Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.2: Đặc điểm của sản phẩm quyền chọn tiền tệ

Bảng 1.2: Đặc điểm của sản phẩm quyền chọn tiền tệ

Tải bản đầy đủ - 0trang

đồng quyền chọn hàng hóa, hợp đồng quyền chọn chứng khoán.

Dưới đây, ta sẽ nghiên cứu các loại hợp đồng quyền chọn tiền tệ dựa trên

giao dịch mua, bán bao gồm: quyền chọn mua và quyền chọn bán.

1.2.3.2 Quyền chọn mua tiền tệ

a.



Định nghĩa



Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ (Call option) là một loại hợp đồng tài

chính diễn ra giữa hai bên, cho phép người mua hợp đồng có quyền mua một số

lượng ngoại tệ nhất định ở một mức tỷ giá ấn định trước vào hoặc trước ngày đáo

hạn của hợp đồng. Đổi lại, người mua hợp đồng phải trả cho người bán hợp đồng

một khoản phí quyền chọn.

b.



Lãi/lỗ của hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ



Nếu tỷ giá tăng như dự đốn thì người mua hợp đồng sẽ thu được lợi nhuận

trong khi chỉ phải đầu tư một khoản nhỏ (phí quyền chọn) hơn là phải bỏ tiền ra mua

tồn bộ số tài sản đó, trường hợp này người ta nói hợp đồng quyền chọn mua có lãi

(in the money – ITM), ngược lại hợp đồng quyền chọn mua bị lỗ (out of the money OTM). Về phía người bán chỉ thu được một khoản lợi tức bằng phí quyền chọn,

nhưng khi người mua thực hiện hợp đồng thì người bán sẽ bị lỗ khơng giới hạn.

Trong hợp đồng quyền chọn mua, người mua bao giờ cũng kỳ vọng tỷ giá

tăng trong khi người bán kỳ vọng tỷ giá đứng hoặc giảm.

Lãi



điểm hòa vốn



Lãi

Vùng lãi



giá thực hiện



phí



0



0



phí

giá thực hiện



điểm hòa vốn



lỗ



lỗ

(a)



(b)



Hình (a) cho thấy người mua quyền chọn với lợi nhuận tiềm năng là vô hạn



18



khi tỷ giá tăng trong tương lai. Ngược lại, nếu tỷ giá giảm so với giá thực hiện,

người mua chịu lỗ với mức lỗ tối đa bằng phí quyền chọn.

Hình (b) cho thấy người bán quyền chọn mua chỉ kiếm lời bằng khoản phí

nhận được và sẽ bị thua lỗ vơ hạn khi tỷ giá tăng so với giá thực hiện

c. Ví dụ

Công ty mua quyền chọn mua 1.000.000 USD kỳ hạn 2 tháng kể từ ngày

thoả thuận với tỷ giá thực hiện ví dụ là 21.000 VND/USD, phí mua quyền chọn phải

trả cho Ngân hàng là 5.000.000 VND.

Hai tháng sau, nếu tỷ giá USD tăng lên là 21.600 VND thì Cơng ty sẽ có

quyền mua số USD nhận được với tỷ giá đã cam kết là 21.000. Trường hợp này,

Công ty đã có lợi 600 VND/USD. Ngược lại nếu tỷ giá USD giảm xuống 20.800

VND/USD thì Cơng ty sẽ khơng thực hiện quyền chọn mua và mất khơng

5.000.000 VND tiền phí quyền chọn.

1.2.3.3 Quyền chọn bán tiền tệ

a. Định nghĩa

Hợp đồng quyền chọn bán (Put option) là một hợp đồng tài chính diễn ra

giữa hai bên cho phép người mua hợp đồng có quyền bán cho người bán hợp đồng

một số lượng ngoại tệ nhất định tại một mức tỷ giá xác định vào hoặc trước ngày

đáo hạn hợp đồng. Đổi lại, người mua phải trả cho người bán một khoản phí hợp

đồng.

