Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM

CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Cùng với quyết định thay đổi toàn diện, từ định hướng kinh doanh, hình ảnh

thương hiệu, thiết kế khơng gian giao dịch tới phương thức tiếp cận khách hàng…

đến nay, Maritime Bank đang được nhận định là một Ngân hàng có sắc diện mới

mẻ, đường hướng hoạt động táo bạo và mơ hình giao dịch chun nghiệp, hiện đại

nhất Việt Nam.

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần

Hàng Hải Việt Nam

Với tầm nhìn, mục tiêu và chiến lược nêu trên đã được cổ đông và cán bộ

nhân viên Maritime Bank theo đuổi trong suốt hơn 20 năm hoạt động của mình và

những kết quả đạt được đã chứng minh rằng đó là các định hướng đúng đối với

Maritime Bank. Đây cũng chính là tiền đề giúp ngân hàng khẳng định vị trí của

mình trong hệ thống NHTM tại Việt Nam. Dưới đây là một số cột mốc đáng nhớ

của Maritime Bank:

Ngày 12/7/1991: Maritime Bank chính thức khai trương và đi vào hoạt động

tại thành phố Cảng Hải Phòng. Khởi đầu, Maritime Bank hoạt động với 24 cổ đông

và vốn điều lệ 40 tỷ đồng. Maritime Bank trở thành một trong những Ngân hàng

thương mại cổ phần đầu tiên tại Việt Nam.

Thời kỳ 1998 – 2001: Cùng với sự thăng trầm của nền kinh tế đất nước và

cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực, Maritime Bank cũng đã gặp khơng ít

khó khăn, nhưng vẫn duy trì được tốc độ phát triển và hiệu quả kinh doanh.

Thời kỳ 2002-2004: Là giai đoạn duy trì, củng cố hoạt động của Maritime

Bank. Với sự nỗ lực không ngừng của Hội đồng Quản trị, Ban Điều hành, cũng như

toàn thể cán bộ nhân viên, Maritime Bank đã vượt qua gian nan, thử thách để khẳng

định vị thế của mình.

Tháng 8 năm 2005: Maritime Bank đã chuyển Hội sở chính từ Hải Phòng

lên thủ đơ Hà Nội, một trung tâm kinh tế, chính trị và văn hố của cả nước. Sự kiện

này đã đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển toàn diện của Maritime Bank.

Đây là một sự chuyển hướng chiến lược, thể hiện quyết tâm lớn của Maritime Bank

trong việc mở rộng ảnh hưởng và mở rộng thị trường.



32



Năm 2006-2009: Maritime Bank đã tiến hành việc tái cấu trúc bộ máy một

cách cơ bản, toàn diện theo hướng tách riêng các hoạt động kinh doanh và hoạt

động hỗ trợ, hình thành các khối nghiệp vụ (khối dịch vụ, khối khách hàng cá nhân,

khối khách hàng doanh nghiệp, khối kinh doanh nguồn vốn và khối quản lý rủi

ro…) đồng thời tăng cường vai trò, năng lực quản lý tập trung tại trụ sở chính. Cơ

cấu tổ chức mới sau khi tái cấu trúc nhằm bảo đảm tính chỉ đạo xun suốt tồn hệ

thống. Sản phẩm được quản lý theo định hướng khách hàng, được thiết kế phù hợp

với từng nhóm khách hàng. Phát triển kinh doanh và quản lý rủi ro được quan tâm.

Năm 2009, Maritime Bank đã tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng và đạt 109 điểm

giao dịch trên toàn quốc.

Năm 2010: Maritime Bank đã tăng vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng, mạng lưới

giao dịch đạt 144 điểm trên toàn quốc. Maritime Bank triển khai chiến lược mới

hợp tác với McKinsey – Công ty tư vấn chiến lược hàng đầu thế giới. Ra mắt bộ

nhận diện thương hiệu mới, logo mới với sự kết hợp hai màu đỏ - đen ấn tượng.

