Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 . Sáp ong – Beeswax

5 . Sáp ong – Beeswax

Tải bản đầy đủ - 0trang

học người Đức Hornbostel báo cáo rằng ong tự sản xuất sáp. Báo cáo này không được

cộng đồng khoa học xem xét cho đến khi các ấn phẩm của Hunter năm 1792 và năm 1814

bởi Huber. Hunter đã ghi chú ong đó tiết ra sáp và xây dựng thành lỗ tổ ong, lỗ tổ ong

được xây dựng có màu trắng. Ông quan sát thấy rằng ong không cần phấn hoa để làm sáp.

Các quan điểm của Hunter được mở rộng bởi Huber, người đã đề xuất rằng mật là cần

thiết để sản xuất sáp. Năm 1903 quá trình tổng hợp sáp là được mô tả chi tiết bởi

Dreyling. Trong thời gian đầu sáp ong là sáp duy nhất có sẵn, theo thời gian các nhà khoa

học đã nguyên cứu sản xuất các loại sáp khác từ động vật, thực vật và gần đây có cả sáp

có nguồn gốc tổng hợp.[] [] trang 2 - Online beeswax Book: Chapter 2

2.5.2. Tính chất

Sáp ong là một chất rắn vơ định hình.

Sáp ong có màu trắng nhưng nó nhanh chóng

sẫm màu do các chất gây ô nhiễm như là

phấn hoa hoặc là quá trình tiếp xúc với những

con ong trong tổ. Bên cạnh đó tác động của

người ni ong trong khi lấy và làm tan chảy

sáp ong nên sáp ong thường có màu vàng

chanh.[] [] báo MAAREC Publication 3.9

January 2005 – Mid-Atlantic Apicultural

Research&Extension Consortium

Trong mỹ phẩm

Từ thời xa xưa, công thức cơ bản cho các loại kem và thuốc mỡ đã bao gồm hỗn hợp sáp

ong và dầu theo tỷ lệ khác nhau theo độ nhất quán mong muốn. Sáp ong có tiềm năng

kích thích bằng khơng, và tỷ lệ gây dị tật 0 - 2, có nghĩa là thích hợp để pha chế và sử

dụng trong mỹ phẩm [3] trang 9[]Online beeswax Book: Chapter 2

Sáp ong nguyên chất, ngay sau khi được tiết ra, được chế tạo và tạo thành tổ, có

màu trắng. Nó trở nên sẫm hơn khi bị lẫn tạp chất bên trong tổ ong như phấn hoa, lụa và

mảnh vụn ấu trùng được vơ tình kết hợp. Sáp ong tự nhiên khi lạnh giòn.[2]

Điểm nóng chảy của sáp ong dao động trong khoảng từ 61-66°C. Mật độ tương đối

của nó tại 15°C là 0,958-0,970 g/cm3 và điện trở của nó dao động từ 510 12 đến 201012

(Ωm). Hệ số dẫn nhiệt của nó là 2,510 -3 J.cm /s.C°.cm2. Chỉ số xà phòng hóa của sáp ong

là 85-100 mg KOH/g. Chỉ số acid của sáp ong 17-24 mg KOH/g. Sáp ong là chất trơ với

độ dẻo cao. Nó khơng hòa tan trong nước và chịu được nhiều axit, nhưng hòa tan trong

hữu cơ nhất dung môi và sau khi đun nóng, trong rượu và các loại dầu béo.[2]



17



2.5.3. Thu nhận và xử lý

Các tuyến sáp ở mặt dưới của bụng của

những con ong non tiết ra

tiểu cầu sáp nhỏ và tham gia vào việc xây

dựng tổ ong. Những con ong nhai và

nghiền giúp nó trở nên mềm dẻo nhờ việc

bổ sung nước bọt và một loạt các enzym.

[2]

Chất lượng sáp phụ thuộc rất lớn

vào phương pháp sản xuất. Về cơ bản, hai

phương pháp được sử dụng là: tách sáp tan chảy và chiết xuất hóa chất. Nhờ sự tan chảy nên phương pháp tách sáp – tan chảy

được sử dụng nhiều hơn vì chiết xuất hóa chất bằng dung mơi chỉ khả thi khi sản xuất sáp

quy mô nhỏ được u cầu, chẳng hạn như trong phòng thí nghiệm. Một bất lợi của

phương pháp chiết xuất hóa chất là các chất bị ơ nhiễm như sáp hữu cơ cũng có thể được

chiết xuất cùng với sáp ong. Do đó, chất lượng của sáp có thể bị tổn hại. [2].

Sáp thường được loại bỏ khỏi tổ trong quá trình khai thác mật ong. Điều này tạo ra

sáp có màu sáng, chất lượng cao.Những phẩm chất khác nhau của sáp có thể được tạo ra

bằng cách tách các tổ ong màu trắng mới ra khỏi những cây sậm màu hơn. Vì tồn bộ mật

ong trong tổ được thu hoạch và nghiền hoặc ép, tỷ lệ sáp trên kilogam mật ong 10-15% và

sẽ cao hơn nhiều với việc nuôi ong trong khung, việc này giúp năng suất lên 1-2%. [2]