Hợp đồng quyền chọn bán là một cách để nhà đầu tư bảo hiểm cho tài sản

của mình khi họ dự đốn được tỷ giá có khả năng giảm trong tương lai, đồng thời

không muốn bán hẳn số lượng ngoại tệ đó hoặc để đầu cơ thu lợi trước dự đốn về

tỷ giá. Dù trường hợp nào có xảy ra thì rủi ro của người mua hợp đồng cũng chỉ giới

hạn trong số phí hợp đồng.

b. Lãi/lỗ của hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ

Trong hợp đồng quyền chọn bán thì người mua hợp đồng lại chính là người

có quyền bán ngoại tệ. Người mua hợp đồng sẽ có lợi nếu tỷ giá giảm mạnh, khi đó

nếu người mua hợp đồng quyết định thực hiện quyền bán thì người bán hợp đồng sẽ



19



bắt buộc phải mua lượng ngoại tệ đó. Ngược lại, người bán hợp đồng (người có

nghĩa vụ mua ngoại tệ khi đến hạn nếu người mua hợp đồng yêu cầu) sẽ thu được

lợi khi tỷ giá tăng hoặc giảm ít hơn khoản phí quyền chọn nhận được.

Lãi



điểm hòa vốn



Lãi



giá thực hiện



phí

0



0



phí

giá thực hiện



điểm hòa vốn



lỗ



lỗ

(a)



(b)



Hình (a) mơ tả thành quả của người mua quyền chọn bán và hình (b) mơ tả

thành quả của người bán quyền chọn bán. Với một khoản phí để sở hữu quyền,

người mua quyền chọn bán chỉ lỗ giới hạn bằng với khoản phí đã trả khi mua quyền

chọn và sẽ có lời vơ hạn nếu tỷ giá có lợi. Ngược lại, người bán quyền chọn chỉ thu

về có giới hạn bằng số tiền phí bán quyền chọn nhưng sẽ phải gánh chịu khoản lỗ

vơ hạn nếu tỷ giá bất lợi.

c. Ví dụ

Cơng ty mua quyền chọn bán USD 1.000.000 kỳ hạn 2 tháng kể từ ngày thoả

thuận với tỷ giá thực hiện ví dụ là 21.000 VND/USD, phí mua quyền chọn phải trả

cho Ngân hàng là 5.000.000 VND.

Hai tháng sau, nếu tỷ giá USD giảm xuống còn 20.600 VND thì Cơng ty sẽ

có quyền bán số USD nhận được với tỷ giá đã cam kết là 21.000. Trường hợp này,

Công ty đã có lợi 400 VND/USD. Ngược lại nếu tỷ giá USD tăng lên 21.500

VND/USD thì Cơng ty sẽ khơng thực hiện quyền chọn bán và mất khơng 5.000.000

VND tiền phí quyền chọn.

1.2.3.4 Giá quyền chọn tiền tệ và các yếu tố ảnh hưởng

Giá quyền chọn tiền tệ (premium) = Giá trị nội tại (Instrinsic value) + Giá

20



trị thời gian (Time Value).

Trong đó giá trị nội tại là khoản lãi có thể thu được nếu thực hiện quyền

chọn tại một thời điểm nhất định. Như vậy đối với quyền chọn mua tiền tệ, giá trị

nội tại chính là chênh lệch giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá quyền chọn tại một thời

điểm nhất định. Ngược lại, đối với quyền chọn bán tiền tệ, giá trị nội tại là chênh

lệch giữa tỷ giá quyền chọn và tỷ giá giao ngay tại một thời điểm nhất định.

 Đối với hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ:

Giá trị nội tại = Tỷ giá giao ngay – Tỷ giá quyền chọn`1

 Đối với hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ:

Giá trị nội tại = Tỷ giá quyền chọn – Tỷ giá giao ngay

Giá trị thời gian của hợp đồng quyền chọn là khoản giá trị mà tại đó giá trị

của hợp đồng quyền chọn lớn hơn giá trị nội tại. Sự biến động của tài sản cơ sở có

mối liên hệ quan trọng với giá trị thời gian. Giá trị thời gian tăng khi biến động

tăng. Như đã đề cập trước đây, lợi nhuận của việc nắm giữ hợp đồng quyền chọn là

vô hạn trong khi lỗ chỉ giới hạn trong phần phí quyền chọn. Do đó, một hợp đồng

quyền chọn trên tài sản cơ sở biến động lớn thì khả năng mang lại lợi nhuận cao

hơn một hợp đồng quyền chọn trên một tài sản cơ sở ít biến động. Sự khác biệt giữa

lãi suất của hai dồng tiền cũng là một yếu tố cần được xem xét khi định giá quyền

chọn và cũng được tính vào thời gian của hợp đồng quyền chọn.

