Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
e. Phương thức giao dịch, thanh toán

e. Phương thức giao dịch, thanh toán

Tải bản đầy đủ - 0trang

1000kg cà chua sẽ tốn nhiều công lao động hơn so với 3 loại rau còn lại chiếm

tới 77,71% tổng chi phí sản xuất của 1000kg cà chua. Công lao động để sản xuất

1000kg khoai tây chiếm ty trọng ít nhất trong 4 loại rau được sản xuất

45,42%nhưng lại có số công lao động cần thết bằng với su hào và bắp cải, như vậy

chi phí trung gian để sản xuất các loại rau khác nhau đem lại cho ty trong công lao

động chiếm trong tổng chi phí sản xuất là khác nhau.



Bảng 4.8 Chi phí sản xuất bình quân 1000kg RAT của hộ sản xuất xã Đông Xuân

Khoai tây

STT



Bắp cải



Cà chua



Giá trị



Cơ cấu



Giá trị



Cơ cấu



Giá trị



Cơ cấu



Giá trị



Cơ cấu



(1000đ)



(%)



(1000đ)



(%)



(1000đ)



(%)



(1000đ)



(%)



3.302,5



100



2.215



100



2.475



100



3.377,9



100



Chi phí trung gian (IC)



1.792,5



54,28



705



31,83



965



38,99



742,9



21,99



- Chi phí vật chất



1.542,5



86,05



455



64,54



715



74,09



459,3



61,83



Chi phí giớng



875



56,73



80



17,58



100



13,99



73



1589



647,5



41,98



345



75,82



585



81,82



366,3



79,75



20



1,3



30



6,59



30



4,2



20



4,35



250



13,95



250



35,46



250



25,91



283,6



38,17



Chi phí dịch vụ khác



100



40



100



40



100



40



133,6



47,11



Chi phí làm đất



150



60



150



60



150



60



150



52,89



1.500



45,42



1.500



67,72



1.500



60,61



2.625



77,71



10



0,3



10



0,45



10



0,4



10



0,3



Diễn giải



Tổng

1



Su hào



Chi phí phân bón

Chi phí th́c BVTV

- Chi phí dịch vụ



2



Chi phí lao động



3



Chi phí hao mòn công cụ



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013



Khoản chi phí vật chất phục vụ sản xuất bao gồm: giống, phân bón, thuốc

BVTV chiếm tới 75,42%chi phí trung gian (792.950 đồng). Trong đó thì chi phí về

phân bón là cao nhất chiếm 61,28%chi phí vật chất cho sản xuất, chi phí cho thuốc

BVTV là thấp nhất trong chi phí vật chất phục vụ cho sản xuất và chỉ chiếm có

3,15%chi phí vật chất.

Chi phí dịch vụ bào gồm những chi phí như: chi phí làm đất, chi phí dịch vụ

khác (phun thuốc, làm cỏ,…) Khoản chi phí dịch vụ này được tính theo giá thị

trường và nó chiếm 24,58%chi phí trung gian trong đó thì chi phí làm đất chiếm cao

nhất tới 58.05%, còn chi phí dịch vụ khác thì lại chiếm 41,95%chi phí dịch vụ phục

vụ cho sản xuất 1000kg RAT của hộ. Do Nhà nước đã miễn thuế sử dụng đất nông

nghiệp và trong số các hộ điều tra không có hộ nào đi thuê đất trồng rau nên khoản

thuế đất và chi phí thuê đất bằng 0 tôi không hạch toán vào bảng này.

Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất RAT nói riêng, các tài

sản, công cụ, dụng cụ sử dụng thường có chi phí không cao nhưng đối với sản xuất

nông nghiệp thì các khoản chi phí hao mòn của nó là khá lớn, ảnh hưởng rõ đến kết

quả sản xuất. Vì vậy, trong phân tích kết quả và hiệu quả sản xuất của tác nhân này tôi

hạch toán phần hao mòn công cụ, dụng cụ này như khoản chi phí KHTSCĐ và để tên

là chi phí hao mòn công cụ dụng cụ từ bảng có thể thấy rằng loại chi phí này chiếm ty

trọng 0,35%khá nhỏ trong tổng chi phí sản xuất cho 1000kg rau.

