Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



Theo quyết định số 165/2002/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 31/12/2002,

tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật

tư, hàng hóa hoặc khơng thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng

chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát

của doanh nghiệp.

Tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu

của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm sốt được và thu được lợi ích kinh tế

trong tương lai, như tài sản thuê tài chính, hoặc có những tài sản thuộc quyền sở

hữu của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể

khơng kiểm sốt được về mặt pháp lý, như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động

triển khai có thể thỏa mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản khi các bí quyết

đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh tế.

Theo điều 163 luật dân sự 33/2005/QH11 thì “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy

tờ có giá và các quyền tài sản”. Như vậy, ta có thể hiểu tài sản của doanh nghiệp

như sau: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp chính là các

nguồn lực hữu hình hoặc vơ hình của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có

khả năng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó.



1.1.2.2. Phân loại tài sản của doanh nghiệp

Tài sản của doanh nghiệp thường được chia thành 2 loại: Tài sản ngắn hạn và

Tài sản dài hạn.

 Tài sản ngắn hạn

Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), tài sản ngắn hạn (TSNH) của doanh nghiệp

là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, tồn tại dưới hình

thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hoá), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ

phải thu. TSNH có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh

doanh hoặc trong một năm.

Trong doanh nghiệp SXKD thì tài sản ngắn hạn chỉ tham gia vào một chu kỳ



8



SXKD hay có thời gian trong vòng một năm như tiền mặt, nguyên vật liệu… Sau

khi hết chu kỳ SXKD này đến chu kỳ SXKD mới thì doanh nghiệp lại phải dùng tài

sản ngắn hạn mới, toàn bộ giá trị của tài sản ngắn hạn trong kỳ SXKD được chuyển

dịch một lần vào sản phẩm và được bù đắp toàn bộ khi sản phẩm được tiêu thụ.

Trên bảng cân đối kế toán thì TSNH của doanh nghiệp được biểu hiện qua: tiền và

các khoản tương đương tiền, tài sản tài chính ngắn hạn như chứng khoán thanh

khoản cao, khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu khách hàng ngắn

hạn, khoản dự trữ hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.

Tài sản ngắn hạn (trừ dụng cụ lao động) qua quá trình sản xuất hợp thành

thực thể của sản phẩm nên mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh ln thay đổi hình

thái biểu hiện theo một vòng khép kín như sau:



Sơ đồ 1.1. Sự thay đổi hình thái của tài sản ngắn hạn trong chu kỳ sản xuất kinh doanh



Sau mỗi chu kỳ SXKD, doanh nghiệp thu được một số tiền lớn hơn tiền mua

nguyên vật liệu ban đầu, do phát sinh thêm chi phí nhân cơng, chi phí khấu hao, lãi

kinh doanh… được tính vào giá trị sản phẩm tiêu thụ. Để đảm bảo quá trình SXKD



9



được liên tục thì phải ln dự trữ TSNH ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất

như nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, tài sản dưới dạng các khoản phải

thu, tiền; và đây cũng là hình thái tồn tại của tài sản ngắn hạn tại mỗi thời điểm. Đặc

điểm thứ hai là TSNH có tính thanh khoản cao, có thể dễ dàng chuyển hố từ dạng

vật chất sang tiền tệ nhằm đáp ứng khả năng thanh toán của doanh nghiệp nhưng

cũng chính vì thế mà nó vận động phức tạp và khó quản lý.

Tài sản ngắn hạn bao gồm:

- Tiền và các khoản tương đương tiền: tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi

ngân hàng và tiền luân chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư

ngắn hạn khơng q 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và khơng

có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền.

- Tài sản tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có

thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh (như: tín phiếu kho

Bạc, kỳ phiếu ngân hàng,..) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu)

để kiếm lời và các khoản đầu tư tài chính khơng q một năm.

- Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách

hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu

hồi hoặc thành toán dưới một năm.

- Tồn kho: Bao gồm vật tư, hàng hóa sản phẩm, sản phẩm dở dang.

- Tài sản ngắn hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước ngắn hạn, Thuế GTGT

được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác.

