Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I   SINH LÝ LAO ĐỘNG

I   SINH LÝ LAO ĐỘNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

tĩnh lưu lượng này là 3 - 4 lít/ phút, khi làm việc nặng 10 lít/ phút, lao động nặng đặc

biệt 30 - 35 lít/ phút.

Bình thường nhịp tim khoảng 70 lần/ phút. Trong lao động có thể tăng lên hàng

trăm lần/ phút. Huyết áp tăng lên, trị số huyết áp tối đa tăng, thường từ 20 đến

60mmHg. Huyết áp tối thiểu tăng nhẹ hoặc bình thường do dãn mạch ngoại vi. Kết

quả của hoạt động tim mạch và huyết áp làm tăng lượng máu đến cơ. Theo Bacrop thì

ở cơ cẳng chân bình thường chỉ có 2 đến 5 ml máu/ phút tưới cho 1000ml cơ. Trong

lao động lượng máu do áp lực dòng máu ở các tiểu động mạch lên tiểu mao mạch làm

cho số mao mạch hoạt động tăng lên. Bình thường chỉ 30 đến 100 mao mạch hoạt

động trên diện cắt 1 cm2 cơ. Trong lao động số mao mạch hoạt động này có thể tăng

lên đến 300, cơ chế của hiện tượng này là do sự gia tăng bài xuất Adrenalin kích thích

tim và gây co lách. Các sản phẩm trung gian như axit lactic, axit cacbonic... cũng có

khả năng làm giãn mạch, tăng lưu thông máu.



Tiêu hao năng lượng trong lao động



2. Hệ hô hấp

Do nhu cầu cung cấp oxy nên hệ hô hấp cũng hoạt động tăng lên, nhịp độ và biên

độ hô hấp đều tăng. Bình thường nhịp hơ hấp khoảng 20 lần/ phút. Trong lao động có

thể tăng lên 40 lần phút. Biên độ hơ hấp bình thường là 400 - 500ml. Trong lao động

biên độ hơ hấp có thể tăng lên 1 lít. Do nhu cầu cung cấp oxy thường khác nhau trong

lao động nên đáp ứng của hệ hô hấp cũng thay đổi. CO2 và phản xạ thần kinh có vai

trò quan trọng đối với các đáp ứng của hệ hơ hấp trong lao động.

Trang 41









Lao động nhẹ 0,12 - 0,2 lít khơng khí/ phút/ kg cân nặng.

Lao động nặng 0,3 - 0,5 lít khơng khí/ phút/ kg cân nặng.



Như vậy người lao động thể lực sống bình thường cần 6 lít khơng khí/ phút. Lao

động nặng cần tới 15 - 20 lít trong 1 phút. Trong q trình lao động do tiêu thụ nhiều

oxy và thải nhiều cacbonic nên khả năng trao đổi khí phế nang mao mạch cũng tăng

lên, hệ số sử dụng oxy cũng tăng lên (bình thường = 0,3). Thương số hơ hấp cũng tăng

lên (R 1 trong khí thở ra).

Khi nào dự trữ glucogen giảm thì R có thể tụt xuống (0,7 - 0,6).

3. Hệ thống nội môi

Trong lao động các thành phần hữu hình trong máu tăng do phản xạ co lách đẩy

máu ra ngoài biên. Hiện tượng mất nước do bài tiết mồ hôi cũng làm máu cô đặc. Lao

động càng nặng thì lượng bạch cầu toan tính càng giảm, thậm chí hết. Lượng đường

huyết bình thường trong máu là 0,8 - l,2g/ lít. Lao động càng nặng kéo dài thì lượng

đường càng giảm có khi xuống 0,6 - 0,5g/ lít, song ăn uống nghỉ ngơi đường huyết lại

hồi phục. Thông thường dự trữ đường trong máu là 300 - 500g. Nếu lượng này giảm

làm cho lượng đường huyết tụt xuống quá có thể dẫn đến hơn mê.

Các sản phẩm trung gian, đặc biệt là axit lactic thường tăng lên có khi lên hàng

chục lần (bình thường 0,015g%, trong lao động 0,1 - 0,2g%, nếu tăng lên tới 0,4g%

các cơ ở khu vực đó sẽ khơng co được).

