Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị RAT xã Đông xuân

4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị RAT xã Đông xuân

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhau giữa các đối tượng; giữa bán trực tiếp và gián tiếp; giữa ngày thường và các

ngày lễ, tết.

Nhu cầu của người tiêu có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của chuỗi, hiện nay

tại Đông xuân tác nhân sản xuất đang thực hiện sản xuất những gì mà thị trường

cần, để có được những kiến thức về thị trường như vậy thị cần phải có sự liên kết từ

các tác nhân khác như: tác nhân thu gom, tác nhân bán buôn, tác nhân bán lẻ. Chính

tác nhân bán lẻ đưa thông tin cho các tác nhân khác trong chuỗi về nhu cầu của

người tiêu dùng mà từ đó có những biện pháp sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng,

Với thời đại hội nhập hiện nay thì người dân, người tiêu dùng đang phải đối

mặt với những loại rau không rõ nguồn gốc cũng như những loại rau không đảm

bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, chính vì vậy mà thị trường rau an toàn đang có xu

hướng phát triển do nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về mặt hàng rau an

toàn này,Người tiêu dùng là tác nhân cuối cùng trong chuỗi giá trị, quyết định đến

sự sống còn của sản phẩm, Nghiên cứu tác nhân tiêu dùng là rất khó, đòi hỏi phải

có thời gian nghiên cứu nhất định, Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi không

tập trung phân tích các đặc điểm hay xu hướng của tác nhân này mà chỉ nêu những

nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng thông qua ý kiến của các tác nhân

người bán lẻ, người thu gom và người tiêu dùng mà thôi, Qua những ý kiến này cho

phép đánh giá những nhu cầu thị trường về RAT, từ đó có những đề xuất nhất định

cho các vùng sản xuất về các yêu cầu của sản phẩm,

Người tiêu dùng RAT xã Đông xuân chủ yếu là người tiêu dùng ở Sóc sơn và

ở Hà Nội ngoài ra thì còn một số thị trường của các tỉnh thành lân cận nhưng với

những nhu cầu chưa thực sự nhiều vì vậy mà nguồn cầu chủ yếu là thị trường của

nội thành Hà nội, Như vậy thì thị trường còn hạn chế mà trong khi đó có nhiều nơi,

nhiều địa phương cũng đang có hoạt động sản xuất RAT,

Chủ trương chính sách của nhà nước

Trên địa bàn thành phố Hà nội thì UBND, các sở, các ban ngành đã thành lập

Ban quản lý sản xuất và tiêu thụ sản phẩm an toàn trong đó có sản phẩm là RAT rất

được chú trọng, Tính đến thời điểm hiện nay đã có nhiều chủ trương chính sách,

công việc cụ thể giao cho các đơn vị triển khai trong đó có: Sở NN&PTNT, sở y



tế… Đây là một trong những yếu tố thuận lợi cho các vùng triển khai sản xuất và

tiêu thụ RAT,

Có thể nói tại các huyện ngoại thành sau cây lúa, cây rau nhận được sự quan

tâm rất nhiều của các cơ quan chủ quản, Tuy nhiên, nhiều khó khăn đặt ra trong

việc quy hoạch vùng chuyên canh rau như diện tích, kinh phí, ứns dụng kỹ thuật và

nhân sự, Ngoài ra vấn đề quản lý, hướng dẫn thực thi từ quy hoạch, dự án trên giấy

tờ thành thực tế vẫn là vấn đề khó khăn cho sản xuất RAT,

Phần lớn các chính sách có liên quan đến chuỗi giá trị RAT đều tác động lên

người nông dân nhưng chưa kịp thời và đồng bộ, sự tác động lên các tác nhân khác

như người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ còn mờ nhạt, Những hạn chế cần

phải được nhanh chóng khắc phục, Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức

thương mại thế giới WTO, để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và cạnh

tranh được với sản phẩm của nước ngoài thì chuỗi gía trị ngành hàng rau nói chung

và RAT nói riêng cần phải hoàn thiện và phát triển hơn nữa, Muốn vậy, ngay từ bây