Tuy nhiên, giá của bất kỳ quyền chọn tiền tệ nào cũng gồm 6 yếu tố tác động

đến, đó là:

 Tỷ giá kỳ hạn (forward rates): Mặc dù tỷ giá kỳ hạn ảnh hưởng khơng

nhiều đến phí quyền chọn nhưng nó cũng cung cấp những thơng tin hữu ích để

những nhà kinh doanh quyền chọn xác định giá trị của hợp đồng quyền chọn. Nếu

tỷ giá kỳ hạn cao hơn nhiều so với tỷ giá giao ngay, điều đó có thể ảnh hưởng đến

phí hợp đồng mua quyền chọn mua tiền tệ sẽ cao.

 Tỷ giá giao ngay (spot rates): Đối với một quyền chọn mua tiền tệ, tỷ giá

giao ngay và giá của quyền chọn mua tăng (giảm) cùng chiều. Đối với quyền chọn



21



bán tiền tệ thì ngược lại, đó là mối quan hệ tăng (giảm) ngược chiều.

 Thời hạn của hợp đồng (time to maturity): Thời hạn đến hạn của hợp đồng

quyền chọn càng dài thì càng có nhiều khả năng tỷ giá thị trường biến động trên

mức tỷ giá quyền chọn đối với hợp đồng quyền chọn mua và thấp hơn tỷ giá quyền

chọn bán. Do đó, thời hạn của hợp đồng quyền chọn càng dài, thì người mua sẵn

sàng trả phí hợp đồng quyền chọn càng lớn và người bán yêu cầu phí quyền chọn

càng cao.

Đối với các quyền chọn kiểu Mỹ (cả quyền chọn mua và quyền chọn bán),

thời gian đáo hạn càng dài thì giá của hợp đồng quyền chọn càng cao, vì giá của tài

sản cơ sở có khả năng biến động để cho quyền chọn trở thành có lãi và đem lại lợi

nhuận cho người sở hữu. Đối với các quyền chọn kiểu châu Âu, ảnh hưởng của thời

gian cho đến khi đáo hạn phụ thuộc vào việc quyền chọn là quyền chọn mua hay

quyền chọn bán.

 Sự biến động của tỷ giá (volatility): Tỷ giá của thị trường biến động càng

mạnh, thì xác suất tỷ giá giao ngay vượt tỷ giá giao dịch tại thời điểm hợp đồng đến

hạn càng lớn, do vậy phí quyền chọn mua càng cao.

 Quyền chọn kiểu Mỹ hay kiểu châu Âu và yếu tố chênh lệch lãi suất:

Trước hết do hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ là linh hoạt hơn quyền chọn

kiểu châu Âu, do đó người mua hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ sẵn sàng trả phí

quyền chọn cao hơn cho hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ có cùng tỷ giá quyền chọn

và kỳ hạn với hợp đồng quyền chọn kiểu châu Âu. Thật vậy, với mức tỷ giá quyền

chọn, mức độ biến động của tỷ giá và kỳ hạn đến hạn của hợp đồng thì hợp đồng

quyền chọn kiểu Mỹ ln được định phí cao hơn hợp đồng kiểu châu Âu. Hơn nữa,

nếu đồng tiền chọn mua có lãi suất cao hơn lãi suất đồng tiền chọn bán, thì người

nắm giữ hợp đồng quyền chọn mua sẽ quan tâm đến việc thực hiện quyền chọn

trước khi hợp đồng đến hạn nhằm thu được lãi suất cao hơn. Lợi thế về lãi suất này

khiến cho phí của hợp đồng kiểu Mỹ cao hơn phí hợp đồng kiểu châu Âu. Nếu lãi

suất của đồng tiền chọn mua thấp hơn lãi suất của đồng tiền chọn bán thì lợi thế về

lãi suất của quyền chọn kiểu Mỹ đối với người mua khơng còn nữa mà lợi thế này



22



sẽ trở thành lợi thế tiềm năng thuộc người bán nếu người mua tiến hành giao dịch.