4. Hệ bài tiết

Do bài tiết mồ hôi nhiều nên lượng nước tiểu giảm, hiện tượng giãn mạch ngoại

biên làm cho lượng máu qua thận giảm đi tuỳ theo cường độ lao động và sự mệt mỏi

lao động, nhiệt độ môi trường và điều kiện lao động kết hợp với hiện tượng điều hoà

thân nhiệt làm cho lượng mồ hơi được thốt ra có khi tới 3 hoặc 4 lít trong một ca lao

động. Người ta có thể tính được lượng muối trong mồ hơi tồn thân bằng cơng thức

sau: (Dựa vào nồng độ muối ở trong mồ hôi lưng - Công thức Zolina).

Y= 0,893 X - 0,098 (g/l)

Trong đó: Y: Nồng độ muối trong mồ hơi tồn thân.

X: Nồng độ natriclorua trong mồ hơi lưng (g/l)

Rxy = 0,895 (tương quan thuận)

Sxy = 0,292 (tương quan nghịch)

Trang 42



Muốn tính lượng muối cơ thể mất đi ta chỉ cần tính lượng mồ hơi mất nhân với

Y là được kết quả.

Trong mồ hơi thành phần chính là nước (0,98), chỉ còn lại 0,02 là muối vơ cơ

vàsản phẩm chuyển hố, tuy vậy người lao động trong mơi trường nóng mất mồ hơi

nhiều sẽ gây mất cả nước lẫn điện giải, là tiền đề cho các rối loạn sinh lý bệnh lý.

5. Hệ thần kinh

Diễn biến của hoạt động thần kinh trong lao động là một quá trình “ức chế thụ

động - Hưng phấn - ức chế bảo vệ”. Từ ức chế thụ động lúc mới bắt tay vào cơng việc

sau đó có thể nhanh chóng thích nghi, hệ thần kinh chuyển sang giai đoạn hưng phấn,

làm việc thoải mái, năng suất lao động cao. Quá trình hưng phấn này dài hay ngắn tuỳ

thuộc vào sức khoẻ và công việc cũng như môi trường lao động. Sau quá trình hưng

phấn là sự mệt mỏi của thần kinh biểu hiện bằng hiện tượng ức chế, giảm tốc độ dẫn

truyền, ngưỡng đáp ứng thần kinh tăng lên. Người ta gọi hiện tượng ức chế này là ức

chế bảo vệ.

6. Tiêu hao năng lượng và oxy trong lao động

Trong lao động đặc biệt là lao động cơ bắp huy động nhiều oxy để cung cấp

chohoạt động sinh năng lượng là một quá trình đáp ứng hết sức năng động của cơ thể.

Do hệ thống cơ chiếm đến 42% trọng lượng cơ thể nên lao động cơ bắp có thể tăng

tiêuhao năng lượng lên hàng nghìn Kcal/ 24 giờ. Hoạt động của cơ chia ra làm hai giai

đoạn. Giai đoạn đầu không cần sự có mặt của oxy vì chủ yếu là hiện tượng giải

phóngcác dây nối giàu năng lượng như ATP, ADP... cho năng lượng và axit lactic. Giai

đoạn sau là giai đoạn chuyển hoá axit lactic cho năng lượng, giải phóng CO2 và H2O.

Giai đoạn này cần đủ oxy như vậy việc cung cấp oxy tuỳ thuộc vào sự tiêu hao năng

lượng và cũng là do nhu cầu hoạt động cơ bắp. Quá trình sinh năng lượng sẽ kéo theo

hiện tượng gia tăng các hoạt động hô hấp và thần kinh... Thông thường năng lượng

được sinh ra chủ yếu dưới dạng nhiệt (70%) nên nó sẽ làm cho nhiệt độ của thể tăng

lên. Trong lao động nặng oxy cũng thường khơng đủ nên có hiện tượng nợ oxy trong

giai đoạn hồi phục.

Trên cơ sở năng lượng tiêu hao nhiều hay ít, người ta chia hoặc phân loại lao

động ra các mức độ như sau: lao động vừa, lao động nặng, lao động rất nặng, lao động

Trang 43



nặng đặc biệt (năng lượng tiêu hao từ 200 - 3500 Kcal). Riêng lao động trí óc, lao

động căng thẳng thần kinh tâm lý thì khơng dựa vào lượng năng lượng tiêu hao đểđánh

giá.

Trong q trình lao động có rất nhiều cơ quan bị chi phối gây ra những biến đổi

sinh lý lao động đặc thù cần xem xét thêm thông qua các chỉ số sinh lý, sinh hố khác

nhau. Ví dụ: hệ thần kinh thực vật, hệ tiêu hoá, các giác quan...