Bảng 4.9 Chi phí lao động của hộ sản xuất 1000kg RAT

ST

T

1

2

3

4



Loại rau

Khoai tây

Su hào

Bắp cải

Cà chua



Sớ lượng



Giá cơng



(cơng)

Cơng gia

Cơng đi



lao đợng



đình



th



10

10

10

17,5



0

0

0

0



(1000

đồng/cơng)

150

150

150

150



Giá trị

(1000

đồng)

1.500

1.500

1.500

2.625



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013



Nghiên cứu cho thấy rằng với giá công lao động nông nghiệp phổ thông tại

địa phương là 150.000 đồng/công thì hiện nay sản xuất Cà chua là phải bỏ ra công

nhiều nhất, với 1000kg cà chua cần phải bỏ ra 17.5 công lao động và với chi phí tới

2.625.000 đồng. Các loại rau khác như băp cải, su hào, khoai tây thì đều có lượng

công lao động cần thiết để sản xuất ra 1000kg rau như nhau với 10 công lao động.

Hiện nay sản xuất rau an toàn ở Đông xuân chủ yểu sử dụng công gia đình chứ

không sử dụng công lao động thuê ngoài. Chính vì vậy mà sau khi hạch toán được

công lao động gia đinh thì vẫn tính vào phần chi phí sản xuất.



Bảng 4.10 Chi phí và kết quả sản xuất của hộ sản xuất RAT xã Đông xuân



Khoai tây

STT



Diễn giải



Su hào



Bắp cải



Cà chua



Giá trị



Cơ cấu



Giá trị



Cơ cấu



Giá trị



Cơ cấu



Giá trị



Cơ cấu



(1000đ)



(%)



(1000đ)



(%)



(1000đ)



(%)



(1000đ)



(%)



1



Giá bán/kg sản phẩm



10



10



5



13



2



Doanh thu (TR)



10.000



100



10.000



100



5.000



100



13.000



100



3



Chi phí trung gian (IC)



1.792.5



17,93



705



7,05



965



19,3



742.9



5,71



4



Giá trị gia tăng (VA)



8.207,5



82,08



9.295



92,95



4.035



80,7



12.257,1



94,29



5



Hao mòn công vụ, dụng cụ



10



0,1



10



0,1



10



0,2



10



0,08



6



Tiền công lao động



1.500



15



1.500



15



1.500



30



2.625



20,19



7



Thu nhập thuần (GPr)



6.697,5



66,98



7.785



77,85



2.525



50,5



9.622,1



74,02



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013



Sản xuất RAT đã đem lại khoản thu nhập khá cao cho người nông dân. Theo

số liệu tổng hợp điều tra cho thấy giá trị gia tăng các hộ đạt được 1000kg rau trung

bình là 6.548,65nghìn đồng (chiếm 86,17%doanh thu). Thu nhập thuần đạt được

bằng 62,60%doanh thu (tương ứng 4.757,4nghìn đồng/1000kg). Như vậy các khoản

chi phí công lao động chiếm 23,44%doanh thu (tương ứng 1.781,25nghìn đ/1000

kg). Trong hạch toán tài chính thì các khoản công lao động đều phải tính vào giá

thành, tuy nhiên thực tế trong hạch toán kinh tế, các hộ thường không tính khoản

chi phí công lao động mà có quan điểm “sản xuất lấy công làm lãi”. Nhưng hiện

nay với cơ chế quản lý cùng với cơ chế kiểm soát trong sản xuất RAT thì người

nông dân đã hoạch toàn được số lượng công của họ, hộ sản xuất RAT tại Đông

xuân 100% không thuê thêm lao động ngoài, chính vì vậy mà số lượng công cần

thiết để sản xuất 100% là công lao động từ hộ. Tại thời điểm điều tra thì giá công

lao động nông nghiệp tại địa phương hiện hành là 150.000 đồng/công như vậy

khoản tiền công lao động được hoạch toán trong bài là được tính bằng giá công lao

động nông nghiệp phổ thông tại địa phương nhân với số công lao động của hộ.