Thực hiện tái cơ cấu tổ chức, thay đổi căn bản phương thức quản lý, điều hành kinh

doanh từ trụ sở chính đến các đơn vị kinh doanh nhằm khơng chỉ đối phó với các

thách thức mà còn phát huy được những ưu thế vốn có, tận dụng mọi cơ hội để lớn

mạnh trong môi trường cạnh tranh kinh doanh ngày càng gay gắt. Thông qua việc

thực hiện chương trình chuyển đổi giai đoạn I, Maritime Bank đã có những điều

chỉnh quan trọng về trọng tâm chiến lược phát triển kinh doanh, thiết lập mơ hình

ngân hàng chun doanh theo tiêu chuẩn quốc tế, củng cố nền tảng chính sách, kiện

toàn hệ thống văn bản định chế, nâng cấp hạ tầng công nghệ và chú trọng tạo lập

các giá trị văn hóa doanh nghiệp.

Năm 2011: Maritime Bank đã tăng vốn điều lệ lên 8.000 tỷ đồng và đạt 202

điểm giao dịch trên toàn quốc với tổng số 230 ATM, kết nối thành công với tổ chức

thẻ quốc tế Master card. Maritime Bank cũng tiếp tục triển khai sâu rộng dự án chiến

lược phát triển trên tất cả các lĩnh vực trong bối cảnh kinh tế tồn cầu suy thối và

nền kinh tế trong nước đầy bất ổn như: chỉ số lạm phát còn tăng cao, mức độ tăng

trưởng thấp, đầu tư trong nước và nước ngồi đều có chiều hướng chững lại do các



33



chính sách thắt chặt tiền tệ và đầu tư cơng… Đặc biệt, năm 2011 còn là thời điểm vơ

cùng khó khăn đối với ngành tài chính ngân hàng khi phải đối mặt với các cú sốc về

lãi suất, tỷ giá, tình trạng nợ xấu gia tăng và sức ép đối với tái cấu trúc hệ thống ngân

hàng. Trước những thách thức đó, Maritime Bank đã cùng nỗ lực vượt qua khó khăn

và thực hiện có kết quả các mục tiêu kế hoạch đề ra. Năm 2011 cũng là năm hệ thống

cơng nghệ ngân hàng đã có sự chuyển hóa sâu rộng nhằm phục vụ mục tiêu kinh

doanh và hoạt động ngân hàng, trong đó có dự án lớn mang tính đổi mới và đột phá

cho Maritime Bank như hệ thống quản lý rủi ro Kondor, hệ thống giao dịch trực

tuyến đa kênh (Internet Banking, Mobile, SMS…) trên công nghệ IBM.

Năm 2012: Hoạt động ngân hàng vẫn tiếp tục chịu sự tác động của khủng

hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến sự tăng trưởng chậm, suy giảm lợi nhuận và tỷ lệ

nợ xấu ngày càng cao. Trong bối cảnh đó, hội đồng quản trị Maritime Bank đã xác

định năm 2012 là giai đoạn tập trung cho mục tiêu: bảo đảm tỷ lệ an toàn hoạt

động, tăng cường năng lực quản trị điều hành, triển khai các mô hình kinh doanh

theo định hướng chiến lược và tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức để tạo ra sự khác

biệt về chất thay vì chỉ hướng về quy mơ tổng tài sản, tăng trưởng tín dụng như

những năm trước đây. Trong năm 2012 Maritime Bank cũng vinh dự được NHNN

cơng nhận là một trong những ngân hàng thuộc nhóm 1 và được trao tặng nhiều

danh hiệu, giải thưởng cao quý bởi cơ quan quản lý Nhà nước, báo chí và cộng

đồng doanh nghiệp.

Năm 2013: Trải qua năm 2013 với rất nhiều khó khăn từ nền kinh tế thế giới

và khu vực, ngành tài chính ngân hàng Việt Nam đã xuất hiện một số tín hiệu khả

quan, hoạt động huy động bắt đầu tăng trưởng, tính thanh khoản của hệ thống

NHTM cũng dần được cải thiện, kết quả kinh doanh tốt hơn. Tuy vậy, hệ thống

ngân hàng vẫn phải đối mặt với khơng ít những khó khăn, thách thức. Trong bối

cảnh đó, Maritime Bank vẫn có những bước phát triển vững chắc trong hoạt động

kinh doanh, quản trị rủi ro, tập trung nguồn lực để phát triển toàn diện về mọi mặt

trên cơ sở tuân thủ các quy định của Nhà nước và Pháp luật. Năm 2013 đã cho thấy

những nỗ lực của Maritime Bank trong việc giữ vững định hướng chiến lược, trở

thành một trong những NHTM hoạt động hiệu quả nhất Việt Nam.



