Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

2



dụng tài sản và đã đạt được những thành công nhất định. Nhờ đó, khả năng cạnh

tranh cũng như uy tín của Cơng ty ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, do nhiều

nguyên nhân khách quan và chủ quan, hiệu quả sử dụng tài sản vẫn còn thấp so với

mức trung bình ngành thuốc lá. Cụ thể, năm 2014, hiệu suất sử dụng tổng tài sản là

2,26 (trung bình ngành là 3,37), hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn là 2,52 (trung

bình ngành là 4,71), hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn là 21,75 (trung bình ngành là

25,83). Hệ số sinh lời tổng tài sản là 0,11 (trung bình ngành là 0,28), hệ số sinh lời

tài sản ngắn hạn là 0,12 (trung bình ngành là 0,31), hệ số sinh lời tài sản dài hạn là

1,06 (trung bình ngành là 1,84)1.

Thực tế đó ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của công ty. Trước yêu

cầu đổi mới, để có thể đứng vững và phát triển trong mơi trường cạnh tranh gay gắt,

nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là một trong những vấn đề hết sức cấp thiết đối

với cơng ty.

Từ thực tế đó, đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty

Thuốc lá Thăng Long” đã được tác giả lựa chọn nghiên cứu.

Tác giả xin chân thành cảm ơn thầy giáo – TS. Trần Tất Thành, các cô chú,

anh chị đồng nghiệp tại Công ty thuốc lá Thăng Long đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo

và hướng dẫn tác giả trong thời gian qua.



1



Tham khảo bảng 2.7 so sánh chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản với mức trung bình ngành



3



2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Trong lĩnh vực về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, các tác giả của

các cơng trình nghiên cứu trước đây đã trình bày được khá đầy đủ cơ sở lý thuyết về

tài sản cũng như hiệu quả sử dụng tài sản.

Cụ thể, đối với các đề tài trong nước

Trần Thụy Như Thủy (2006) đã nêu được khái niệm về tài sản, phân loại tài

sản lưu động và tài sản cố định, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản. Tác

giả cũng đã đánh giá được thực trạng sử dụng tài sản cũng như hiệu quả sử dụng tài

sản của công ty cổ phần viễn thông tin học điện tử Kasati. Tuy vậy, tác giả chưa nêu

được giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của công ty liên quan

đến ngành nghề kinh doanh hoạt động của cơng ty, chỉ mang tính chung chung

không bám sát thực tế.

Ngô Thị Thúy Phượng (2013) cũng đã trình bày khá rõ ràng về khái niệm,

chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản.Tác giả đã phân tích khá rõ ràng, tách biệt

về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cũng như tài sản dài hạn trong công ty. Tuy

nhiên, giống như Trần Thụy Như Thủy (2006), các biện pháp đưa ra chưa được cụ

thể đối với công ty hoạt động trong ngành công nghệ thông tin, hơn nữa khi đưa ra

giải pháp lại chỉ đơn thuần cho loại tài sản cố định.

Đối với các đề tài nước ngồi

Trong cơng trình nghiên cứu của mình, Gary Watkins (2013) đã đề cập về

tầm quan trọng và lợi ích của việc có một chiến lược quản lý tài sản toàn diện. Theo

tác giả việc xây dựng được một chiến lược quản lý tài sản tốt sẽ giúp cho hiệu quả

sử dụng tài sản đạt kết quả tốt nhất, cần chú ý tới những giai đoạn chính như sau:

- Giai đoạn 1: Kế hoạch

Tạo và duy trì một kế hoạch quản lý tài sản luôn được cập nhật cho phép

quản lý các cơ sở để phân tích hiệu suất của các mơ hình trong một khoảng thời

gian. Phân tích chi phí thực liên quan đến việc giám sát liên tục các hoạt động và

bảo trì tài sản trong quá trình hoạt động.



4



- Giai đoạn 2: Hoạt động

Tài sản được quản lý và sử dụng để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh

cốt lõi.

- Giai đoạn 3: Bảo trì

Hiểu ra tầm quan trọng của mỗi yêu cầu bảo dưỡng, lên kế hoạch để đưa ra

quyết định về tần suất bảo dưỡng hoặc kiểm tra.