Trong sản xuất 4 loại RAT có sản lượng cao nhất trong xã Đông xuân, cà

chua có giá trị gia tăng chiếm ty lệ rất cao (94,29% doanh thu). So với các loại RAT

khác thì doanh thu của 1000kg cà chua là cao nhất vì giá cà chua cao nhất trong 4

loại rau, chi phí trung gian để sản xuất 1000kg cà chua thấp nhất trong 4 loại chỉ

chiếm 5,71% doanh thu vì vậy mà có giá trị gia tăng cao nhất. Nhưng để sản xuất ra

1000kg cà chua thì công lao động bỏ ra lớn nhất trong 4 loại rau vì vậy mà và thu

nhập thuần sản xuất 1000kg cà chua không cao nhất trong 4 loại rau chỉ đạt

74,02%doanh thu, trong khi đó su hào có GPr đạt 77.85% doanh thu. So sánh riêng

GPr của 4 loại rau với nhau thì cùng sản xuất 1000kg có cà chua đạt thu nhập thuần

cao nhất trong 4 loại lên tới 9.622,100 đồng/1000kg. Mặc dù sản xuất cà chua cho

thu nhập cao hơn hẳn các loại rau khác nhưng lại tốn nhiều công lao động hơn cũng

như tốn nhiều công lao động cũng như chăm sóc và hơn nữa là chi phí đầu tư ban

đầu lớn vì vậy mà cà chua chỉ có những hộ vững về kinh tế mới dầu tư sản xuất,

trong xã Đông xuân mỗi hộ trung bình chỉ có 644,4m 2 đất nông nghiệp đang sản

xuất cà chua. Tuy vậy, sản xuất cà chua vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn rất

nhiều so với sản xuất rau loại khác, nhận thấy rõ vấn đề này xã Đông xuân có định



hướng khuyến khích các hộ nông dân sản xuất cà chua, giá cà chua cao khi cà chua

được trồng trái vụ và thu trái vụ, chính vì vậy mà hiện tại ở Đông xuân hộ sản xuất

đạt hiệu quả kinh tế cao khi trờng cà chua trái vụ.

g.Tḥn lợi, khó khăn và các hướng tác động tới tác nhân sản xuất

Thuận lợi:

+ Đã có quy hoạch phát triển vùng sản xuấtRAT của xã Đông xuân

+ Đã có sự hỗ trợ nhất định về kinh phí, kỹ thuật từ phía chính quyền địa

phương để phát triển vùng trông RAT

+ Có truyền thống trồng rau, nông dân giàu kinh nghiệm sản xuất, sự cách

biệt không lớn về kỹ thuật sản xuất giữa các nông hộ. Đây là điều kiện rất thuận lợi

để mở rộng diện tích trồng RAT.

+ Thị trường rộng lớn nhất là thị trường Hà nội, giao thông thuận lợi, mạng

lưới thương mại có thể đáp ứng được nhu cầu của thành phố.

+ Hiệu quả kinh tế từ trồng RAT khá lớn và điều này đã được thực tế chứng mình.

+ Nông dân đã quen với sản xuất hàng hoá, năng động với thị trường. Mạnh

dạn thử nghiệm giống mới, quy trình kỹ thuật mới với điều kiện thị trường đầu ra

được đảm bảo.

+ Có được sự giúp đỡ từ các tổ chức, cơ quan, các viện nghiên cứu để tập

huấn kỹ thuật cho nông dân đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật về sản xuất RAT.

+ Mối quan hệ giữa tác nhân sản xuất với các tác nhân khác trong ngành

hàng tốt, sản xuất thiên về hướng cầu (sản xuất trong chuỗi giá trị có đặc điểm là

hướng cầu)

+ Sản xuất vẫn ngoài lợi nhuận trước mắt, đã có quan tâm đến người tiêu

dùng muốn gì.

+ Các nguồn cung ứng vật tư đầu vào nhất là các chế phẩm sinh học mới đã

được kiểm soát tốt, một số vật tư phân bón không đảm bảo chất lượng, thuốc

BVTV bị cấm, thuốc không có trong danh mục đã cấm không bày bán công khai

trên thị trường.

+ Ý thức của nông dân về thực hành vệ sinh đồng ruộng khá cao. Rau sau

khi thu hoạch thì các phần loại bỏ không còn bừa bãi trên bờ ṛng mà được thu

gom xử lý.



Khó khăn:

+ Diện tích đất các vùng trồng RAT đang bị thu hẹp do phát triển công

nghiệp và đô thị hoá.

+ Rủi ro do biến động giá cả.