giờ phải xây dựng chiến lược, quy hoạch hợp lý, Mục tiêu của chính sách là khuyến

khích phát triển sản xuất thì thay vì đối tượng chịu tác động chỉ là nông dân cần mở

rộng đến các đối tượng kinh doanh, chế biến và xuất khẩu rau từ đó sẽ có tác động

ngược lại sản xuất và đạt được mục tiêu mà chính sách đề ra,

Yếu tố tự nhiên

Khi khí hậu, thời tiết thuận lợi sẽ có tác động tích cực đến quá trình sản xuất

RAT và ngược lại, Khi thời tiết bất lợi RAT dễ bị sâu bệnh, năng suất thấp,,,, từ đó

làm tăng chi phí sử dụng thuốc BVTV, Trong ba năm qua, diễn biến thời tiết có

nhiều bất thường, rét thường đến muộn hơn và kéo dài, mưa đầu mùa bất thường,

nhiệt độ cao, thời tiết nắng nóng gây ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng

RAT,Những ảnh hưởng từ thời tiết tác động trực tiếp đến tác nhân sản xuất như vậy

khi có tác động đến bất kỳ một tác nhân nào trong chuỗi thì cũng có thể làm ảnh

hưởng đến cả chuỗi giá trị, Như vậy với sự biến đổi thời tiết cũng như những biến

đổi khí hậu hiện nay thì tác nhân sản xuất cần phải có những biện pháp nhằm khăc

phục cũng như hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực từ thời tiết,



4,4,2 Yếu tố chủ quan

Nguồn vốn của các tác nhân tham gia chuỗi

Hiện nay ngoài những yếu tố phục vụ sản xuất khác thì nguồn lực về vốn của

các tác nhân có ảnh hưởng trực tiếp tới những hoạt động của các tác nhân cũng như

sự phát triển của chuỗi

Bảng 4,29 Hiện trạng về nguồn vồn của các tác nhân trong chuỗi giá trị

Đơn

Diễn giải



vị



Sản



Có nhu cầu vay vốn

Vay vốn với lãi suất ưu đãi

Đang được vay vốn

Lượng vốn vay TB



tính

%

%

%

Triệu



xuất

76,5

24,5

45,3

10,5



Các tác nhân

Thu

Bán

HTX

gom

buôn

67,3

45,87

87,65

15,7

34,31

23,7

54,9

40,2

53,6

15,2

120

20,5



Bán

le

43,23

24,3

32,1

12,5



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013

Nghiên cứu cho thấy rằng với mỗi tác nhân khác nhau thì có nhu cầu vay vốn

khác nhau trong các tác nhân tham gia vào trong chuỗi giá trị rau an toàn xã Đông

xuân thì tác nhân bán buôn có nhu cầu vay vốn cao nhất với 87,65%, Tác nhân bán

lẻ có nhu cầu vay vốn thấp nhất với 43,23%, Hiện nay có nhiều chính sách ưu đãi

vay vốn những việc tiếp cận được với các nguồn vốn ưu đãi thì không phải là một

điều dễ dàng với các tác nhân trong chuỗi giá trị rau an toàn, Hợp tác xã là tác nhân

có thể vay vốn với mức ưu đãi cao nhất chiếm 34,31% còn các tác nhân khác như:

sản xuất, thu gom, bán buôn, bán lẻ thì đều có ít cơ hội được vay vốn với mức lãi

suất ưu đãi, Tình trạng này xảy ra là do các thông tin về các chính sách ưu đãi tài

chính chưa được phổ biến rộng rãi trong khi đó thì HTX là một doanh nghiệp nên

việc nắm bắt những chính sách này là rất nhanh từ đó mà HTX có lượng vay vốn từ

nguồn ưu đãi là lớn nhất trong các tác nhân, Nhu cầu vay vốn của các tác nhân đều

rất cao nhưng có thể vay vốn để phục vụ cho sản xuất thì lại không cao, Hiện nay

các tác nhân có mức vay vốn khác nhau, với HTX thì lượng vốn đang vay của tác

nhân này là 120 triệu, với các tác nhân còn lại trong chuỗi thì chủ yếu vay vốn với