Sáp ong chủ yếu để làm sáp thường được sản tạo ra bởi ong mật A.mellifera. Tuy

nhiên, sáp ong cũng có thể thu được từ các loài ong mật khác, như là A.dorsata, A.florea

và A.indica. Sáp được tiết ra bởi các tuyến bụng và được sử dụng để xây dựng thành tổ

chứa mật ong, là ngôi nhà của ong và ấu trùng của chúng cũng như bảo quản mật ong và

phấn hoa.[2]

Để sản xuất sáp chất lượng cao, tổ ong được làm nóng chảy là phương pháp ưa

thích. Điều này có thể đạt được bằng cách đun sôi tổ ong trong nước trong các thùng chứa

bằng thép không gỉ trước khi tách sáp màu vàng nguyên chất khỏi cặn của tổ ong. Làm

mát và sáp khô nên được lưu trữ trong các thùng chứa bằng thủy tinh, nhựa hoặc thép

không gỉ để tránh những thay đổi màu sắc do ơ nhiễm. Nóng chảy sáp có thể được thực

hiện bằng cách sử dụng nước sơi, hơi nước, hoặc bằng điện hoặc năng lượng mặt trời. Tuy

nhiên người ni ong có thể sản xuất sáp ong bằng cách làm nóng trực tiếp trong ánh

nắng mặt trời 23 lần mỗi ngày. Đây là phương pháp sản xuất đơn giản và rẻ tiền sáp chất

lượng [2]

2.5.4. Vai trò và ứng dụng

Sáp ong không ảnh hưởng trực tiếp đến con người hoặc động vật lớn hơn. Nếu trộn

với thuốc chữa bệnh hoặc bả độc, nó bảo quản vật liệu duy trì được lâu hơn và thải chúng

18



từ từ. Nó bảo vệ chống lại thiệt hại bên ngoài chẳng hạn như ăn mòn và mài mòn như

cũng như chống lại độ ẩm. Nó là một chất cách điện tốt khi được xà phòng hóa với borax,

hỗn hợp của rất ổn định và mịn màng cho mỹ phẩm. Nó có hoạt động chống viêm và

chống oxy hóa.[2]

Sáp ong được sử dụng để sản xuất sáp và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như là

nến, đúc kim loại, tạo mơ hình, chế biến thực phẩm, công nghệ, công nghiệp dệt may,

vecni, đánh bóng và đặc biệt được sử dụng trong mỹ phẩm. [2]

Ứng dụng trong mỹ phẩm



Xây dựng ổn định ổn định, cải thiện nước kết dính của thuốc mỡ và các loại kem.



Nhờ vào chức năng xà phòng của sáp ong, cung cấp một màng bảo vệ trên da và

cải thiện độ đàn hồi của nó.



Tăng cường bảo vệ da tác động của mặt trời qua các sản phẩm kem chống nắng,

không gây dị ứng.



Không gây phản ứng dị ứng



Hiệu quả mong muốn có thể đạt được thường xuyên bằng 1 đến 3% sáp ong



Nó xuất hiện khơng chỉ cải thiện và tính nhất quán của các loại kem và các loại

kem mà còn là thành phần được ưu tiên cho son mơi, vì nó góp phần làm sáng tỏ,

nhất qn và màu sắc sự ổn định

Các ứng dụng mỹ phẩm khác được tìm thấy trong các loại kem lạnh (8-12% hàm

lượng sáp ong theo trọng lượng), chất khử mùi (lên đến35%), depilatories (tẩy lơng, lên

đến 50 %), kem tóc (5-10%), điều hòa tóc (1-3%), mascara (6-12%), rouge (10-15%),

bóng mắt (6-20%) và những người khác.

Theo truyền thống, dầu thực vật đã được sử dụng nhưng chúng trở nên ôi và hạn

chế thời gian mà các loại kem đó có thể được sử dụng. Ngày nay, hầu hết các loại dầu

thực vật đã được thay thế bằng dầu khoáng như parafin lỏng hoặc chất bảo quản được

thêm vào. Sử dụng có chọn lọc dầu thực vật từ ô liu, ngô, đậu phộng, jojoba, cacao, lòng

bàn tay, dừa và những người khác vẫn tiếp tục, vì nhiều tác dụng có lợi của chúng khơng

thể được cung cấp bởi tổng hợp dầu khống. Để trộn lẫn sáp ong khơng tương thích và

dầu với nước, tất cả đều cần thiết các thành phần của bất kỳ loại kem hoặc kem dưỡng da

nào, chất nhũ hóa phải được thêm vào. Borax là chất nhũ hóa cổ điển, có sẵn trong hầu

hết các hiệu thuốc. Mỹ phẩm "hóa học cao" ngày nay sử dụng một loạt các chất nhũ hố

tổng hợp khác. Các q trình hóa học dựa trên sự nhũ tương hóa là sự xà phòng hóa các

axit trong sáp ong, tức là kết quả là một xà phòng. Hiệu quả làm sạch liên quan được khai

thác trong cái gọi là kem làm sạch, mà rất giống các loại kem da đơn giản. Để loại bỏ các

axit tự do khỏi sáp ong để nó khơng còn cần chất nhũ hóa và có thể dễ dàng trộn với sắc

tố và các sản phẩm khoáng sản, một quá trình đặc biệt đã được phát triển và cấp bằng

sáng chế

19



2.6. Sáp Shellac – Shellac Wax

2.7. Sáp len – Wool Wax

2.8. Sáp Montan – Montan Wax



Tài liệu tham khảo



20



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 . Sáp ong – Beeswax

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×