+ Thời tiết thất thường

Hướng tác động của tác nhân sản xuất:

+ Tiếp tục quy hoạch xây dựng vùng sản xuất RAT

+ Tập huấn phổ biến rộng rãi kỹ thuật trồng RAT cho người nông dân trồng mới

+ Thiết lập mối liên kết chặt chẽ hợp tác giữa tác nhân người sản xuất với các

tác nhân khác trong chuỗi giá trị, gắn kết sản xuất với tiêu RAT.

+ Đầu tư cơ sở hạ tầng: điện, kênh mương, đường trục nội đồng phục vụ sản

xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Bảng 4.11 Cơ cấu thu nhập của hộ sản xuất RAT tại Đông xuân

Nguồn thu



Giá trị(trđ)



Cơ cấu(%)



Tổng

Trồng trọt

Chăn nuôi



121,33

60

12

49,33

0



100%

49,45%

9,89%

40,66%

0



Phi nông nghiệp

Khác



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013

Hiện nay trung bình các hộ sản xuất RAT tại Đông xuân có thu nhập 1 năm

vào khoảng 121.330.000 đồng. Trong đó thì nguồn thu chủ yếu là từ trồng trọt

chiếm tới 49,45% tổng thu nhập của hộ trong năm và thu từ rau là chính. Ngoài làm

nông nghiệp thì lao động của hộ có làm các nghề phụ phi nông nghiệp như: phụ hồ,

công nhân,… với thu nhập 49.330.000 đồng/năm chiếm 40,66% tổng thu nhập của

hộ. Ngoài ra thì nguồn thu từ chăn nuôi cũng góp một phần không nhỏ vào trong

thu nhập của hộ. Với một xã nông nghiệp như Đông xuân thì hướng đi theo quy

hoạch vùng rau sản xuất RAT đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân

góp phần thúc đẩy kinh tế hộ cũng như thúc đẩy hướng sản xuất nông nghiệp sạch

trong vùng và khu vực.

4.1.3.2Phân tích kết quả tác nhân thu gom



a. Đặc điểm chung

Tác nhân thu gom là những người tham gia vào chuỗi giá trị với vai trò là

người thu gom sản phẩm từ tác nhân người sản xuất đến các tác nhân khác trong

chuỗi giá trị. Đây là mắt xích đầu tiên nối giữa sản xuất với thị trường. Do điều kiện

phức tạp của chuỗi và phạm vi tiêu thụ hàng là rất lớn nên chúng tôi chỉ nghiên cứu

hoạt động thu gom tại Đông xuân, ngoài phạm vi đó coi như hàng hoá đã chuyển

qua tác nhân khác và sẽ được xem xét ở tác nhân sau.

Những người thuộc nhóm tác nhân này thường sinh sống trên địa bàn huyện

Sóc sơn ngoài ra có một số ở những huyện khác. Họ hoạt động với quy mô nhỏ

trong phạm vi huyện. Phương thức vận chuyển của họ chủ yếu là ô tô tải trọng nhỏ.

Đặc điểm dễ nhận thấy của nhóm tác nhân thu gom là họ hoạt động chuyên

nghiệp và mang tính thường xuyên. Ngoài ra thì còn những đối tượng thu gom

không chuyên khác họ tranh thủ lúc nông nhàn tham gia vào hoạt động thu gom để

cải thiện thu nhập gia đình. Có 20% những người hoạt động thu gomđể cải thiện thu

nhập gia đình.

Độ tuổi bình quân của tác nhân thu gom là 39,5, đây là độ tuổi khá trẻ, khoẻ

và năng động. Số tác nhân thu gom có trình độ cấp I là 58% chiếm đa số và số tác

nhân có trình độ cấp II là 30% còn lại là các tác nhân có trình độ học vấn cấp III

chiếm 12%



Bảng 4.12 Thông tin chung về tác nhân thu gom RAT

STT

1

2



3

4

5

6

7

8



Diễn giải

Tuổi bình quân

Trình độ văn hóa

- Cấp I

- Cấp II

- Cấp III

Khối lượng vận chuyển TB/ngày

Số năm hoạt động trung bình

Số lao động tham gia

Số ngày thu gom/tháng

Số tháng thu gom/năm

Lượng vốn bình quân



ĐVT

Tuổi



Số lượng

39,5



%

%

%

Kg

Năm

Lao động

Ngày

Tháng

1000 đồng



58

30

12

1.160

4,5

2

24

12

20.000 – 24.000



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013

Trung bình mỗi ngày tác nhân này thu gom khoảng 1160kg RAT với chỉ 2

lao động tham gia. Trung bình tác nhân người thu gom có thời gian hoạt động là 4,5

năm, các tác nhân thu gom thường hoạt động thường xuyên bởi nguồn cung luôn

sẵn sàng và liên tục, chỉ có một số ít tác nhân thu gom hoạt động theo thời điểm là

hoạt động không liên tục, số ngày thu gom rau trong một tháng của tác nhân này là

