Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

a. Thuận lợi

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình xã Đông Xuân là 24 - 25 0C. Nhiệt độ cao

nhất là vào tháng 7,8 ( trung bình khoảng trên dưới 30 0C). Nhiệt độ trung bình vào

mùa đông là 170C, nhiệt độ thấp nhất vào giữa tháng 12 đến khoảng giữa tháng 1,

trung bình 11 - 140C. Chế độ nhiệt như vậy thích hợp trồng rau gần như quanh năm

với chủng loại rau phong phú.

- Độ ẩm trung bình hàng năm tại Đông Xuân đạt 84% là khá cao, đây là điều

kiện phát triển lý tưởng cho đa số các loại rau được sản xuất tại Việt Nam hiện nay.

- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm khoảng 1600 - 1800 mm cung cấp một

nguồn nước tưới bề mặt và bo sung vào lượng nước ngầm hàng năm cho địa phương.

b. Khó khăn:

Các ́u tớ nhiệt đợ, am đợ, lượng mưa tại xã Đông Xuân nhìn chung là rất

thích hợp để phát triển sản xuất rau quanh năm, tuy nhiên sự phân bố không đều

của các yếu tố này theo thời gian trong chu kỳ mùa của mỗi năm lại gây cản trở cho

sản xuất rau tại những thời điểm nhất định trong năm.

- Giai đoạn đầu tháng 12 năm trước tới cuối tháng 1 năm sau là thời kỳ nhiệt

độ xuống rất thấp (trung bình từ 11 - 140C, có thể xuống tới 60C) cùng với am độ

không khí thấp, lượng mưa ít nên cây rau rất khó phát triển, cần tác động nhiều biện

pháp kỹ thuật. Hơn nữa, thời gian này cũng là giai đoạn cao điểm để sản xuất rau

phục vụ Tết Nguyên Đán vì vậy nguy cơ người dân lạm dụng đạm và các loại thuốc

kích thích sinh trưởng là rất cao.

- Giai đoạn tháng 7-8 hàng năm là thời kỳ nhiệt độ và lượng mưa tập trung

cao nhất trong năm (nhiệt độ trung bình trên 30 0C, có thể lên tới 370C và lượng

mưa trung bình 300 - 350mm) chỉ thích hợp với một số loại rau như rau muống,

mồng tơi, rau đay đa số các loại rau khác đề khó thích nghi, dễ bị úng ngập, thâmlá

rách nát do mưa to và dễ mắc một số bệnh sinh lý, trao đoi chất.

- Vào mùa Xuân và đầu mùa hè (khoảng tháng 1 đến tháng 4 hàng năm) nhiệt

độ ấm áp (dao đông từ 20 -240C) ẩm độ cao từ 90 - 95% và có thể bão hòa chính là

điều kiện thuận lợi cho các loại sâu, bệnh, nấm hại cây trồng phát triển, đặc biệt

giai đoạn này là thời gian người dân tập trung sản xuất các loại rau ăn lá như: cải



bắp, cái các loại, và súp lơ, xu hào, đậu rau...vì vậy rất có thể sảy ra tình trạng sử

dụng các loại thuốc BVTV tràn lan nên cần được kiểm tra giám sát nghiêm ngặt.

3.1.2 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội xã Đông Xuân

Đông Xuân là một xã nông nghiệp với hơn một nửa dân số và thu nhập là từ

trồng trọt và chăn nuôi. Cơ cấu kinh tế xã Đông Xuân đang có sự chuyển biến rõ

rệt, chuyển dần theo hướng giảm sản xuất nông nghiệp truyền thống, tăng các hoạt

động dịch vụ và nghành nghề.

- Tình hình kinh tế xã trong giai đoạn 2011 - 2013 đạt mức tăng trưởng khá.

Bảng 3.1: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã Đông Xuân 2011 - 2013

Chỉ tiêu

1. Kinh Tế

Tổng giá trị sản xuất

Tăng trưởng so với năm trước

2. Giá trị sản phẩm các ngành

Trồng trọt

Chăn nuôi

Dịch vụ ngành nghề

3. Cơ cấu kinh tế

Trồng trọt

Chăn nuôi

Dịch vụ ngành nghề



Đơn

Vị



2011



Năm

2012



Ty

%



46,5

12,6



80,3

16,1



90,1

12,2



Ty

Ty

Ty



18,7

8,9

18,9



33,3

14,5

32,2



40

20,5

35,6



%

%

%



40,2

19,2

40,6



41,5

18,5

40



42

21

37



2013



(Nguồn: Văn phòng UBND xã Đơng Xn)

Từ bảng sớ liệu trên ta thấy rằng giá trị sản xuất của xã trong 3 năm từ 2011

– 2013 liên tục tăng và tăng trưởng với mức ổn định . Trong cơ cấu ngành của xã

Đông Xuân thì giá trị ngành trồng trọt cua các năm có xu hướng tăng trong khi năm

2011 giá trị chỉ là 18,9 ty đồng thì đến năm 2013 đã tăng tới 40 ty đồng. Khác với

các ngành trồng trọt thì chăn nuôi và các dịch vụ ngành nghề khác có xu hướng

giảm nhẹ và không ổn định. Như vậy kinh tế xã Đông Xuân nhìn chung đang có sự

phát triển với mức tăng trưởng khá, đóng góp vào sự phát triển kinh tế đất nước.