 Tài sản dài hạn

Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), tài sản dài hạn (TSDH) của doanh nghiệp là

những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử

dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong nhiều kỳ kinh doanh hoặc hơn một năm. Các

loại TSDH là tất cả các tài sản ngoại trừ các tài sản đã được phân chia vào loại

TSNH. Ta có thể phân loại TSDH như sau: các khoản phải thu dài hạn, bất động sản



10



đầu tư, tài sản cố định (TSCĐ) gồm có TSCĐ hữu hình và TSCĐ vơ hình, các

khoản tài sản tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác.

 Các khoản phải thu dài hạn: là các khoản phải thu dài hạn của khách

hàng, phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi

hoặc thanh toán trên một năm.

 Bất động sản đầu tư: Là những bất động sản, gồm: quyền sử dụng đất, nhà

hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc

người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ

việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp

hàng hóa, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh

doanh thông thường

Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thỏa mãn đồng thời hai

điều kiện sau:

- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.

- Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy.

Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm giá mua và các chi phí liên

quan trực tiếp như: phí dịch vụ tư vấn luật pháp liên quan, thuế trước bạ và các chi

phí giao dịch liên quan khác.

 Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài

cho các hoạt động của doanh nghiệp. Theo thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày

25/4/2013 của Bộ tài chính về việc hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu

hao tài sản cố định (TSCĐ) thì nếu thỏa mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây

thì được coi là tài sản cố định:

- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó.

- Có thời hạn sử dụng từ 1 năm trở lên.

- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ



11



30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.

Trong điều kiện hiện nay, việc đầu tư đổi mới tài sản cố định là một trong các

yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bởi vì:

- Tài sản cố định là yếu tố quyết định năng lực sản xuất - kinh doanh của

doanh nghiệp.

- Nhờ đổi mới tài sản cố định mới có được năng suất cao, chất lượng sản

phẩm và dịch vụ tốt, chi phí tạo ra sản phẩm, dịch vụ thấp tạo điều kiện đẩy mạnh

tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đó làm tăng doanh thu và do đó doanh nghiệp mới có đủ

sức cạnh tranh trên thị trường. Xét trên góc độ này, đầu tư đổi mới tài sản cố định

kịp thời, hợp lý trờ thành vấn đề sống còn đổi với mỗi doanh nghiệp.

- Xét trên góc độ tài chính doanh nghiệp, sự nhảy cảm trong đầu tư đổi mới

tài sản cố định là một nhân tố quan trọng để giảm chi phí như: Chi phí sửa chữa lớn

tài sản cố định, hạ thấp hao phí năng lượng, giảm chi phí biến đổi để tạo sản phẩm

và là biện pháp rất quan trọng để hạn chế hao mòn vơ hình trong điều kiện cách

mạng khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, mạnh như hiện nay.

Tài sản cố định được phân loại dựa trên các tiêu thức nhất định nhằm phục

vụ cho những yêu cầu quản lý doanh nghiệp. Theo Lưu Thị Hương, Vũ Duy Hào

(2012), TSCĐ thông thường phân loại như sau:

+ TSCĐ phục vụ cho mục đích kinh doanh:

Theo phương pháp này, tồn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được chia

thành hai loại: Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vơ hình.

Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ

thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh như: Loại 1(nhà cửa vật

kiến trúc); Loại 2 (máy móc, thiết bị); Loại 3 (phương tiện vận tải, thiết bị truyền

dẫn); Loại 4 (thiết bị , dụng cụ quản lý); Loại 5 (vườn cây, súc vật làm việc…); Loại

6 (các loại TSCĐ khác).

+ TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng.



12



+ Ngồi hai loại trên trong các Doanh nghiệp Nhà nước có thể còn có loại

TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ nhà nước theo quyết định của các cơ quan

Nhà nước có thẩm quyền.

Tài sản cố định vơ hình: Là những tài sản khơng có hình thái vật chất nhưng

xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh

doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn

ghi nhận TSCĐ vơ hình.