25 ngày. Lượng vốn bình quân của tác nhân này là từ 20.000 - 24.000 nghìn đồng.

b. Thu mua, sơ chế, bảo quản

Người thu gom mua rau của nông dân ngay tại ruộng vào buổi chiều tối.

Trường hợp chiều tối hôm trước mua không đủ số lượng cần thiết họ sẽ mua raubù

vào sáng sớm hôm sau. Chất lượng rau mua phụ thuộc vào sự đánh giá bằng cảm

quan và thông tin từ tác nhân sản xuất ngoài ra còn có những quy chuẩn chung về độ

sạch của RAT cũng như những tiêu chuẩn chất lượng về RAT khác.

RAT mua tại ruộng được sơ chế đơn giản loại bỏ lá giá úa, sau đó được vận

chuyển về nhà.

RATđược bảo quản qua đêm và được xếp trong những giá chứa đảm bảo vệ

sinh. Nhìn chung hình thức bảo quản rất đơn giản ngoài ra thì với những tác nhân

có vốn lớn và có cơ sở vật chất đảm bảo thì có thể bảo quản trong kho lạnh sau khi

đã sơ chế sạch rau được mua về.



c. Khách hàng

Đầu ra của tác nhân thu gom là những người bán buôn, bán lẻ hoặc những

người thu gom tại các khu vực khác. Mua bán trao đổi rau theo hình thức thoả thuận

miệng dựa trên quan hệ bán hàng. Chưa có văn bản hợp đồng nào được ký trong

hoạt động mua bán của tác nhân này.

Bảng 4.13 Phương thức giao dịch của tác nhân thu gom

ST

T

1

2

3

4

5



Đối tượng thu mua

Người bán buôn tại sóc

sơn

Người bán buôn tại Hà nội

Người bán lẻ tại sóc sơn

Người bán lẻ tại Hà nợi

HTX



Tỷ lệ bán (%)

Khoai

Su

Bắp

tây

hào

cải



Cà

chua



Trung

Bình



82,1



92



89,4



96,5



90



0

17,9

0

0



0

8

0

0



0

10,6

0

0



0

3,5

0

0



0

10

0

0



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013

Như vậy qua nghiên cứu cũng như điều tra các tác nhân thu gom thì không

có tác nhân nào bán sản phẩm của mình cho HTX, người bán buôn và bán lẻ tại Hà

nội. Chủ yếu người thu gom rau bán rau chủ yếu cho người bán buôn và bán lẻ trên

địa bàn sóc sơn. Với 90% số rau của ngườithu gom được bán cho tác nhân bán buôn

thì cho thấy đối tượng chủ yếu của người bán lẻ chính là xuất bán cho bán buôn,

người bán lẻ tại sóc sơn mua rau phục vụ cho người tiêu dùng trong huyện nhưng

thường thông qua những đồi mối bán buôn chứ chỉ có một số ít thông qua mua trực

tiếp từ các tác nhân thu gom trong huyện chỉ có 10% lượng rau của tác nhân thu

gom được phân phối cho người bán lẻ tại sóc sơn.

d. Chi phí, kết quả và hiệu quả hoạt động

Hiện nay người thu gom thường hay mua tại ruộng của hộ sản xuất RAT bởi

vì khi mua tại nhà của hộ sản xuất thi người thu gom sẽ phải trả giá cao hơn giá

mua tại ruộng từ 1000 – 2000 đồng/kg. Như vậy khi mua tại ruộng thì người thu

gom sẽ giảm chi phí trung gian hơn khi giảm được giá mua rau. Với khoai tây thì

chi phí trung gian chiếm tới 93,64% doanh thu trong đó thì chi phí mua rau chiếm

tới 90,91% tổng chi phí trung gian. Chi phí vận chuyển cũng chiếm một phần

không nhỏ trong chi phí trung gian với 1,82%.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

e. Phương thức giao dịch, thanh toán

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×