II. BIỆN PHÁP PHỊNG CHỐNG MỆT MỎI

Để phòng chống mệt mỏi, người ta thường áp dụng các biện pháp tổng hợp sau

đây.

1. Các biện pháp kỹ thuật và lao động học

Thông thường người ta cần lưu tâm nhiều nhất đến các trang bị kỹ thuật tiến bộ

để có thể làm giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân, giảm tối đa tiếp xúc với các

chất độc hại. Ngày nay vấn đề tự động hoá, cơ giới hoá các dây chuyền sản xuất đã trở

nên phổ biến do vậy năng lượng tiêu hao cho các thao tác đã giảm thiểu nhiều vì vậy

hiện tượng mệt mỏi thể chất đã giảm đáng kể. Vấn đề kín hố các dây chuyền sản xuất

có thể giảm thiểu sự phát tán các yếu tố độc hại ra môi trường, gây hại cho người tiếp

xúc. Việc sử đụng người máy kết hợp với kỹ thuật kín hố và tự động hoá trên thực tế

là một minh chứng của nền kỹ thuật cao phục vụ con người trong lao động ở thời kỳ

cơng nghiệp hố, hiện đại hố.

Các biện pháp lao động học ứng dụng để phòng chống mệt mỏi là rất phong

phú. Tuy nhiên trên thực tế sự vận dụng lại không đều ở các dây chuyền sản xuất. Tổ

chức lao động hợp lý cũng góp phần cùng lao động học giảm thiểu hiện tượng mệt

mỏi. Các máy móc phù hợp với hoạt động sinh lý, giải phẫu của người công nhân cũng

là một chỉ tiêu lao động học cần thiết, ví dụ: khoảng cách từ các chi tiết cần thao tác

tới chỗ ngồi, chỗ đứng phù hợp, người lao động chỉ nên ngồi khi nâng vật nặng dưới

5kg, khi thao tác vật nặng trên 20kg nên đứng.

Về các giải pháp lao động học: nên chú ý giảm tối đa các động tác thừa, các

động tác uốn mình trên 200, phối hợp đều các chiều hoạt động với thói quen hoạt động

tự nhiên, ví dụ: xếp các vật nặng theo trọng lực, trong thao tác nên loại trừ hoặc giảm



Trang 44



bớt các vận cơ tĩnh. Cần phối hợp xen kẽ và khoa học giữa thời gian nghỉ người và làm

việc trong cũng như ngoài lao động.

2. Các biện pháp y tế và dinh dưỡng

Tuỳ theo loại hình lao động khác nhau mà có chế độ dinh dưỡng hợp lý, đầy đủ

để cơ thể mau hồi phục. Dinh dưỡng hợp lý, đầy đủ là chế độ dinh dưỡng đáp ứng

được những thiếu hụt, tiêu hao năng lượng và các chất của cơ thể do lao động. Việc bù

đắp thường là khó khăn do vậy khơng nên để lao động quá mệt mỏi, mất cân bằng quá

nhiều đến mức cơ thể không biết bù như thế nào cho đủ, cho đúng. Về biện pháp y tế.

cần lưu ý sắp xếp công việc phù hợp với sức khoẻ người lao động, tổ chức khám

tuyển, khám định kỳ phát hiện các rối loạn bệnh lý và bệnh nghề nghiệp, kịp thời có

biện pháp dự phòng và điều trị. Thời gian khám sức khoẻ định kỳ cũng như tiêu chuẩn

khám tuyển phải phù hợp với công việc của người lao động.

Thường xuyên kiểm tra mơi trường lao động, tiêu chuẩn hố mơi trường và lao

động là rất cần thiết, đặc biệt ở những nước chậm phát triển.



Trang 45



PHẦN 3. ECGONOMI

III



ĐẠI CƯƠNG VỀ ECGNOMI



Trong quá trình lao động, 3 yếu tố: Con người - đối tượng kỹ thuật - Môi

trường lao động luôn có một mối quan hệ, tương thích, tác động đến nhau. Con người

thiết kế, tạo ra và sử dụng các công cụ, phương tiện lao động, đồng thời họ chịu tác

động trở lại của những yếu tố tốt cũng như xấu, bất lợi của công cụ, phương tiện và

các yếu tố môi trường mà họ làm việc. Việc nghiên cứu sự tương thích giữa các đối

tượng kỹ thuật, mơi trường lao động với con người để bảo đảm sao cho con người có

thể lao động có năng suất, chất lượng, an toàn và tiện nghi là nội dung cơ bản của một

ngành khoa học mới - Khoa học Ecgônômi.