Hiện nay, theo quan điểm của nhiều chuyên gia đầu ngành trong việc định

giá thì tài sản vơ hình có 6 loại, trong đó có 5 loại là tài sản vơ hình được định danh

và 1 loại tài sản vơ hình khác, gồm:

1. Các sáng chế, phát minh, cơng thức, quy trình, mơ hình, kỹ năng, bí mật

kinh doanh.

2. Bản quyền tác giả và các tác phẩm văn học, âm nhạc, nghệ thuật.

3. Thương hiệu, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, đặc điểm nhận dạng

sản phẩm.

4. Quyền kinh doanh, giấy phép, hợp đồng.

5. Phương pháp, chương trình, hệ thống, thủ tục, khảo sát, nghiên cứu, dự

báo, dự toán, danh sách khách hàng, các số liệu kỹ thuật.

6. Các loại tài sản vơ hình khác (như đội ngũ nhân lực, vị trí kinh doanh...).

Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu đầu tư vào tài

sản cố định theo hình thái biểu hiện, là căn cứ để quyết định đầu tư dài hạn hoặc

điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phù hợp với mỗi loại tài sản cố định.

Cũng theo thông tư 203/2009/TT-BTC, riêng các chi phí phát sinh trong giai

đoạn triển khai được ghi nhận là TSCĐ vơ hình tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp nếu

thỏa mãn đồng thời bảy điều kiện sau:

a. Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hồn thành và đưa tài sản



13



vơ hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán;

b. Doanh nghiệp dự định hồn thành tài sản vơ hình để sử dụng hoặc để bán;

c. Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vơ hình đó;

d. Tài sản vơ hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai;

đ. Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để

hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vơ hình đó;

e. Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn

triển khai để tạo ra tài sản vơ hình đó;

g. Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định

cho tài sản cố định vơ hình.

Để có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng TSCĐ vơ hình, trước hết cần phải

xác định được giá trị của các tài sản vơ hình đó cũng như xây dựng các tiêu chí để

đánh giá có căn cứ và chính xác.

Việc đo lường tài sản vơ hình có thể sử dụng mơ hình xếp lớp, tương tự như

trong bản cân đối kế toán cho tài sản hữu hình và tài chính. Ở bên trên cùng, bản

cân đối kế tốn (cấp 1), mơ tả các nhóm tài sản khác nhau, xếp hạng theo tính thanh

khoản như: tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho, bất động sản, nhà xưởng và máy

móc. Cấp kế tiếp (cấp 2) thể hiện danh mục tài sản trong một nhóm cụ thể và cấp

thứ 3 mơ tả các tài sản cụ thể. Áp dụng mơ hình bản cân đối kế tốn này cho tài sản

vơ hình, cấp 1 cung cấp thơng tin tổng hợp về 3 nhóm: Nguồn vốn con người,

nguồn vốn thông tin và nguồn vốn tổ chức. Cấp 2 mô tả thông tin về cách mỗi tài

sản vơ hình liên quan đến quy trình nội bộ mục tiêu của nó, và cấp 3 mơ tả tính chất

của từng tài sản vơ hình.

 Tài sản tài chính dài hạn: Là các khoản đầu tư vào việc mua bán các

chứng khốn có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền,

bằng hiện vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và

các loại đầu tư khác vượt quá thời hạn trên một năm. Có thể nói, tài sản tài chính



14



dài hạn là các khoản vốn mà doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh,

ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời hạn trên một năm

nhằm tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp. (Nguyễn Văn Tiến, 2009)

Cụ thể, tài sản tài chính dài hạn bao gồm:

- Các chứng khốn dài hạn: Phản ánh giá trị các khoản đầu tư cho việc mua

bán các cổ phiếu và trái phiếu có thời hạn trên một năm và có thể bán ra bất cứ lúc

nào với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Bao gồm:

+ Cổ phiếu doanh nghiệp

+ Trái phiếu: có 3 loại trái phiếu: Trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu địa

phương, Trái phiếu Cơng ty.