lượng thấp hơn 20 triệu,



b, Cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ

-Các nhân tố về cơ sở vật chất - kỹ thuật bao gồm hệ thống cơ sở hạ

tầng như đường sá giao thông, phương tiện vận tải, hệ thống bến cảng kho

bãi, hệ thống thông tin liên lạc,,, Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong

việc lưu thông nhanh chóng kịp thời, đảm bảo an toàn cho sản xuất cũng như

tiêu thụ rau an toàn,

-Các nhân tố về kỹ thuật và công nghệ sản xuất đặc biệt quan trọng

trong việc tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ của cơ sở

sản xuất kinh doanh rau an toàn, Đối với các nước tiên tiến, sản xuất nông

nghiệp nói chung vàsản xuất rau quả nói riêng là ngành có hiệu quả rất cao

do được ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, hầu như từ sản xuất đến thu

hoạch, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, Năng suất rau quả trong nhà kính, nhà

che nilông, rau trồng trong dung dịch không đất rất cao (bình quân từ 25 - 30

kg/m2 đối với cà chua, dưa chuột là 250 - 300 tấn/ha, gấp 20 lần so với trồng

ngoài đồng và phương thức canh tác truyền thống), do khống chế được các

yếu tố ngoại cảnh, Rau quả trồng trong nhà kính, nhà lưới không chứa độc

tố, hợp vệ sinh, mẫu mã đẹp, dễ xuất khẩu,

-Hiện nay tại Đông xuân vân chưa có các cơ sở hạ tầng phục vụ cho

sản xuất, sơ chế, bảo quản các sản phẩm an toàn như: nhà kính, nhà lưới, kho

lạnh…

Chính những hạn chế này mà nguồn cung rau an toàn của Đông xuân vẫn chưa đạt

giá trị cao trong sản xuất,

Sự tương tác, liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị

Với tính mùa vụ của sản xuất nông nghiệp thì nghiên cứu tại xã Đông xuân

cho thấy tác nhân người sản xuất chỉ liên kết cũng như có những tương tác tích cực

với các tác nhân khác như: thu gom, HTX vào những thời điểm thu hoạch sản phẩm

RAT của hộ, Các tác nhân khác trong chuỗi giá trị cũng có sự tương tác mờ nhạt

không tích cực dẫn đến những hạn chế trong sự phát triển bền vũng của chuỗi giá trị

sản phẩm RAT xã Đông xuân, Ngày nay với sự phát triển vè khoa học kỹ thuật nên

các tác nhân trong chuỗi giá trị có nhiều kênh thông tin có thể trao đổi với nhau



như: điện thoại, Internet… nhưng với những sự hỗ trợ này thì tính tương tác trực

tiếp bị giảm đi, Sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị có tính bền vững lâu

