Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Nguyên lý bôi trơn:

b. Nguyên lý bôi trơn:

Tải bản đầy đủ - 0trang

ĐẠI HỌC CƠNG NGHIỆP HÀ NỘI

HĨA



KHOA CƠNG NGHỆ



IV – Ngun liệu sản xuất dầu nhờn:

1.



Dầu gốc:



Hiện tại nhà máy nhập rất nhiều chủng loại dầu gốc, chủ yếu là dầu gốc

khống, trong đó có 1 số loại dầu gốc chính như: SN500, BN 150, BS 70,

SN700 USC, SN 700...được nhập từ cầu cảng biển, thông qua đường ống dẫn

đi vào bể chứa.



2.



Phụ gia:



Phụ gia là những hợp chất hữu cơ, cơ kim và vơ cơ, thậm chí là các ngun tố

được thêm vào các chất bôi trơn để nâng cao các tính chất riêng biệt vốn có

hoặc bổ sung các tính chất chưa có của dầu gốc nhằm thu được dầu bơi trơn có

phẩm cấp tốt hơn thỏa mãn các yêu cầu tính năng đối với mục đích sử dụng

nào đó. Thường mỗi loại phụ gia được dùng ở nồng độ từ 0,01 đến 5%. Tuy

nhiên, trong nhiều trường hợp phụ gia có thể được đưa vào ở khoảng nồng độ

dao động từ vài phần triệu đến 10%.

Phần lớn các loại dầu bôi trơn cần nhiều loại phụ gia khác nhau để thỏa mãn

tất cả các yêu cầu tính năng. Trong một số trường hợp các phụ gia riêng biệt

được pha thẳng vào dầu gốc. Trong những trường hợp khác, hỗn hợp các loại

phụ gia được pha trộn thành phụ gia đóng gói, sau đó sẽ được đưa tiếp vào

dầu.

Có loại phụ gia chỉ đảm nhiệm một chức năng nhưng cũng có nhiều loại phụ

gia đảm nhận nhiều chức năng cùng một lúc ví dụ ZnDDPcos chức năng

chống oxy hóa, giảm mài mòn, ức chế ăn mòn. Do vậy sẽ có phụ gia đơn chức

và phụ gia đa chức.

Các loại phụ gia khác nhau có thể hỗ trợ lẫn nhau, gây ra hiệu ứng tương hỗ,

hoặc hiệu ứng đối kháng. Trường hợp sau có thể làm giảm hiệu lực của phụ

gia, tạo ra những sản phẩm phụ không tan hoặc những sản phẩm có hại khác.

Những tương tác này do hầu hết các phụ gia đều là các chất hoạt động vì thế

chúng tác động qua lại ngay trong phụ gia đóng gói hoặc trong dầu tạo ra các

chất mới.



TRẦN THỊ VÂN

MSV: 0941540165



21



ĐẠI HỌC CƠNG NGHIỆP HÀ NỘI

HĨA



KHOA CƠNG NGHỆ



Dầu gốc ảnh hưởng đến phụ gia qua hai tính năng chính: tính tương hợp và

tính hòa tan. Tính hòa tan đặc trưng cho khả năng giữ các phụ gia trong dầu,

khơng cho chúng tách ra khỏi dầu gốc. Tính tương hợp đặc trưng cho khả năng

tương thích của dầu gốc với phụ gia, không làm giảm hiệu lực của phụ gia, đặc

trưng cho khả năng bảo toàn cấu trúc phân tử và hiệu quả tác dụng của phụ

gia. Tính hòa tan và tính tương hợp phụ thuộc vào bản chất của dầu gốc. Dầu

gốc tổng hợp có tính tương hợp tốt song tính hòa tan lại kém còn dầu gốc

khống thì ngược lại, tính hòa tan tốt còn tính tương hợp kém.

Trong q trình sử dụng, dầu bơi trơn rất dễ bị biến chất làm giảm phẩm cấp

chất lượng. Các phụ gia được sử dụng để ngăn chặn các quá trình vật lý cũng

như hóa học xảy ra làm giảm chất lượng của dầu bơi trơn. Một số chức năng

chính của phụ gia là:



































Làm tăng độ bền oxy hóa

Khử hoạt tính xúc tác của kim loại

Chống ăn mòn

Chống gỉ

Chống sự tạo cặn bám và cặn bùn

Giữ các tạp chất bẩn ở dạng huyền phù

Tăng chỉ số độ nhớt

Giảm nhiệt độ đơng đặc

Làm dầu có thể pha trộn lẫn với nước

Chống sự tạo bọt

Ngăn chặn sự phát triển của vi sinh vật

Làm cho dầu có khả năng bám dính tốt

Tăng khả năng làm kín

Làm giảm ma sát

Làm giảm và ngăn chặn sự mài mòn

Chống kẹt xước các bề mặt kim loại



Một số phụ gia điển hình như:















TRẦN THỊ VÂN

MSV: 0941540165



Phụ gia phân tán.

