh tay như việc sử dụng kê tay khi

sử dụng con chuột máy tính

Khi lái xe để tay ở vị trí 10 và 2h – Tay hơi

hướng vào trong và về phía trước



Sử dụng kìm liên tục gây căng thẳng nhiều

cho vùng cổ tay. Bằng cách sử dụng kìm

với cán gấp sẽ giữa cho cổ tay ở vị trí

trung lập



2. GIẢM SỬ DỤNG LỰC



Trang 55



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I Lịch sử phát triển Ecgonomi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×