Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 . Sáp cọ Carnauba – Carnauba wax

2 . Sáp cọ Carnauba – Carnauba wax

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sáp carnauba được sản xuất bởi cọ Copernicia cerifera Martius của Brazil, tên

chung là cọ sáp carnauba. Nó là

sáp thực vật quan trọng

nhất về mặt thương mại. Việc khai

thác và xuất khẩu sáp carnauba là

một ngành cơng nghiệp chính

trong Brazil. Sáp được tìm thấy

trên cả hai bề mặt trên và dưới

của lá cọ. Để thu hoạch, lá được

cắt từ lòng bàn tay và trái để khơ

sau đó sáp được đánh đập ra khỏi

lá khơ.

2.2.2. Tính chất

Một nghiên cứu ban đầu về

Hình 2.2: Cây cọ Carnauba

rượu của sáp carnauba cho thấy lần

đầu tiên octacosanol (C28), triacontanol (C30), và dotriacontanol (C32) đã có mặt. Báo cáo

đã chứng minh rằng hexacosane-1,26-diol có thể được phân tách bằng cách chưng cất ở

0,5 mm. Một loạt các bài báo của Murray và Schonenfeld báo cáo về rượu, n-axit, diol, và

axit hydroxyl của sáp carnauba. Rượu được tách ra bằng cách acetyl hóa phần khơng thể

phân tích được bằng cách phân đoạn trong cột băng quay. Dây xích ngay cả số carbon

C24C34 được sản xuất chiếm đa số các loại rượu có mặt. Các axit thơng thường đã được

tìm thấy để tạo nên 38% các axit hiện diện và chúng được tách ra bằng cách chưng cất

khuếch đại các metyl este của chúng như C 18 (3%), C20 (11,5%), C22 (9%), C24 (30%), C26

(12%), C28 (16,5%) và C30 (7%). Bốn α-ω-diols được phân lập từ phần không tan được

của carnauba sáp và được xác định là n-docosane-1,22-diol, n-tetracosane-1,24-diol, nhexacosane-1,26-diol và noctacosane-1,28-diol. Bảy axit ω-hydroxy đã được xác định là

số cacbon thậm chí C18C30 hydroxy axit. Ba dieste có thể polyme hóa có chứa axit

cinnamic, para-hydroxy của nó, và các dẫn xuất para-methoxy của nó có được phân lập từ

sáp carnauba. Những diesters được cho là chịu trách nhiệm cho một số tài sản của sáp

carnauba. Một phân tích định lượng của sáp carnauba thủy phân được thực hiện bằng sắc

kí khí, trong khi sắc ký sắc ký cách ly các thành phần ban đầu của các loại sáp tự nhiên đã

được thực hiện. Các cấu trúc và động lực phân tử của sáp carnauba được thực hiện bằng

nhiễu xạ tia X, quét nhiệt lượng vi sai, và các kỹ thuật NMR và kết quả thu được được so

sánh với các loại sáp ong. Sáp carnauba được phân thành nhiều loại thương mại dựa trên

độ tinh khiết và hàm lượng dầu. Chúng có màu từ màu vàng nguyên tố (Loại 1, tinh khiết)

đến các sắc thái màu xám hoặc đen (Loại 4). Loại sáp 1 được sản xuất bằng cách làm tan

chảy sáp thu được trên nước rồi lọc. Chế phẩm sáp carnauba loại 1 không bị thủy phân

theo trọng lượng theo báo cáo của Vandenburg và Wilder là: hydrocacbon (0,3-1%), các

13



este béo (38-40%), các chất

chuyển hóa béo-hyđrôxyt phydroxit

(20-23%),est-hydroxy

aliphatic este (1214%), pmethoxycinnamic béo diesters

(57%),

rượu

monohydric

(1012%), diol triterpene (0,4%),

axit tự do và các thành phần chưa

biết khác (57%). Kết quả tương tự

thu được trong một nghiên cứu.

Hình 2.3: Sáp Carnauba

Sáp carnauba là một trong

những loại sáp thực vật khó nhất.



hòa tan trong dung mơi khơng phân cực và khơng hòa tan trong dung mơi phân cực. Có

điểm nóng chảy từ 82,5°C- 83,0°C, số axit từ 2 đến 4 mg KOH / g và xà phòng hóa số

lượng 88 mg KOH / g.