Do đó, về nguyên tắc trong trường hợp đồng tiền chọn mua có lãi suất thấp hơn thì

người bán có thể giảm phí của hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ so với hợp đồng

quyền chọn kiểu châu Âu. Tuy nhiên, người bán không nhất thiết phải giảm phí, bởi

vì: thứ nhất, do khơng có lợi thế về lãi suất nên người mua sẽ không thực hiện giao

dịch và do đó lợi thế tiềm năng của người bán không trở thành hiện thực; thứ hai, lãi

suất là yếu tố của thị trường nên có thể thay đổi vào bất cứ thời điểm nào trong

tương lai. Điều này khiến cho lãi suất của đồng tiền chọn mua có thể cao hơn tại

một thời điểm nhất định trong tương lai và do đó lợi thế tiềm năng của lãi suất có

thể chuyển từ người bán sang người mua. Cho nên ảnh hưởng của sự biến động lãi

suất lên phí quyền chọn có thể được xem xét dưới góc độ sau:

 Nếu người bán quyền chọn dự tính rằng lãi suất của đồng tiền trong hợp

đồng chọn mua ln thấp hơn đồng tiền chọn bán, thì người mua tính phí quyền

chọn đối với các hợp đồng kiểu Mỹ là giống như phí quyền chọn kiểu châu Âu.

 Nếu người bán dự tính rằng lợi thế lãi suất tiềm năng sẽ chuyển từ người

bán sang người mua trong tương lai thì sẽ nâng mức phí quyền chọn lên cao hơn.

Ngoài ra, việc xác định hợp đồng quyền chọn ở trạng thái ITM, OTM hay ATM là

một phần không thể thiếu được trong khâu định phí quyền chọn. Do đó, nếu chỉ tiến

hành so sánh tỷ giá quyền chọn với tỷ giá giao ngay thì sẽ bỏ sót ảnh hưởng của yếu

tố điểm kỳ hạn lên giá cả ngoại hối. Kết quả là, phí quyền chọn chịu ảnh hưởng của

điểm tỷ giá kỳ hạn, hay nói cách khác là các mức lãi suất của hai đồng tiền tham gia

quyền chọn có ảnh hưởng lên phí quyền chọn.

1.3. CÁC GIAO DỊCH TÀI CHÍNH PHÁI SINH CỦA MỘT SỐ NƯỚC

TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI CÁC NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Từ những năm 80 của thế kỷ 20, các giao dịch phái sinh đã được sử dụng

rộng rãi ở nhiều quốc gia. Bên cạnh mục đích phòng ngừa rùi ro về tỷ giá, các giao

dịch phái sinh tiền tệ ngày càng được sử dụng cho mục đích đầu cơ để kiếm lợi

nhuận khổng lồ. Chính vì lẽ đó mà doanh số của các giao dịch này gia tăng đáng kể



23



qua các năm. Theo con số thống kê của BIS (Bank for international settlements) thì

các giao dịch được thực hiện chủ yếu trên thị trường phi tập trung OTC (chiếm

khoảng 98% doanh số), còn lại là ở trên các Sở giao dịch.

Thị trường ngoại hối là thị trường tài chính lớn nhất và có tính thanh khoản

cao nhất trên thế giới. Sau đây xin điểm qua một vài thị trường ngoại hối lớn trên

thế giới.

1.3.1 Thị trường London

Tính đến nay, thị trường London là một thị trường lớn nhất toàn cầu về kinh

doanh ngoại hối. Phiên giao dịch châu Âu trên thị trường ngoại hối cũng là phiên giao

dịch quan trọng nhất xét về khối lượng và mức độ hoạt động của những người tham

gia. Nó có tính thanh khoản cao nhất. Doanh thu trung bình hằng ngày trên thị trường

ngoại hối London đạt tổng cộng 1.859 tỷ USD trong tháng 04/2012 với hơn 141 tỷ

USD là từ khoản kinh doanh tiền tệ, Lượng USD giao dịch trên thị trường ngoại hối

Anh gấp 2 lần ở thị trường Hoa Kỳ, và lượng EUR trao đổi trên thị trường London

gấp hơn 2 lần so với toàn bộ các nước trong khu vực đồng tiền chung châu Âu.

Các công cụ phái sinh trên thị trường ngoại hối Anh cũng rất phát triển. Từ

năm 2004 đến năm 2007, doanh số bình quân ngày hoán đổi ngoại hối tăng từ 428

tỷ USD lên đến 899 tỷ USD, tăng 110%. Giao dịch kỳ hạn tăng 21% lên 124 tỷ

USD,. Doanh số thị trường quyền chọn tăng 66%. Thị trường các công cụ phái sinh

lãi suất tăng 365 tỷ USD lên 957 tỷ USD, tăng 70%.