- Giai đoạn 4: Xử lý

Lập ra hình thức xử lý thiết bị để quản lý tài sản nào đến thời điểm thanh lý

và xác định giá trị còn lại.

Ngồi ra, Carl March (2015) cũng đã đề cập đến năm rủi ro lớn nhất để quản

lý hiệu quả tài sản như: không nắm được những thứ mà mình quản lý, khơng bảo trì

thường xuyên, hoạt động không đúng, quản lý rủi ro không đúng, hệ thống quản lý

tài khoản phụ được tối ưu hóa. Tuy nhiên, việc đặt ra giải pháp để khắc phục các rủi

ro trên thì chưa được đề cập đến.

Tóm lại, các cơng trình nghiên cứu trước đây chỉ mang tính tổng qt, chung

chung cho nhiều loại hình doanh nghiệp, mỗi một doanh nghiệp thì cần những giải

pháp cụ thể khác nhau. Công ty thuốc lá Thăng Long hoạt động kinh doanh trong

lĩnh vực sản xuất thuốc lá điếu nên việc sử dụng tài sản sao cho đạt hiệu quả sẽ

mang những nét đặc trưng riêng.

Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại

Công ty thuốc lá Thăng Long” để nghiên cứu.



3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Công ty thuốc lá Thăng Long.

+ Về giới hạn thời gian: Giai đoạn 2012 – 2014.



5



4. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu: số liệu được thu thập từ báo cáo tài chính,

báo cáo thường niên của Cơng ty thuốc lá Thăng Long trong giai đoạn 2012 – 2014,

chỉ số trung bình ngành thuốc lá thu thập từ các đơn vị sản xuất thuốc lá khác trong

tổ hợp Tổng công ty thuốc lá Việt Nam.

- Phương pháp sử lý số liệu: sử dụng bảng số liệu, biểu đồ, sử dụng các cơng

thức tính tốn các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản nhằm làm rõ thực trạng về hiệu

quả sử dụng tài sản tại công ty thuốc lá Thăng Long. Tác giả thực hiện so sánh số

liệu giữa các năm tài chính, so sánh với chỉ số trung bình ngành thuốc lá, phân tích

ngun nhân tăng/giảm qua đó đánh giá được thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản

của cơng ty thuốc lá Thăng Long.



5. Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng công tác sử dụng tài sản tại công ty thuốc lá Thăng

Long hiện nay.

- Đề xuất các giải pháp, phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng

tài sản của công ty thuốc lá Thăng Long, khắc phục những điểm yếu, phát huy

điểm mạnh.



6. Kết cấu luận văn

Đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Cơng ty thuốc lá Thăng Long”

Ngồi các phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, luận văn

được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty thuốc lá Thăng Long

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty thuốc lá

Thăng Long



6



CHƯƠNG 1

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Tài sản của doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp

Ở Việt Nam, tại điều 4 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13: “Doanh

nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập

theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện

liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến

tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.

Theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, các doanh nghiệp ở Việt Nam

bao gồm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH một thành viên, công ty

TNHH hai thành viên trở lên), Công ty Cổ phần, Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty

hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân, Nhóm cơng ty (Tập đồn kinh tế, Tổng cơng ty).

Theo Lưu Thị Hương và Vũ Duy Hào (2012), các chủ thể kinh doanh của

doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường gồm có: Kinh doanh cá thể, Kinh doanh

góp vốn, Cơng ty.

Nhóm chủ thể kinh doanh quan trọng nhất là đối tượng điều chỉnh chủ yếu

của pháp luật kinh tế đó là chủ thể Cơng ty, loại chủ thể thứ hai là các hộ kinh

doanh cá thể. Hộ kinh doanh cá thể tuy số lượng lớn nhưng cần thiết trong điều kiện

hiện tại của nền kinh tế hiện nay, song quy mô và phạm vi kinh doanh nhỏ, thường

là hộ gia đình hoạt động trong phạm vi quận huyện. Ngồi ra còn có những người

kinh doanh nhỏ, thường là các cá nhân và người kinh doanh lưu động và không ổn

định về địa điểm mặt hàng hay dịch vụ.



1.1.2. Khái niệm và phân loại tài sản của doanh nghiệp

1.1.2.1. Khái niệm tài sản



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×