34



Năm 2014: Mặc dù đã có nhiều dấu hiệu phục hồi nhưng năm 2014 vẫn tiếp

tục là một năm khó khăn đối với nền tài chính ngân hàng tồn cầu trong đó có Việt

Nam. Lợi nhuận hầu hết các Ngân hàng đều bị ảnh hưởng do hoạt động tín dụng

suy giảm và tỷ lệ nợ xấu chưa được giải quyết cơ bản. Trong bối cảnh khắc nghiệt

đó, với quan điểm phát triển an tồn, bền vững cùng với việc triển khai mạnh mẽ

hoạt động kinh doanh theo chiến lược đã được phê duyệt, kết quả kinh doanh năm

2014 của Maritime Bank đã từng bước được cải thiện. Năm 2014 cũng đã đánh dấu

thành công của Maritime Bank trong nỗ lực tăng doanh thu từ phí dịch vụ với mức

tăng ấn tượng cùng với đó các sáng kiến nhằm kiểm sốt hiệu quả chi phí đã được

triển khai góp phần giảm chi phí hoạt động của Maritime Bank. Ngồi ra Maritime

Bank đã thành cơng trong việc tái cơ cấu Ngân hàng Cá nhân, triển khai thành công

mô hình tài chính kinh doanh và Tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng Cá nhân, hoàn

thiện và mở rộng kinh doanh Ngân hàng Cộng đồng, phân khúc Khách hàng Doanh

nghiệp, từng bước hình thành Ngân hàng Quản lý tín dụng để tập trung hóa việc

quản lý các khoản nợ rủi ro và tiềm ẩn rùi ro. Trong năm 2014, Maritime Bank vinh

dự được lựa chọn là 1 trong 10 ngân hàng đầu tiên triển khai Basel II và được lựa

chọn là 1 trong 5 ngân hàng điện tử được yêu thích nhất năm 2014.

Năm 2015: Với những hứa hẹn hơn đối với nền kinh tế, Maritime Bank vẫn

từng bước phát triển đặt ra những mục tiêu phát triển về chiến lược kinh doanh, phát

triển mạng lưới, quản trị rủi ro, xử lý nợ xấu, nhân sự, công nghệ thông tin,…

Maritime Bank xác định năm 2015 sẽ chú trọng vào hoạt động huy động vốn với mục

tiêu xây dựng cơ cấu nguồn vốn ổn định, chi phí hợp lý, từ đó tạo cơ sở tăng sức cạnh

tranh cho Maritime Bank. Cụ thể, tập trung vào tăng trưởng tiền gửi không kỳ hạn

cũng như vào phân khúc khách hàng có tiền gửi ổn định. Bên cạnh đó vẫn phát triển

tín dụng trên nguyên tắc cẩn trọng, đảm bảo chất lượng và an tồn tín dụng.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải

Việt Nam

Trải qua 24 năm hoạt động, Maritime Bank đang từng bước phát triển về cả

chiều rộng và chiều sâu. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2014 tổng số cán bộ nhân



35



viên là 2.923 người, trình độ từ đại học trở lên 96%, trình độ cao đẳng, trung cấp là

4%, thu nhập bình qn/ tháng là 12,6 triệu đồng. Hội sở chính của Ngân hàng đặt

tại số 88 phố Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Tại ngày 31 tháng 12 năm

2014, Ngân hàng có một (1) Sở giao dịch, 44 chi nhánh, 176 phòng giao dịch, quỹ

tiết kiệm và 2 công ty con (Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và khai thác Tài sản

NHTMCP Hàng Hải Việt Nam, Công ty cổ phần Thuận An).