Không chỉ phát triển về các sản phẩm phái sinh tiền tệ, tại London cũng phát

triển mạnh về sản phẩm phái sinh hàng hóa. Các hợp đồng phái sinh cà phê được

thực hiện lớn nhất trên sàn Liffe NYSE ở London. Hay mới đây, tại London nói

riêng và thị trường châu Âu nói chung cũng đang phát triển sản phẩm chứng khoán

ngành bơ sữa. Do cuộc chiến cấm vận giữa Nga và Liên minh châu Âu đã dẫn đến

tình trạng dư thừa pho mai, các nhà sản xuất châu Âu đã phản ứng bằng cách

chuyển sữa thành các sản phẩm bột sữa nhanh hỏng hơn thay vì các sản phẩm như

phô mai dày hay phô mai mềm như trước đây. Kết quả là giá bán buôn đã giảm 1/3.

Biến động giá mạnh mẽ như trên có thể phá hủy tồn bộ ngành cơng nghiệp bơ sữa.



24



Cả hai phía là người nông dân và các nhà sản xuất sản phẩm bơ sữa (như Nestlé và

Danone) đều cần đến giá cả ổn định để lên kế hoạch sản xuất trong tương lai. Vì vậy

sàn giao dịch Euronext đã tung ra một số sản phẩm chứng khoán phái sinh ngành bơ

sữa. Các sản phẩm này hướng đến những công ty trong ngành bơ sữa muốn phòng

vệ trước biến động giá cũng như những người đầu cơ muốn tận dụng cơ hội ăn

chênh lệch.

Một mặt trái của việc phát triển các sản phẩm phái sinh hàng hóa là tình

trạng tích trữ hàng chờ thời cơ gây ra sự tốn kém về kho bãi, rủi ro về chất lượng

hàng hóa. Theo liên đồn Cà phê châu Âu (European Coffee Federation), tính đến

hết tháng 12-2014 tồn kho cà phê còn 11.490.771 bao (bao=60 kg) tương đương với

689.446 tấn. Con số này chưa gộp cà phê đang trung chuyển hay nằm tại các cơ sở

rang xay và sản xuất cà phê hòa tan, ước chừng 150.000 tấn nữa. Tổng số gần

840.000 tấn này đảm bảo cho tồn châu Âu tiêu thụ trong vòng 3 tháng rưỡi nếu

như khơng nhập thêm.

Tại London có nhiều tổ chức kinh doanh nước ngoài đặt trụ sở kinh doanh và

phần lớn các nhà mơi giới cũng có các cơng ty con tại đây nên thị trường ngoại hối

ở London ngày càng phát triển không ngừng và London đã cho thấy được tầm vóc

của mình xứng đáng là một trung tâm tài chính trọng yếu của châu Âu đồng thời là

trung tâm tài chính hàng đầu thế giới.

1.3.2 Thị trường Mỹ

Thị trường tài chính phái sinh của Mỹ xuất hiện và phát triển song hành cùng

với sự ra đời và phát triển của các sở giao dịch, trung tâm giao dịch lớn của nước này

như Hội đồng Mậu dịch Chicago (CBOT), Sở Thương mại Chicago (CME) và các thị

trường chứng khoán NYSE, NASDAQ, AMEX. Vào những năm 1970, Mỹ thiết lập

nền tảng giao dịch quyền chọn cổ phiếu thông qua sự đột phá lý thuyết định giá quyền

chọn (do Fischer Black và Myron Scholes đưa ra), cùng với sự ra đời của hệ thống máy

tính đã giúp Mỹ tạo ra làn sóng sử dụng hàng hóa phái sinh một cách rộng rãi đầu tiên

trên thế giới. Các sản phẩm phái sinh đã khơng dừng lại ở hợp đồng kỳ hạn mà còn



25



phát triển ở dạng cao hơn là hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi.

Một bước đánh dấu trong sự phát triển các sản phẩm phái sinh ở Mỹ là sự

xuất hiện của các giao dịch điện tử được sử dụng lần đầu tiên trên Sở giao dịch hàng

hóa Chicago (CME) năm 1992, giao dịch điện tử đã nhanh chóng được chấp nhận

rộng rãi. Lợi ích có được từ giao dịch điện tử là tính thanh khoản cao hơn, giảm chi

phí giao dịch và tính minh bạch cao hơn.