2.2.3. Thu nhận và xử lý

Sáp được lấy từ lá cọ trong một quá trình thu hoạch, lá được để lại trên cánh đồng

để khô dưới ánh mặt trời, sấy khơ, đập, tinh chế và cuối cùng có hệ thống thanh lọc bằng

cách lọc, ly tâm và tẩy trắng.[2] Bột được cô đặc trong vữa, được trộn với nước và tan

chảy để sản xuất sáp lỏng. Sau khi sấy, nó được cơ đặc thành từng phần và bán ra.

Sáp Carnauba cũng có thể được nhận từ thu hoạch hữu cơ. Carnauba hữu cơ được

sản xuất chỉ bằng cách nấu chảy và lọc sáp carnauba không được xử lý thơ có chất lượng

cao nhất. Nó có một mùi dễ chịu mờ nhạt, cho thấy tính chất kết dính dầu tốt, và có màu

sáng.[2]

2.2.4. Vai trò và ứng dụng

Sáp carnauba có nhiều ứng dụng và ứng dụng khác nhau, bao gồm thực phẩm, mỹ

phẩm, ô tô và sáp đồ nội thất, khuôn mẫu cho các thiết bị bán dẫn, và làm lớp phủ cho chỉ

tơ nha khoa.

Sáp carnauba có tính chất nhũ hóa rất tốt và khả năng bám dính dầu tuyệt vời cho

dầu và khống chất ester dầu.

Nó cũng làm tăng điểm nóng chảy của gel, do đó làm cho nó trở thành chất phụ gia

ưa thích trong son mơi, dưỡng mơi và mascara. Nó cung cấp các bề mặt bóng và trơn.

Sáp carnauba có thể tạo thành màng siêu thấm kháng dung môi từ hỗn hợp tự bốc

đồng với nhũ tương rượu. Những màng này có khả năng chống chịu được dung môi của

chloroform, toluene, acetone và rượu.



14



Sáp Carnauba là được sử dụng làm chất làm cứng cho các loại sáp khác và để tăng

điểm nóng chảy của hỗn hợp sáp. Nó cũng là một thành phần của đồ nội thất, da và đánh

bóng giày.

Trong ngành cơng nghiệp mỹ phẩm và thực phẩm, sáp carnauba được thêm vào

công thức của son môi

Sáp carnauba được chiết tách từ phần lá của cây carnauba, một loại cọ mọc ở vùng

đông bắc Brazil. Do điều kiện thời tiết bản địa nóng khô, cọ carnauba tự tiết ra một lượng

sáp để bảo vệ lá khỏi bị hư hại. Người ta làm khô lá cọ, tách lấy phần sáp này, tinh chế,

tẩy màu và sử dụng

Được mệnh danh là “nữ hoàng của các loại sáp” bởi độ cứng vượt trội của nó, sáp

carnauba thường được sử dụng để làm lớp phủ bền cho sàn nhà và xe hơi. Nó cũng được

sử dụng trong các sản phẩm đánh bóng, vecni và các sản phẩm làm đẹp như nến massage,

mascara, chất khử mùi, son môi, foundation, eye liner, eye shadow… Trong thực phẩm,

nó được sử dụng như một lớp phủ chống đông, bánh kẹo, kẹo cao su và nước sốt

Đặc biệt, sáp carnauba rất được ưa chuộng sử dụng trong mỹ phẩm như son môi vì

với cùng 1 lượng sản phẩm thì sáp caunauba có khả năng làm cứng tốt hơn với 1 lượng

sáp ít hơn hẳn so với sáp ong, sáp đậu nành, sáp candelilla…

2.3. Sáp gạo - Rice Bran Wax



2.3.1. Nguồn gốc

Sáp gạo là một loại sáp thực vật có

độ cứng cao, tinh thể, tan chảy cao thu

được từ vỏ gạo O. sativa

2.3.2. Tính chất

Sáp cám gạo bao gồm các

monoesters trọng lượng phân tử cao. Đây

là các este C46C62 bão hòa chuỗi rất dài từ Rượu béo C 20C36 và axit béo C20C26. Các thành

phần chính của sáp cám gạo là các axit béo (axit axít) và este rượu cao hơn. Các axit béo

bao gồm axit palmitic (C16), axit behenic (C22), axit lignoceric (C24), và các axít sáp cao

hơn. Các este rượu cao hơn bao gồm chủ yếu là rượu ceryl (C26) và rượu melissyl (C30).