Tổ chức bộ máy của Maritime Bank trong các năm từ 2011 đến 2015 tiếp

tục được cơ cấu theo hướng điều hành tập trung, phân quyền quản lý theo chức

năng chun mơn hóa, đồng thời chủ trương kiểm soát và giảm thiểu rủi ro, giúp

nâng cao hiệu quả hoạt động, tinh giản bộ máy và làm tăng năng suất lao động.

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Maritime Bank



36



Bên cạnh đó từ 2011 đến 2013 Maritime Bank xây dựng và dần hoàn thiện

mơ hình quản trị rủi ro theo hướng chun mơn hóa, đẩy mạnh việc nghiên cứu,

triển khai nhiều chương trình quản lý rủi ro quan trọng, tập trung khai thác các tính

năng quản trị và phân tích rủi ro đối với sản phẩm kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh

vàng và kinh doanh trái phiếu của hệ thống Kondor plus và KGR VAR – hệ thống

quản trị rủi ro tiên tiến của Mysis. Theo đó, năm 2014 Maritime Bank đặt ra kế

hoạch hoàn thiện hệ thống quản lý rủi ro tuân thủ theo tiêu chí Basel II bao gồm cả

việc triển khai chương trình đảm bảo hoạt động kinh doanh liên tục. Tích cực trong

việc tập trung xử lý nợ xấu, xây dựng lộ trình trích lập dự phòng, đảm bảo tn thủ

Thơng tư 02 đúng thời điểm có hiệu lực. Ngoài ra, Maritime Bank cũng đã sửa đổi,

ban hành khung quản lý rủi ro cho các hoạt động kinh doanh ngân hàng phù hợp

với khẩu vị rủi ro, tình hình thực tế cũng như mơi trường kinh tế. Qua đó, các Ngân

hàng chuyên doanh đã xây dựng chính sách khách hàng, chính sách tín dụng, định

hướng tín dụng và quản lý khách hàng theo đặc thù phân khúc khách hàng riêng của

mình, đồng thời đã xây dựng được đầy đủ cơng cụ đo lường và đánh giá rủi ro tín

dụng. Khối Quản lý rủi ro với chức năng là đầu mối định dạng, phân loại rủi ro,

giám sát và đề xuất các biện pháp ngăn ngừa, xử lý rủi ro trong toàn hệ thống.



37



Sơ đồ 2.2 : Cơ cấu tổ chức quản trị rủi ro của Maritime Bank



38



2.1.3. Kết quả hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt

Nam giai đoạn 2012- tháng 6/2015

2.1.3.1 Tồng quan về tình hình tài chính của Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng

Hải Việt Nam giai đoạn 2012- tháng 6/2015

Từ năm 2012 đến tháng 6/2015 tình hình tài chính của Maritime Bank có

nhiều biến động. Dưới đây là một số chỉ tiêu tài chính cơ bản trong giai đoạn này

Bảng 2.1: Các chỉ tiêu tài chính cơ bản giai đoạn 2012- tháng 6/2015

Đơn vị: Tỷ đồng

Tăng/Giảm Tăng/Giảm



6 tháng



2013 so với



2014 so với



đầu năm



2012



2013



2015



109.923 107.115 104.369



-2.55%



-2.56%



109.200



97.591



93.47



92.67



-4.22%



-0.86%



94.21



Tổng dư nợ



28.944



27.409



23.509



-5.30%



-14.23%



21.765



Tỷ lệ nợ xấu



2,65%



2,71%



2.61%



2.26%



-3.69%



2.55%



255



401



162



57.25%



-59.60%



56



8



8



8



0.00%



0.00%



8



7%



0%



0%



-100.00%



-



0%



Chỉ tiêu

Tổng tài sản

Tổng vốn huy

động



Lợi nhuận

trước thuế

Vốn cổ phần

Tỷ lệ chia cổ

tức



Năm



Năm



Năm



2012



2013



2014



(Nguồn: Báo cáo thường niên Maritime Bank từ 2012- tháng 6/2015)

Giai đoạn 2012- tháng 06/2015 nền kinh tế thế giới tiếp tục biến động phức

tạp, thương mại sụt giảm, tăng trưởng thấp. Theo đó nền kinh tế Việt Nam cũng bị

ảnh hưởng, tỷ lệ tăng trưởng chậm, nguồn cung và sức cầu còn yếu. Thực hiện

chiến lược quản trị theo định hướng An tồn- Hiệu quả- Bền vững, tình hình tài

chính của Maritime Bank đã có nhiều biến động, cụ thể:

Tổng tài sản toàn hàng sụt giảm qua các năm: Năm 2013 quy tổng tài sản

giảm 2.808 tỷ đồng (2,55%) so với 2012, năm 2014 quy mô tài sản tiếp tục giảm



39



2,56% so với 2013 tương đương 2.746 tỷ đồng. Tính đến 30/06/2015 tổng tài sản

đạt 109.200 tỷ đồng tăng 4.831 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2014.