Nói đến lịch sử phát triển các cơng cụ tài chính phái sinh ở Mỹ không thể

không nhắc đến cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu năm 2007 – 2009. Đó là

hậu quả từ sự bng lỏng điều tiết các chứng khốn phái sinh của Mỹ đã tạo ra

bong bóng nhà đất, tiếp đó là sự đổ vỡ, phá sản của nhiều ngân hàng và tập đồn

tài chính, làm tắc nghẽn hoạt động của nhiều ngành kinh tế quan trọng. Sự kiện

đầu tiên của cuộc khủng hoảng này là năm 2007, trước tình hình tăng trưởng

nóng và lạm phát có xu hướng tăng, FED đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt

chặt, ép chặt tín dụng và đẩy lãi suất lên cao khiến nhiều người vay khơng trả

được nợ. Tình trạng vỡ nợ xảy ra ở mọi nơi, giá nhà lại càng sụt giảm sâu kéo

theo sự sụt giảm của các sản phẩm chứng khốn phái sinh tụt mạnh, thậm chí

đóng băng trên thị trường thứ cấp.

Khi cuộc khủng hoảng bùng nổ, các chun gia đã ước tính rằng trong

22000 tỷ đơ la Mỹ giá trị bất động sản Mỹ - tâm chấn của cuộc khủng hoảng – có

tới 12000 tỷ đơla Mỹ là tiền đi vay và trong đó khoảng 4000 tỷ đôla Mỹ là nợ xấu.

Một sản phẩm phái sinh “mang mầm bệnh” nữa là “Hốn đổi vỡ nợ tính dụng”

(“Credit Default Swap – CDS”). Các hợp đồng này do các tổ chức tài chính và các

cơng ty bảo hiểm quốc tế bán ra. Các tổ chức này sẽ cam kết hoàn trả đầy đủ số nợ

cho vay cho bên mua CDS nếu bên đi vay không trả được nợ. Sản phẩm CDS này

thường được các nhà đầu tư như quỹ đầu tư, ngân hàng đầu tư mua để xóa hoặc

ngăn cản rủi ro xảy ra cho các gói sản phẩm chứng khốn phái sinh đã mua trước

đó. Thống kê của hiệp hội phái sinh và hoán đổi quốc tế ISDA (International Swap

and Derivatives Association) về sản phẩm này cho thấy tại Mỹ tổng số CDS ước



26



tính khoảng 35000 tỷ ddoola Mỹ và trên thế giới khoảng 54600 tỷ đôla Mỹ. Và khi

các sản phẩm chứng khoán phái sinh mà CDS bảo lãnh chao đảo thì đến lượt CDS

cũng đổ vỡ theo, kéo các tổ chức bán CDS lâm vào thảm cảnh. Sự sụp đổ của các

chứng khoán phái sinh đã tạo nên sự rung chuyển, ngã quỵ của nhiều tập đồn tài

chính, ngân hàng chủ quản và bảo hiểm hàng đầu Mỹ cũng như thế giới như AIG,

BNP, Citigroup, Bank of America... Khơng ngừng ở thị trường tài chính Mỹ, lúc

này các cơng cụ tài chính phái sinh đã phát huy mặt trái của nó, tiếp tục tàn phá các

định chế tài chính tồn cầu. Sự khủng hoảng của các tập đồn ngân hàng và tập

đồn tài chính các nước đã kéo theo sự hoảng loạn của các ngành khác, ảnh hưởng

sâu sắc đến toàn bộ hoạt động sản xuất của nước Mỹ nói riêng và tồn thế giới nói

chung: lạm phát tăng cao, thất nghiệp tăng, chỉ số chứng khốn thế giới tụt dốc,

đình trệ tiêu dùng….

Ơng Alan Greenspan, Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ đã phát biểu trước

Quốc hội, thừa nhận sai lầm của mình khi khơng kiểm sốt nghiêm ngặt các chứng

khốn phái sinh. Thêm vào đó là việc lạm dụng các cơng cụ tài chính phái sinh mà

xuất phát điểm là từ long tham của Ban quản trị Công ty trước những nới lỏng trong

chính sách tài chính cũng như pháp luật của Chính phủ. Đây cũng là bài học cho

những nước đã và đang phát triển thị trường phái sinh hàng hóa cần phải biết kiểm

soát và điều tiết thị trường phái sinh để tránh khỏi vết xe đổ mà Mỹ đã đi qua.