Phụ gia tẩy rửa.

Phụ gia chống oxy hóa dầu.

Phụ gia ức chế ăn mòn.

Phụ gia ức chế gỉ.

Phụ gia thụ động hóa kim loại.

Phụ gia giảm nhiệt độ đơng đặc.

22



ĐẠI HỌC CƠNG NGHIỆP HÀ NỘI

HĨA









a.



KHOA CƠNG NGHỆ



Phụ gia chống tạo bọt.

Phụ gia cải thiện chỉ số độ nhớt.

Phụ gia chống mài mòn.



Phụ gia phân tán:



Các chất phân tán là các chất có khả năng ngăn ngừa hoặc làm chậm quá trình

tạo cặn và lắng đọng trong điều kiện hoạt động ở nhiệt độ thấp. Như vậy chắc

năng cơ bản của chất phân tán là làm yếu lực kết cấu giữa các tiểu phân riêng

biệt với nhau, tạo điều kiện làm tan rã các kết tủa xốp và các khối kết tụ, do đó

cho phép từng tiểu phân có thể tồn tại như một thực thể riêng biệt. Nói cách

khác, các chất phân tán có một ái lực mạnh với các tiểu phân gây bẩn dầu và

chúng bao quanh mỗi tiểu phân bằng các phân tử tan trong dầu, nhờ đó giữ

được các cặn tron dầu khơng bị kết tụ và đóng cặn lại trong động cơ. Với phụ

gia phân tán là ankenyl polyamin sunxinimit, ankylhydroxylbezyl polyamin…

Các phụ gia phân tán có cấu tạo gồm 2 phần cơ bản: nhóm ưa dầu và nhóm

phân cực. Hai phần được nối với nhau bằng nhóm nối.Nhóm ưa dầu thường là

các hydrocabon mạch dài giúp cho phụ gia có thể tan tốt trong dầu gốc đươc sử

dụng. Nhóm phân cực thường chứa các nguyên tố ví dụ N, O hoặc P.



b.



Phụ gia tẩy rửa:



Dầu bôi trơn làm việc dưới điều kiện khắc nghiệt có thể xuất hiện sự cháy của

nhiên liệu hay sự oxy hóa dầu bơi trơn. Đây chính là ngun nhân chính gây ra

các sản phẩm axit và một lượng cặn bẩn… chúng có thể làm tăng độ nhớt của

dầu, gây ăn mòn, làm mất dần tính đồng nhất, lắng đọng trên bề mặt kim loại

làm tổn hao cơng suất… Chính vì vậy, cần phải có phụ gia ngăn khơng cho các

TRẦN THỊ VÂN

MSV: 0941540165



23



ĐẠI HỌC CƠNG NGHIỆP HÀ NỘI

HĨA



KHOA CƠNG NGHỆ



cặn bẩn bám trên bề mặt kim loại hoặc lôi kéo các cặn bẩn ra khỏi bề mặt kim

loại và phân tán chúng trong dầu dưới dạng huyền phù.

Với phụ gia tẩy rửa, các phụ gia này sẽ hấp phụ lên các cặn bẩn và lôi kéo

chúng ra khỏi bề mặt mà chúng bám dính, giữ chúng ở trạng thái lơ lửng trong

dầu. Còn phụ gia phân tán hấp phụ lên cặn bẩn làm cặn bẩn không tụ được với

nhau, giảm khả năng sa lắng, tránh tạo cặn bẩn.

Các phụ gia tẩy rửa thường được sử dụng là canxi sufonat trung tính, canxi

sunfonat kiềm và canxi sunfonat kiềm cao ngồi ra còn có phenolat, salixylat,

phophonat…



c.



Phụ gia chống oxy hóa dầu:



Hầu hết các hợp phần của dầu bôi trơn đều tác dụng nhanh hoặc chậm với oxy

tạo thành quá trình oxy hóa. Khả năng bền oxy hóa của các hợp chất

hydrocacbon tăng dần theo thứ tự:

Hydrocabon không no < Hợp chất dị nguyên tố < Hydrocabon thơm< naphten <

Parafin.

Tốc độ của q trình oxi hóa chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như bản chất của

dầu gốc, nhiệt độ , hiệu ứng xúc tác của kim loại, sự khuấy trộn, nồng độ oxi

trong dầu. Cơ chế phản ứng oxy hóa là cơ chế gốc xảy ra theo 3 giai đoạn:









TRẦN THỊ VÂN

MSV: 0941540165



Giai đoạn khơi mào.

Giai đoạn phát triển mạch.

Giai đoạn tắt mạch.



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Nguyên lý bôi trơn:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×