Tổng vốn huy động năm 2013 giảm 4.121 tỷ đồng (4,22%) so với 2012, năm

2014 quy mơ vốn huy động giảm còn 92.67 tỷ đồng (giảm 0.8 tỷ đồng tương đương

0,86%). 6 tháng đầu năm 2015 con số này tăng thêm 1.540 tỷ đồng đưa tổng vốn

huy động lên 94.213 tỷ đồng.

Dư nợ tín dụng cũng giảm theo quy huy động vốn. Năm 2013 tổng dư nợ

giảm 5,3% so với năm 2012. Năm 2014 dư nợ tín dụng tiếp tục giảm 3.9 tỷ đồng

tương đương 14,23% so với năm 2013, đánh dấu sự sụt giảm nghiêm trọng trong

hoạt động tín dụng. Trái ngược với tổng vốn huy động, thời điểm 30/06/2015 dư nợ

tín dụng giảm so với năm 2014 là 1.744 tỷ đồng.

Năm 2013 tuy tổng tài sản, tổng huy động vốn và tổng dư nợ có giảm so với

năm 2012 nhưng lợi nhuận trước thế của năm 2013 lại tăng vọt so với năm 2012 và

đạt mức 401 tỷ đồng (tăng 57,25%). Đạt được thành tích đó là do Maritime Bank đã

kinh doanh đạt hiệu quả và tiết kiệm chi phí. Tổng chi phí hoạt động của Ngân hàng

giảm xuống 90% so với năm 2012 và giữ ở mức 1.698 tỷ đồng. Bên cạnh đó

Maritime Bank tiếp tục duy trì ổn đinh được các chỉ tiêu về an toàn hoạt động: Tỷ lệ

an toàn vốn riêng lẻ và vốn hợp nhất của Ngân hàng là 11,24% và 10,56% cao hơn

tỷ lệ yêu cầu 9% của NHNN.

Bước sang năm 2014 tuy nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn

nhưng hoạt động của Maritime Bank đã có nhiều chuyển biến tích cực so với năm

2013. Với mục tiêu tối ưu hóa mơ hình hoạt động, tổng chi phí hoạt động của Ngân

hàng giảm 14% so với năm 2013 và giữ ở mức 1.452 tỷ đồng. Kết quả này thể hiện

sự nỗ lực khơng ngừng của tồn hệ thống Maritime Bank trong chiến dịch tăng hiệu

quả chi phí hoạt động, tối ưu hóa mạng lưới nhân viên và chi nhánh trong khi vẫn

đảm bảo một nguồn ngân sách đáng kể cho đầu tư củng cố cơ sở hạ tầng và phát

triển nguồn nhân lực chủ chốt. Với những nỗ lực không ngừng nêu trên, Maritime

Bank đã đạt được mức lợi nhuận 885 tỷ đồng trước dự phòng rủi ro tín dụng, tăng

157 tỷ đồng so với năm 2013. Tuy nhiên, đảm bảo tuân thủ Thơng tu 02 của NHNN



40



về trích lập dự phòng cũng như đảm bảo an tồn tài chính trong hoạt động của tồn

hệ thống, Maritime Bank đã thực hiện trích lập dự phòng với tổng chi phí là 722,5

tỷ đồng, tăng 121,7% so với chi phí của năm 2013. Lợi nhuận trước thuế của Ngân

hàng, do đó, đã bị ảnh hưởng trực tiếp, đạt mức 162 tỷ đồng, giảm 59,62% so với

năm 2013.