Sáp cám gạo cũng chứa các thành phần như axit béo tự do (axit palmitic), squalene

và phospholipid. Cám gạo sáp là tương thích với hầu hết các loại sáp thực vật và khoáng

sản, cũng như dầu thực vật, dầu khoáng, và petrolatum

2.3.3. Thu nhận và xử lý

Sáp cám gạo thu được thơng qua q trình khử sương của dầu gạo và điều này tạo

ra một loại sáp tự nhiên màu vàng, cứng với điểm nóng chảy cao, thường được so sánh

với sáp carnauba. Tuy nhiên, có sự khác biệt chức năng giữa hai. Gạo cám sáp là một chất

15



kết dính cao cấp của các loại dầu và đã được hữu ích trong việc kết hợp và ổn định các

loại dầu trong cả hai hệ thống khan và nhũ tương. Sáp cám gạo thường được tinh chế

thông qua công nghệ sắc ký lô và không chiết xuất dung môi. Điều này phương pháp sàng

lọc giữ lại nồng độ thấp của policosanols, phospholipid, phytosterol, và squalene. Kết quả

sáp cám gạo có chất lượng cao.

2.3.4. Vai trò và ứng dụng

Sáp gạo đã được sử dụng trong lịch sử trong nhiều loại mỹ phẩm, thay thế sáp

carnauba trong một số ứng dụng.

Nó được sử dụng trong lớp phủ giấy, dệt may, chất nổ, trái cây và rau lớp phủ,

bánh kẹo, dược phẩm, nến, đúc mới lạ, cách điện, dệt và da kích thước, chống thấm, giấy

carbon, máy đánh chữ ruy băng, in ấn mực, chất bơi trơn, bút chì màu, chất kết dính, kẹo

cao su và mỹ phẩm (Kem, Sản phẩm quyến rũ, Nước hoa, Chăm sóc mặt trời, Mascara,

Lip Balms).

Sáp cám gạo có thể được sử dụng như một chất làm đặc và có tính chất làm mềm.

Sáp cám gạo cũng hoạt động tốt như một chất kết dính, lớp phủ hoặc chất tạo gel. Nó có

đặc tính gell dầu đặc biệt ở nồng độ tương đối nhỏ.

Nó là một loại sáp thú vị để sử dụng trong nhũ tương, tạo ra kết cấu mới. Nó được

xem là đặc biệt hiệu quả trong việc giảm sự kết hợp trong son môi và các hệ thống dựa

trên dầu khác

2.4. Sáp Candelilla – Candelilla Wax

2.5. Sáp ong – Beeswax

2.5.1. Nguồn gốc

Sáp ong là một loại sáp tự nhiên được

sản xuất trong tổ

ong bởi mật ong. Được lấy từ tuyến dưới

bụng của những con ong tiết ra sáp này và

nó được sử dụng để xây dựng lỗ tổ ong

chứa mật ong. Có tám tuyến trong bụng ong. Sáp

được thu hồi như một sản phẩm phụ khi mật ong được

thu hoạch và tinh chế. [2] [2] Chapter 22 Waxes



w.F. Tinto, T.O.Eluffioye and J.Roach

Các lý thuyết về nguồn gốc của sáp

ong qua các giai đoạn:

Nhà nguyên cứa người Hy Lạp Aristoteles từ năm 344

đến 342 TCN đã viết sáp ong bắt nguồn từ hoa. Lý thuyết này được bổ sung bởi những

nhà nguyên cứu La Mã Varro (116 đến 27 TCN) và Pliny. Lý thuyết này được kế thừa cho

đến thời Phục hưng. Năm 1673 Swammmerdam viết rằng sáp đã được hình thành bởi mật

từ phấn hoa. Năm 1684, Martin John quan sát vảy sáp lần đầu tiên. Năm 1744 Nhà khoa

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 . Sáp cọ Carnauba – Carnauba wax

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×