dài nhưng vẫn còn một số tác nhân có xu hướng liên kết theo thị trường làm cho

tính liên kết trong chuỗi có sự mất tính bền vững,

Trình độ của các tác nhân trong chuỗi giá trị

-Với độ tuổi trung bình từ 37 – 40 tuổi thì các tác nhân trong chuỗi giá

trị có những trình độ học vẫn khác nhau nhưng tập trung chủ yếu chỉ dừng

lại ở cấp I,Với những đặc điểm mang tính vượt trội của các phương thức kỹ

thuật tiên tiến nhưng hiện nay tại Đông xuân thì mức áp dụng những tiến bộ

khoa học kỹ thuật vào sản xuất chỉ đạt 54,67% số hộ đang sản xuất rau an

toàn, Ngoài những hộ đang sản xuất với những phương thức kỹ thuật mới thì

còn lại là những hộ chỉ mới dần tiếp cận với những kỹ thuật mới này nhưng

phần lớn vẫn áp dụng phương thức canh tác cũ dựa trên kinh nghiệm sản

xuất là chính,

4,5 Các giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị

sản phẩm RAT xã Đông Xuân

4.5.1 Giải pháp chung cho chuỗi giá trị RAT

Nâng cao năng lực liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị RAT,

Cung cấp các nguồn thông tin chính thông về giá cá, chất lượng sản phẩm… cho

các tác nhân trong chuỗi để có sự đảm bảo về mức độ liên kết,

Nâng cao khả năng tương tác giữa tác nhân người sản xuất với các tác nhân

còn lại trong chuỗi để đam bảo cho chuỗi duy trì

Hiện nay giữa các tác nhân đầu trong chuỗi giá trị còn chưa có hình thức hợp

đồng buôn bán, chính vì vậy mà cần phải hình thành nên những quy tắc chung trong

chuỗi để có những giàng buộc đem lại lợi ích cho các bên, giảm bớt sự phụ thuộc

vào thị trường

Để chuỗi giá trị phát triển ổn định và bền vững thì tác nhân bán buôn và tác

nhân bán lẻ phải chủ động được nguồn hàng đảm bảo chất lượng, và vấn đề quan

trọng nhất là có được một thị trường lớn lâu dài, ổn định, Do hiện nay tác nhân bán

buôn là mắt xích kết nối rất quan trọng trong chuỗi giá trị sản phẩm RAT



Tăng cường hoạt động Marketing xúc tiến tiêu thụ: Bằng các phương pháp

như quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, triển l ã m , ,



4,5,2 Giải pháp hạn chế yếu tố ảnh hưởng

RAT cũng chịu sự tác động của điều kiện khí hậu nên để đạt được năng suất,

đảm bảo chất lượng vì vậy mà trong quá trình canh tác, sản xuất cần có những biện

pháp nhằm hạn chế những biến đổi tiêu cực từ thời tiết

Mở các lớp tập huấn cho người sản xuất hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật

sản xuất RAT cho người nông dân

Hoàn thiện, duy tu, sửa chữa các cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất

Xây dựng kênh thông tin trị trường trong xã cũng cấp thông tin tới người

nông dân

Xây dựng thêm các mô hình HTX trong xã để có sự hỗ trỡ lẫn nhau giữa các

hộ sản xuất

4,5,3 Giải pháp về quản lý

Cần thống nhất quy trình tổ chức sản xuất rau an toàn trên phạm vi cả nước

nói chung cũng như cho vùng RAT Đông xuân nói riêng, Thống nhất quy trình sản

xuất là cơ sở để khuyến khích người dân đầu tư sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rau

an toàn hiện nay, Có thống nhất được tổ chức thì mới có thể sản xuất đồng bộ, đúng

quy trình kỹ thuật và đạt hiệu quả cao,Các cơ quan chức năng cần tham gia vào vấn

đề quy hoạch sản xuất rau an toàn, có quy hoạch thành những vùng tập trung mới

quản lý và tổ chức được, Quy hoạch phát triển sản xuất rau an toàn là vấn đề hết

sức quan trọng để có thể sản xuất có quy mô nhằm mở rộng diện tích, tăng năng

suất rau an toàn, Có như thế mới có thể gia tăng được hiệu quả của sản xuất rau an

toàn, Để thực hiện quy hoạch có hiệu quả cần thực hiện các biện pháp sau:

+ Xác định vùng trồng theo từng đối tượng, chủng loại rau an toàn của từng

tiểu vùng,

+ Tìm hiểu các yếu tố đất đai, thời tiết, khí hậu, lượng mưa hàng năm ở từng

vùng làm cơ sở cho lựa chọn chủng loại rau an toàn phù hợp,

+ Tiến hành phân bố cải tạo vườn, mộng hiệu quả kinh tế thấp thành đất



trồng rau an toàn có hiệu quả kinh tế cao,

+ Chuyển đổi đất bồi bãi, đất chưa sử dụng không có hiệu quả sang trồng rau

an toàn tập trung,

+ Xây dựng các vùng rau an toàn đẹp, tiên tiến điển hình, có chất lượng, cần

gắn hiệu quả kinh tế sản xuất rau an toàn với hiệu quả xã hội và hiệu quả môi

trường,

4.5.4 Cơ chế chính sách

Nhanh chóng có những văn bản có tính chất pháp lý, những hướng dẫn cụ thể,

thiết thực sát với thực tế về các vấn đề liên quan đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn,