- Các khoản góp vốn liên doanh: góp vốn liên doanh là một hoạt động đầu tư

tài chính mà doanh nghiệp đầu tư vốn vào một doanh nghiệp khác để nhận kết quả

kinh doanh và cùng chịu rủi ro (nếu có theo tỷ lệ vốn góp). Vốn góp liên doanh của

doanh nghiệp, bao gồm tất cả các loại tài sản, vật tư, tiền vốn thuộc quyền sở hữu

của doanh nghiệp, kể cả vốn vay dài hạn dùng vào việc góp vốn kinh doanh.

 Tài sản dài hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu

nhập hoãn lại, tài sản dài hạn khác.



1.1.3. Vai trò của tài sản của doanh nghiệp

1.1.3.1. Vai trò của tài sản ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn (TSNH) là bộ phận trực tiếp hình thành nên các tài sản

khác trong doanh nghiệp và đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho quá

trình sản xuất kinh doanh diễn ra trơn tru và liên tục.

Không phải bỗng nhiên mà các nhà quản lý doanh nghiệp chú ý tới việc sử

dụng một cách hợp lý và tối đa hiệu quả TSNH, nguồn tài sản này đã và đang đóng

vai trò là mối quan tâm cấp thiết của các doanh nghiệp hiện nay.

Để tiến hành sản xuất, ngoài tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhà



15



xưởng,… doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng

hóa, ngun vật liệu phục vụ cho q trình sản xuất. Quy mô của doanh nghiệp

được thể hiện qua quy mô của tài sản ngắn hạn, tài sản ngắn hạn với quy mô

lớn nghĩa là khả năng luân chuyển nguồn vốn của doanh nghiệp đó cao đáp ứng

quy mơ kinh doanh lớn. Tài sản ngắn hạn còn có khả năng quyết định đến quy

mô hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, tài sản ngắn hạn là điều kiện đầu

tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động, hay nói cách khác, TSNH là điều kiện

tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh, là điều kiện về vật chất không thể

thiếu trong q trình tái sản xuất.

Ngồi ra, TSNH còn đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được

tiến hành thường xuyên, liên tục. Tài sản ngắn hạn còn là cơng cụ phản ánh, đánh

giá q trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp.

Việc kiểm tra đánh giá quá trình mua vào và tiêu thụ vật tư của doanh nghiệp

cũng được đánh giá thông qua thước đo là tài sản ngắn hạn. Dựa vào tốc độ luân

chuyển của TSNH có thể đánh giá được hiệu quả của khâu sản xuất hay khâu tiêu

thụ. Tốc độ luân chuyển của TSNH nhanh thì chứng tỏ doanh nghiệp đang hoạt

động có hiệu quả.



1.1.3.2. Vai trò của tài sản dài hạn

Tài sản dài hạn (TSCĐ) bao gồm những tư liệu lao động chủ yếu tham gia

vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó gắn liền với doanh nghiệp

trong suốt q trình tồn tại. Doanh nghiệp có tài sản cố định có thể khơng lớn về

mặt giá trị nhưng tầm quan trọng của nó lại khơng nhỏ chút nào.

TSCĐ phản ánh mặt bằng cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, phản ánh quy mơ

của doanh nghiệp có tương xứng hay khơng với đặc điểm loại hình kinh doanh mà

nó tiến hành.

TSCĐ ln mang tính chất quyết định đối với q trình sản xuất hàng hóa

của doanh nghiệp. Do đặc điểm luân chuyển của mình qua mỗi chu kỳ sản xuất,

TSCĐ tồn tại trong một thời gian dài và nó tạo ra tính ổn định trong chu kỳ kinh



16



doanh cho doanh nghiệp cả về sản lượng và chất lượng.

Trong nền kinh tế thị trường, khi nhu cầu tiêu dùng ngày càng được nâng cao

thì cũng tương ứng với tiến trình cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn. Điều

này đòi hỏi các doanh nghiệp phải làm sao để tăng năng suất lao động, tạo ra được

những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, nhằm chiếm lĩnh thị trường. Sự

đầu tư không đúng mức đối với tất cả TSCĐ cũng như việc đánh giá thấp tầm quan

trọng của TSCĐ dễ đem lại những khó khăn sau với doanh nghiệp:

- TSCĐ không đủ hiện đại để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác cả về

chất lượng và giá thành sản phẩm. Điều này có thể dẫn đến các doanh nghiệp bên

bờ vực phá sản nếu lượng vốn của nó khơng đủ để cải tạo, đổi mới tài sản.