Trong 6 tháng đầu năm 2015, Maritime Bank đã tăng trưởng về quy mô tổng

tài sản, tổng vốn huy động.

2.1.3.2 Hoạt động huy động vốn

Nếu như năm 2012 là năm của các thông tin tiêu cực làm chao đảo thị trường

ngân hàng thì năm 2013 và năm 2014 là năm của sự điều chỉnh. Điều đó được thể

hiện từ hàng loạt các điều chỉnh về lãi suất của NHNN cho tới việc điều chỉnh lại tỷ

lệ huy động vốn của từng ngân hàng sao cho phù hợp với định hướng kinh doanh

của mình. Đi cùng với xu thế, Maritime Bank cũng có những bước điều chỉnh về

huy động vốn trong hoạt động từ năm 2012- tháng 06/2015.

Đơn vị: Tỷ đồng



Biểu 2.1: Tình hình huy động vốn giai đoạn 2012- tháng 6/2015

(Nguồn: Báo cáo kiểm toán Maritime Bank từ 2011- tháng 06/2014)

Năm 2012 cơ cấu tiền gửi khách hàng theo đối tượng khách hàng tại

Maritime Bank: Tiền gửi cá nhân chiếm 39%, tiền gửi của tổ chức kinh tế chiếm

61%. Sang năm 2013 cơ cấu tiền gửi khách hàng đã có sự thay đổi: Tiền gửi tổ chức

41



kinh tế chỉ chiếm 44% trong tổng tiền gửi khách hàng, tiền gửi của cá nhân chiếm

56% tăng 17% so với năm 2012. Sang năm 2014 tỷ lệ tiền gửi cá nhân tăng 1%

đồng nghĩa với việc tiền gửi tổ chức kinh tế giảm 1 % trong cơ cấu tiền gửi khách

hàng. Tính đến 30/06/2015 tiền gửi của cá nhân là 59% và tiền gửi của tổ chức kinh

tế chỉ còn lại 41%.

Từ năm 2013 tiền gửi tổ chức kinh tế có sự sụt giảm đáng kể so với năm

2012 do những khó khăn từ nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng như từ các tổ

chức kinh tế nói riêng. Đến năm 2014 thì lượng tiền gửi của các tổ chức kinh tế đã

có sự tăng trưởng 2.069 tỷ đồng so với 2013. Tại 30/06/2015 lượng tiền gửi của tổ

chức kinh tế giảm 502 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2014.

Bên cạnh đó giai đoạn 2012- tháng 06/2015 chứng kiến sự tăng trưởng trong

cơ cấu tiền gửi của cá nhân. Năm 2013 lượng tiền gửi của cá nhân tăng 8.538 tỷ

đồng so với năm 2012 tương đương 34,81%. Năm 2014 tỷ lệ này tiếp tục tăng lên

11,83% so với 2013. Trong 6 tháng đầu năm 2015 thì lượng tiền gửi cá nhân tăng

thêm 2.161 tỷ đồng nâng tỷ trọng tiền gửi cá nhân trong cơ cấu vốn huy động lên

59%. Lượng khách hàng cá nhân cũng tăng lên đáng kể, từ con số 512.788 khách

hàng năm 2011 đến 780.713 khách hàng năm 2012 và đến cuối năm 2014 con số

này lên tới 867.259 khách hàng, góp phần quan trọng vào việc gia tăng quy mô của

ngân hàng.

Xét theo kỳ hạn tiền gửi thì cơ cấu tiền gửi khách hàng của Maritime Bank

cũng có nhiều biến động:

Bảng 2.2: Cơ cấu tiền gửi khách hàng theo kì hạn giai đoạn 2012- tháng 6/2015

Đơn vị: Tỷ đồng

Thời điểm



Tiền gửi khơng kì hạn



Tiền gửi có kì hạn



31/12/2012



15.265



47.030



31/12/2013

31/12/2014

30/06/2015



10.796

12.857

13.053



48.791

52.635

53.807



(Nguồn: Báo cáo kiểm tốn Maritime Bank từ 2012- tháng 06/2015)

Sự sát nhập, tái cơ cấu và hàng loạt các thông tin tiêu cực năm 2013 đã gây

42



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CỔ PHẦN HÀNG HẢI VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×