Cần có cơ chế phù họp trong việc quy hoạch các vùng sản xuất rau an toàn trên

địa bàn xã Đông xuân nhằm giúp cho nông dân chủ động trong việc đầu tư sản xuất,

Cần có cơ chế hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị ban đầu (hỗ trợ nhà

lưới, hệ thống điện, hệ thống tưới,,,) một cách cơ bản nhằm giúp cho nông dân giảm

bớt một phần khó khăn, cần có các công tác đào tạo, tập huấn các quy trình sản xuất

rau an toàn cho người dân, cần nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới để phục vụ

sản xuất rau an toàn,

Cần có chế độ ưu đãi, hỗ trợ các chương trình sản xuất, ứng dụng những sản

phẩm hữu cơ, vi sinh vào việc phòng trừ bệnh, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực

vật hóa học,

Cần có những giải pháp thiết thực nhằm liên kết giữa nhà kinh doanh với

nông dân ngày càng chặt chẽ và bền vững, Hiện có rất ít doanh nghiệp tham gia vào

kinh doanh tiêu thụ rau an toàn, Bà con nông dân thường tự sản xuất, tự tiêu thụ,

các khâu này mang tính chất tự phát và đầu ra thường không ổn định, Đổi với các

doanh nghiệp thì tiền thuê cửa hàng cao, chi phí thuê người giám định, chi phí bảo

quản lón,,,khiến giá rau an toàn cao hơn hẳn, khó cạnh tranh với rau thường, cần có

các chính sách ưu đãi cụ thể để thu hút các doanh nghiệp tham gia vào sản xuất

kinh doanh rau an toàn, Các doanh nghiệp hiện nay còn lo sợ đầu tư vào lĩnh vực

nhiều rủi ro này,

Đồng thời cũng cần có các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các cấp, các



ngành về vốn cho sản xuất rau an toàn, Huy động nguồn vốn tự có của người dân để

phát triển sản xuất rau an toàn, hỗ trợ vốn cho hoạt động đào tạo tập huấn kỹ thuật,

tài liệu, tham quan, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý, trình độ khoa học

kỹ thuật sản xuất rau an toàn, Có chính sách vay vốn, lãi xuất ưu đãi đối với người

sản xuất rau an toàn tùy theo nhu cầu vay vốn: Cho vay ngắn hạn để mua vật tư, chi

phí trồng rau an toàn như hạt giống, cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu, làm đất,,,; Cho

vay trung hạn chi phí để mở rộng diện tích canh tác, xây dựng cơ bản đồng mộng để

gieo trồng rau an toàn, đầu tư vào làm nhà lưới, máy bơm nước, hệ thống tưới tiêu; cho

vay dài hạn đối với hộ còn khó khăn để phát triển sản xuất,,, Tăng cường liên doanh,

liên kết với các tổ chức để tạo vốn đầu tư cho sản xuất rau an toàn,

4,5,5Về giải pháp kỹ thuật

Hoàn thiện quy trình sản xuất an toàn cho từng loại rau một cách cụ thể,

Tăng cường công tác tập huấn chuyển giao đến nông dân một cách rộng

khắp, đặc biệt là huấn luyện kỹ cho nông dân trong việc bảo quản, sử dụng các sản

phẩm nông dược theo nguyên tắc 4 đúng: đúng chủng loại, đúng liều lượng, đúng

cách, đúng thời gian, hướngtới sử dụng các sản phẩm sinh học, hữu cơ,

Xây dựng, hướng dẫn và phát triến nhân rộng vùng chuyên canh rau an toàn,

ít hay không sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật hóa học, nhằm tăng chất lượng sản

phấm, chống suy thoái môi trường,

Tăng cường lịch giám sát đồng ruộng theo định kỳ, thường xuyên thu thập

mẫu, phân tích nhanh, kiếm tra kết quả nhàm có hướng điều chỉnh kịp thời trong

sản xuất,

Hỗ trợ, hướng dẫn nông dân các công đoạn từ thu hoạch, thu mua, sơ chế,

bảo quản, vận chuyển đến khâu tiêu thụ theo đúng yêu cầu đặt ra,



PHẦN V, KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

5,1 Kết luận

Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm rau an toàn xã Đông xuân – Sóc sơn –