Theo tổ chức lao động của Mỹ mô tả Ecgonomi là nghiên cứu về công việc

nhằm làm tăng hiệu quả của lao động, nhưng thực tế có rất nhiều vấn đề phức tạp và

gây ra nhiều rủi ro cho những người lao động khi họ đang sử dụng những phương tiện

lao động gây ra những tổn thương cho họ ở vị trí làm việc.

Thực tế là phấn đấu để tăng năng suất thường đẩy những người lao động đến

bị tai nạn thương tích trong q trình lao động, bởi vì muốn tăng năng suất lao động

thì người lao động phải tăng tốc độ, công việc phải lặp đi lặp lại nhiều lần trong ca lao

động, tăng gánh nặng lao động tĩnh, bị stress do các yếu tố nguy cơ làm việc lặp đi lặp

lại nhiều lần trong ca lao động. Nếu bạn nằm trong một vị trí nào đó của dây chuyền

cơng việc, bạn sẽ không thể phá vỡ được dây chuyền đó, bạn phải theo dây chuyền đó,

tư thế làm việc của bạn sẽ không tốt hoặc do tay nghề của bạn còn non kém, bạn sẽ có

nguy cơ bị tai nạn thương tích do q trình lao động gây ra.

I



Lịch sử phát triển Ecgonomi



1. Lịch sử phát triển của Ecgonomi trên thế giới





Thời kì đồ đá: con người khơng ngừng hồn thiện cơng cụ lao động trong q



trình tiến hóa, đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại và phát triển.

• Thế kỷ XVII, Ramazzini đã lưu ý đến ảnh hưởng bất lợi do các tư thế lao động,

căng thẳng trong rất nhiều ngành nghề.

Trang 46







Đầu thế kỷ XX Taylor gắn liền với các nghiên cứu khoa học với mọi hoạt động







lao động của con người.

Năm 1857 tác giả Wojciech Jastrzebowski đã có bài báo đề cập đến “Ecgonomi

như là một lĩnh vực khoa học về lao động dựa trên cơ sở nguyên lý của Khoa

học tự nhiên”.

 Ecgonomi thời kỳ sơ khai của lồi người: mang tính chất thích nghi cá

nhân để phục vụ cuộc sông leo tréo hái lượm

 Ecgonomi thời kỳ trước chiến tranh thế giới thứ nhất: dưới sự áp dụng

triệt để của chủ nghĩa Taylor.

 Ecgonomi thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất: phục vụ cho sự hồn

thiện vũ khí thơ sơ

 Ecgonomi thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai: hoàn thiện và đa dạng hóa



vũ khí chiến tranh

• Năm 1911 Gilbreth nhận định rằng các thành tựu kinh tế của xí nghiệp cũng

như sức khỏe của người lao động phụ thuộc vào mối tương hổ giữa người với

điều kiện môi trường xung quanh. Gilbreth đã đưa ra thuyết “ Thời gian và

nghiên cứu chuyển động”

• Năm 1920 – 1930 là những năm phát triển mạnh của sinh lý lao động, tâm lý

lao động và vệ sinh lao động. Người ta bắt đầu tính tốn các khả năng của con

người trong thiết kế máy móc để vận hành một cách dễ dàng. Một phương

châm mới được đưa ra là “ Làm thích nghi máy móc với con người” (adaptation

of the machine to the man)

• Ở Nhật Bản sau khi thành lập hội nghiên cứu Ecgonomi (1963) rất nhiều nhóm

nghiên cứu khác nhau được hình thành trong các ngành đường sắt, giao thơng,

vận tải, hàng không. Trong sản xuất công nghiệp hiện đại, nghiên cứu

Ecgonomi đã trở thành cần thiết và quan trọng tới mức khơng thể khơng thừa





nhận rằng Ecogonomi đã trở thành một dạng thần thánh ở nước Nhật.

Năm 1954, Hội Ecgonomi quốc tế (IEA) cũng đã được thành lập và tính đến

tháng 9 năm 2008 đã có 46 Hơi thành viên và 2 Hội thành viên liên kết.



2. Ecgonomi ở Việt Nam





Người đạt nền móng cho Ecgonomi ở Việt Nam là PGS.BS Bùi Thụ năm 1964.

Những năm 60 – 70 của thế kỷ trước, vấn đề Ecgonomi cũng được bắt đầu nêu

lên và được nghiên cứu ứng dụng trong quá trình phát triển đất nước. Ban đầ

Trang 47



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I   SINH LÝ LAO ĐỘNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×