- Sự thiếu hụt các khả năng sản xuất sẽ giúp các đối thủ cạnh tranh giành

mất một phần thị trường của doanh nghiệp và điều này buộc doanh nghiệp khi

muốn giành lại thị trường phải tốn kém nhiều về chi phí tiếp thị hay phải hạ giá

thành sản phẩm.

TSCĐ còn là một cơng cụ huy động vốn khá hiệu quả:

- Đối với vốn vay của ngân hàng thì TSCĐ được coi là điều kiện khá quan

trọng bởi nó đóng vai trò là vật thế chấp cho món tiền vay. Trên cơ sở trị giá của tài

sản thế chấp, Ngân hàng mới có quyết định cho vay hay khơng và cho vay với số

lượng bao nhiêu.

- TSCĐ của doanh nghiệp bị coi là lạc hâu, lỗi thời hay tiên tiến hiện đại sẽ

quyết định năng lực sản xuất yếu kém hay hiệu quả. Trình độ trang thiết bị TSCĐ

cao hay thấp dẫn đến năng suất lao động cao hay thấp, nghĩa là TSCĐ có trình độ

cơng nghệ hiện đại hơn thì trong một khoảng thời gian nhất định khả năng sản xuất

sẽ cao hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm, hoàn thiện hơn về mặt mẫu mã cũng như

chất lượng sản phẩm. TSCĐ càng hiện đại thì tiêu hao NVL đầu vào sẽ ít hơn, khiến

giá thành sản phẩm hạ xuống, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có lợi thế về khả

năng cạnh tranh trên thị trường.



17



TSCĐ được coi là thứ vũ khí quan trọng đối với doanh nghiệp trong quá

trình cạnh tranh. Doanh nghiệp nào sở hữu được TSCĐ hiện đại hơn sẽ là doanh

nghiệp chiến thắng. Do đó, người ta ln vươn tới trình độ cơng nghệ, kỹ thuật tiên

tiến, hiện đại.



1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

1.2.1. Quan điểm hiệu quả sử dụng tài sản

Theo Ngơ Đình Giao (1997), hiệu quả được coi là một thuật ngữ để chỉ mối

quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra

để có được kết quả đó trong những điều kiện nhất định.

Việc lựa chọn quan niệm về hiệu quả được xem xét trong một bối cảnh cụ

thể đồng thời cũng xét dưới quan điểm đánh giá của chủ thể nghiên cứu.

Như vậy, hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh

tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao

cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường để đạt được kết quả

tốt nhất. Hiệu quả sử dụng tài sản thể hiện mối tương quan giữa tài sản được đầu tư

và kết quả sử dụng tài sản.

Việc phân tích hiệu quả sử dụng tài sản là xem xét hiệu quả sử dụng của các

loại tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của doanh nghiệp giữa kỳ này với kỳ trước.

Cụ thể phân tích các vấn đề:

- Phân tích tình hình sử dụng tài sản để đáp ứng đủ, kịp thời khả năng thanh

toán, tăng tốc độ luân chuyển tài sản. Nếu doanh nghiệp dự trữ tài sản đáp ứng kịp

thời khả năng thanh toán đến hạn hoặc sắp đến hạn, tài sản không sinh lời, không dự

trữ ở mức hợp lý chứng tỏ việc sử dụng tài sản có hiệu quả và ngược lại.

- Phân tích tốc độ luân chuyển của toàn bộ tài sản dựa trên các chỉ tiêu doanh

thu trên tổng tài sản và lợi nhuận trên tổng tài sản để có thể thấy được 1 đồng tài sản

(vốn) doanh nghiệp bỏ ra trong một thời kỳ nhất định thì tạo ra được bao nhiêu

đồng doanh thu hoặc lợi nhuận.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×