TP,Hà nội tôi có một số kết luận sau

1,Trong nhiều năm qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu về chuỗi giá trị sản

phẩm trên thế giới và một số đề tài nghiên cứu tại Việt Nam, Trên thế giới cách tiếp

cận về chuỗi giá trị được sử dụng phổ biến, việc tổ chức tốt chuỗi giá trị là một

nhân tố cạnh tranh, chuỗi giá trị được coi như là một công cụ để quản lý chất lượng,

Tại Việt Nam, cách tiếp cận này bắt đầu được sử dụng chưa phổ biến nhất là trong

lĩnh vực nông nghiệp với sự hỗ trợ của các dự án phát triển, một số nghiên cứu về

chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp trong đó có chuỗi giá trị sản phẩm rau đã được

tiến hành tuy nhiên phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp,

2,Sự hình thành phát triển của chuỗi giá trị sản phẩm RAT xã Đông xuân đã

mang lại nhiều ý nghĩa kinh tế, xã hội quan trọng như: thúc đẩy sản xuất kinh

doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động, xóa đói, giảm nghèo, phân công

lại lao động nông thôn và tạo ra sự liên kết chặt chẽ có trách nhiệm giữa các nhà sản

xuất kinh doanh với người tiêu dùng,Tại xã Đông xuânRAT được sản xuất theo quy

mô gia đình, Sản xuất RAT quy mô trang trại chưa xuất hiện, hệ thống các cơ sở

chế biến RAT chưa được hình thành,

3,Tại xã Đông xuân rau an toàn được sản xuất theo quy mô hộ gia đình, Sản

xuất rau quy mô trang trại chưa xuất hiện, hệ thống các cơ sở, nhà máy biến rau

chưa được hình thành, Tiêu thụ RAT 100% là RAT tươi, chưa có một công nghệ bảo

quản, chế biến nào được áp dụng,RAT xã Đông xuân chưa có thương hiệu trên thị

trường, Tham gia trong chuỗi giá trị sản phẩm rau an toàn Đông xuân gồm các tác

nhân chính: Người sản xuất, người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ và người

tiêu dùng

4,RAT xã Đông xuân được tiêu thụ qua 3 kênh chính, Trong chuỗi giá trị sản

phẩm RAT, giữa các tác nhân đã có những mối liên kết, chia sẻ thông tin sản xuất

thị trường với các mức độ khác nhau, Sự phân bổ thu nhập và việc làm giữa các tác



nhân cho thấy có sự hợp lý nhất định, Tuy nhiên, chuỗi giá trị sản phẩm RAT vẫn

còn có những hạn chế như: Các mối liên kết còn lỏng lẻo, kết cấu tổ chức của chuỗi

giá trị còn tách biệt, tác nhân chính trong chuỗi vẫn là người sản xuất mà chủ yếu là

các hộ nông dân, Các tác nhân khác như: người thu gom, bán buôn, bán lẻ và đặc

biệt là người tiêu dùng có tác động rất ít tới sự phát triển của chuỗi,Chuỗi giá trị sản

phẩm RAT gần như mang tính một chiều,Sở dĩ như vậy là do các yếu tố ảnh hưởng

sau: Các yếu tố ảnh hưởng mang tính khách quan như rủi ro về thời tiết, khí hậu, rủi

ro về dịch bệnh, giá cả,,,khó đề phòng, Để hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị sản

phẩm RAT xã Đông xuân trong các năm tới cần nghiên cứu triển khai nhóm giải

pháp cho toàn chuỗi và cho từng tác nhân tham gia chuỗi,Do thực tế các nghiên cứu

về chuỗi giá trị cung ứng hàng hóa dịch vụ còn ít, số liệu chưa cập nhật, Xuất phát

từ ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế của chuỗi, tôi xét thấy cần có các nghiên cứu

tiếp theo về chuỗi cung ứng các dịch vụ đầu vào cho sản xuất RAT,Ngoài ra cũng

cần nghiên cứu đánh giá sâu hơn về nhu cầu thị trường và thị hiếu người tiêu dùng