- Về tình hình dân số: xã Đông Xuân có 15 khu dân cư với tổng số dân năm

2013 là 13084 khẩu, ty lệ tăng dân số hàng năm của xã trong giai đoạn 2011 đến

2013 được xếp vào loại cao là 2,9%. Biến động dân số trên địa bàn xã Đông Xuân



khá phức tạp do đặc thù riêng của địa phương là ngay sát bên đường quốc lộ, gần

các khu công nghiệp và đặc biệt trên địa bàn xã có nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất

cần thuê tuyển lao đông vì vậy biến động dân số chủ yếu do ty lệ gia tăng cơ giới

trên xã.Như vậy trung bình toàn xã mỗi hộ có khoảng 4,02 khẩu, ty lệ tăng dân số

cao cùng với nhân khẩu hiện tại sẽ gây áp lực cho địa phương về diện tích đất ở và

sản lượng lương thực cũng như chất lượng cuộc sống, tuy nhiên đây cũng là thị

trường tiêu thụ tiềm năng và nguồn bổ xung lực lượng lao động cần thiết

- về cơ cấu sử dụng đất:

Bảng 3.2. Cơ cấu sử dụng đất xã Đông Xuân năm 2013

STT



Loại đất



Diện tích (ha)



Cơ cấu (%)



358



55,4



2 Đất phi nông nghiệp



274,88



42,5



3 Đất chưa sử dụng



13,29



2,1



1 Đất sản x́t nơng nghiệp



(Nguồn: văn phòng UBND xã Đơng Xn)

Diện tích đất sản xuất nông nghiệp được quay vòng 3 vụ/năm vì vậy diện

tích sản xuất thực tế có thể lên đến gần 1000 ha/năm. Biểu đồ trên cho thấy, hơn

một nửa diện tích đất xã Đông Xuân (55,4%) là dùng để sản xuất nông nghiệp, như

vậy có thể kết luận ở địa phương sản xuất nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo.

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Đông Xuân khá thuận lợi

cho việc phát triển sản xuất nghành hàng rau, vấn đề đặt ra cho địa phương là cần

chọn được hướng đi thích hợp, có chính sách và biện pháp tác độnghợp lý để thay

đổi tập quán cũng như tư duy sản xuất của người nông dân.

Cây rau đã từng là niềm tự hào của người dân huyện Sóc Sơn nói chung và

người dân xã Đông Xuân nói riêng vì khi xưa rau nơi đây từng là một trong những

sản vật được tiến dâng cho triều đình phong kiến. Tuy nhiên, theo thời gian loại cây

trồng này dần bị mai một tại địa phương, do nhiều nguyên nhân mà cây rau không

còn được chú trọng sản xuất. Trong nhiều năm trở lại đây, xã Đông Xuân tiến hành

chuyển đổi cơ cấu cây trồng, theo đó cây rau là một trong những đối tượng cây



trồng được lựa chọn nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp tại

địa phương

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp chọ điểm nghiên cứu và chọn mẫu nghiên cứu

3.2.1.1 Phương pháp chọn điêm nghiên cứu

Đây là phương pháp khoa học có tính quyết định tới quá trình nghiên cứu,

kết quả và hiệu quả nghiên cứu. Việc chọn điểm nghiên cứu phù hợp sẽ tạo ra điều

kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu, thể hiện rõ được tính khoa học của đề tài

nghiên cứu. Phương pháp này giúp cho việc thống kê, tìm hiểu các hiện tượng trong

vấn đề nghiên cứu một cách chính xác, tổng quát nhất để đạt được mục tiêu đề ra.

Trong nghiên cứu này, tôi tiến hành chọn xã trồng rau an toàn mới được phát

triển vùng rau trong 3 năm gần đây đó là xã Đông Xuân – huyện Sóc Sơn – TP.Hà

Nội là điểm nghiên cứu của đề tài.

3.2.1.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

Để thực hiện, tôi tiến hành điều tra 90 mẫu đại diện cho các nhóm theo các

tiêu thức:

Nhóm I: là những hộ đang gieo trồng rau an toàn trong xã với 60 hộ

Nhóm II: là những đối tượng thu gom, vẫn chuyển, doanh nghiệp phân phối;

số mẫu điều tra là 30 mẫu.

Số mẫu cụ thể được phân cho mỗi nhóm như sau:

Bảng 3.3: Số mẫu phỏng vấn hợ

Tiêu thức



Nhóm I



Nhóm II



Tổng sớ



Tổng sớ



60



30



90



(Nguồn: Dự kiến nghiên cứu của tác giả, 2013).



3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

3.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Nguồn tài liệu, thông tin thu thập là các số liệu, dữ liệu đã công bố liên quan

đến lĩnh vực nghiên cứu, nâng cấp chuỗi giá trị của các sản phẩm nông, lâm, thủy

sản tại Việt Nam và một số điển hình trên thế giới. Thông tin được tổng hợp từ các

tạp chí, niên giám thống kê, tài liệu, báo cáo nghiên cứu, báo cáo tổng kết, báo cáo

dự án, các trang web của các bộ, ngành, địa phương Các thông tin thu thập phản ánh

thực trạng kinh tế xã hội địa bàn nghiên cứu như dân số, lao động, tình hình phát

triển kinh tế của xã Đông Xuân, thông tin phản ánh tình hình sản xuất,tiêu thụ rau

an toàn. Số liệu được cung cấp từ cán bộ thống kê xã, cán bộ trong các HTX rau

đang hoạt động trong xã.

3.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Các số liệu thu thập mới là các số liệu liên quan tới thực trạng sản xuất, thu

hoạch và tiêu thụ RAT và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị RAT xã Đông xuân.

Cách thức triển khai thu thập thông tin,dữ liệu được tiến hành như hình sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×