Sau cuộc khủng hoảng, Mỹ đã thực hiện các chính sách nhằm ngăn ngừa và

hạn chế nguy cơ lặp lại khủng hoảng tài chính. Ngày 16/5/2013, Ủy ban giao dịch

giao sau của Mỹ (CFTC) đã ban hành qui định về giao dịch phái sinh. Sự ra đời của

qui định này được coi là cuộc cải tổ mạnh mẽ thị trường phái sinh, đặc biệt là nâng

cao tính minh bạch của các giao dịch trên thị trường này cho phù hợp với các qui

định chung về thương mại điện tử, mang lại lợi ích chung cho nền kinh tế.

Ngồi ra, Mỹ cũng có những biện pháp mạnh tay để phạt những ngân hàng

đã có những hành động thao túng thị trường ngoại hối. Cuối tháng 11/2013, Ngân

hàng JPMorgan Chase đã phải nộp phạt 13 tỷ USD do bán những chứng khoán



27



được bảo đảm bằng những tài sản thế chấp dưới chuẩn, là một trong những nguyên

nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009. Ngày 20/05/2015, năm "đại gia"

ngân hàng thế giới, trong đó có 2 ngân hàng Mỹ là JPMorgan Chase và Citigroup Inc

đã nhận tội và bị phạt tổng cộng 5,7 tỷ USD do thao túng thị trường tỷ giá trao đổi

ngoại tệ bằng cách đó là các nhà môi giới tiền tệ của những ngân hàng trên đã hình

thành một Cartel, sử dụng các phòng chat và mật mã riêng để lũng đoạn, thao túng tỷ

giá hối đối giữa đồng đơ la Mỹ và đồng euro theo ý mình. Các hoạt động gần như

diễn ra hàng ngày của nhóm người này đã gây tổn hại cho nhiều khách hàng, các nhà

đầu tư và các tổ chức tài chính trên tồn thế giới. Với sự tiếp tay của nhóm người

trên, một nhà mơi giới đơn lẻ đã mua gom với số lượng lớn một loại ngoại tệ mạnh,

sau đó xả hàng để kiếm lời ngay trước hoặc trong lúc đang định giá.

Với những chính sách hợp lý và những biện pháp trừng phạt mạnh mẽ, thị

trường ngoại hối ở Mỹ đã ngày càng trở nên minh bạch, tạo được niềm tin cho các

nhà đầu tư, xứng đáng là một thị trường tài chính lớn thứ hai trên tồn thế giới.

1.3.3 Thị trường Singapore

Những năm 1965 trở về trước, Singapore có nền kinh tế xã hội khó khăn và

nghèo nàn do nằm dưới sự cai trị của Anh và phụ thuộc Malaysia. Với 2 triệu dân

tồn tại trên 1 hòn đảo rộng chỉ 640 km2, khơng có thị trường nội địa, nước ngọt

phải mua Singapore vẫn là vùng đất nghèo nàn, cằn cỗi.

Tuy nhiên, từ khi tách khỏi Malaysia và tuyên bố độc lập vào năm 1965,

Singapore vẫn là thành phần của khu vực đồng Bảng của Anh, nên bị quyền kiểm

soát hối đoái trong luân chuyển tiền tệ. Vì thế, việc đầu tiên thủ tướng Lý Quang

Diệu làm là ra khỏi khu vực đồng Bảng Anh vào những năm đầu 1970. Đến những

năm thuộc thập kỷ 90, đất nước này đã lột xác nhanh chóng nhờ vào tài năng kiến

tạo của thủ tướng Lý Quang Diệu và cộng sự. Singapore của những năm 1990 là

nước duy nhất nằm trong thế giới thứ 3 nhưng có mức thu nhập của các nước thế

giới thứ nhất, các nước G7, thậm chí nhiều tiêu chí còn hơn thế.

Một quyết định nữa của thủ tướng Lý Quang Diệu đã giúp Singapore có vị



28



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.2: Đặc điểm của sản phẩm quyền chọn tiền tệ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×