RAT

5, Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất cũng như ảnh hưởng tới chuỗi giá

trị sản phẩm RAT Đông xuân, những yếu tố tác động đến có những mặt xấu những

cũng có những mặt tích cực, Có 2 yếu tố chính ảnh hưởng tới chuỗi giá trị và quá

trình sản xuất RAT của người sản xuất đó là yếu tố chủ quan và yếu tố khác quan,

Trong yếu tố chủ quan thì các yếu tố như: Đất đai, thủy lợi, kỹ thuật, cơ chế quản lý

có ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại cũng như phát triển bền vũng của chuỗi giá trị RAT

Đông xuân

Trong yếu tố khách quan thì các yếu tố như: Khí hậu, chính sách… có tác động trực

tiếp tới người sản xuât từ đó có ảnh hưởng trực tiếp tới chuỗi giá trị RAT,

5,2 Kiến nghị

Từ nghiên cứu tình hình thực tế chuỗi giá trị sản phẩm RAT xã Đông xuân

chúng tôi có đề xuất một số khuyến nghị sau:

5,2,1 Đối với cấp chính quyền

-



Cần phải có quy hoạch và kế hoạch phát triển chiến lược trong



các năm tới để phát triển chuỗi giá trị nói chung và chuỗi giá trị sản phẩm



RAT nói riêng,

-



Để tạo điều kiện cho nông dân tích tụ ruộng đất phát triển kinh



tế trang trại cần sớm thẩm định và ra quyết định công nhận trang trại đối với

những hộ nông dân đã dồn đổi đất và lập dự án thành lập trang trại sản xuất

RAT,

- Tiếp tục tuyên truyền vận động nông dân sản xuất RAT theo quy trình kỹ thuật,

- Cần xây dựng và giữ gìn thương hiệu cho RAT Đông xuân trong những năm

tới,

-



Cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm dịch, kiểm soát



chất lượng trên địa bàn huyện,

-



Tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng hệ thống chợ, giao thông nội



đồng, thủy lợi đáp ứng tốt cho sự phát triển lưu thông sản phẩm RAT từ khu

vực sản xuất ra ngoài thị trường,

5,2,2 Đối với người sản xuất, tiêu thụ sản phẩm

-



Sử dụng các loại giống rau phù hợp với từng vụ sản xuất đồng



thời xây dựng quy trình canh tác hợp lý để đạt năng suất cây trồng cao nhất

mà chất lượng vẫn được đảm bảo,

-



Luôn đảm bảo giữ chữ tín trong quá trình mua, bán và lưu



chuyển hàng hóa, hoạt động của mỗi tác nhân từ người sản xuất đến khi sản

phẩm tới tay người tiêu dùng đều là một chuỗi liên hoàn góp phần làm giảm

chi phí, hao hụt và tăng thêm giá trị gia tăng cho chuỗi giá trị sản phẩm,

-



Thực hiện tốt mối liên kết hợp tác với các tác nhân khác trong



chuỗi giá trị, Đồng thời, trang bị cho mình những kiến thức cần thiết trong

sản xuất, kinh doanh và quy định tiêu chuẩn chất lượng RAT,,,từ đó phát

triển sản xuất, trao đổi nhằm tăng thu nhập và đạt được hiệu quả kinh tế cao

nhất,

- Giảm thiểu các khâu trung gian không cần thiết,

-



Thực hiện tốt các nhóm giải pháp và tập trung vào hướng phát



triển chuỗi giá trị trong thời gian tới,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Các yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị RAT xã Đông xuân

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×