Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Cơ sở thực tiễn

2 Cơ sở thực tiễn

Tải bản đầy đủ - 0trang

mới, cùng nhau thực thi kế hoạch và chia sẻ thông tin dựa trên sự tin tưởng lẫn

nhau. Bên cạnh đó phát hiện ra những nhược điểm khi áp dụng chuỗi giá trị là tăng

sự phụ thuộc giữa các bên tham gia chuỗi, giảm sự cạnh tranh giữa người mua và

người bán, phát sinh chi phí mới trong chuỗi. (Fearne, A. and D. Hughes,

1998).Năm 2009, Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) đã

có báo cáo tổng hợp khá đầy đủ các nghiên cứu về lí thuyết phân tích chuỗi giá trị

nhằm thực hiện nghiên cứu áp dụng cho các sản phẩm nông nghiệp (UNIDO 2009).

UNIDO đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng về phân tích chuỗi giá trị một số sản

phẩm nông nghiệp như các sản phẩm ngũ cốc, sản phẩm dầu từ thực vật, cà phê, ca

cao, đường, sữa, thịt động vật, trái cây, trà, rau, mật ong… ở một số quốc gia như

Ethiopia, Nicaragua, Ecuador, Ai Cập, Sri Lanka, Indonesia, Việt Nam, một số nước

ở Châu Âu… (UNIDO 2009). Các nghiên cứu cho thấy cấu trúc thị trường của các

chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp là đa dạng và khác biệt giữa các quốc gia, có sự

khác biệt về phân phối lợi ích và đặc biệt là các chuỗi giá trị chịu tác động khác nhau

lớn bởi cơ chế và chính sách từ các Chinch phủ. UNIDO (2009) đã báo cáo rằng 98%

sản phẩm nông nghiệp từ các nước phát triển chế biến công nghiệp và thu được 185

USD giá trị gia tăng trên 1 tấn sản phẩm nông nghiệp chế biến, trong khi tỉ lệ này tại

các nước đang phát triển là 38% tương ứng với giá trị gia tăng là 40 USD trên 1 tấn

sản phẩm nông nghiệp. Thêm vào đó, giá trị tổn thất sau thu hoạch ở những nước

đang phát triển khoảng 40%, trong khi đó ở các nước công nghiệp phát triển là rất

nhỏ. UNIDO (2009) kết luận rằng chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp ở các nước

đang phát triển tạo ra giá trị thấp và nhìn chung đang ở vị thế cạnh tranh bất lợi so

với các nước phát triển.Trung tâm nghiên cứu CGGC (Center on Globalization,

Governance and Competitiveness) của Trường đại học Duck (Mỹ) là một trong

những nơi thực hiện khá nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu trong

lĩnh vực nông nghiệp ở các quốc gia Châu Mỹ. Năm 2011, Ferrnandez- Stark và cộng

tác viên nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm rau và trái cây.

Sản xuất RAT mang lại lợi ích cho nền kinh tế của các nước trồng RAT trên thế

giới. Diện tích trồng RAT trên thế giới ngày càng mở rộng và không ngừng tăng lên.

Đối với nền nông nghiệp Mĩ, sản xuất rau quả là ngành sản xuất quan trọng



và chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Dù sản xuất trong nước không

đáp ứng đủ nhu cầu nội địa nhưng nó chính là công cụ để cân bằng cán cân thương

mại cho Mĩ trong nhập khẩu hàng nông sản. Công nghệ trồng rau chủ yếu là trồng

trong nhà lưới với tỉ lệ hơn 90%. Mặc dù sản xuất dưới hình thức hộ nông dân

nhưng mỗi hộ nông dân có một hệ thông nhà lưới cho trồng rau. Tuy nhiên, sản xuất

rau trong nhà lưới ở Mĩ chi phí rất cao, khoảng từ 30.000 USD đến 50.000 USD cho

4.000 dặm vuong nhà lưới với những chi phí chủ yếu là các dụng cụ và thiết bị xây

dựng nhà lưới, chưa tính đến các đầu vào biến đổi.

Các nước phát triển như Mĩ thì khái niệm RAT, quy hoạch phát triển RAT

không còn là vấn đề đặt ra, 100% sản phẩm thực phẩm cung ứng thị trường phải

đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và được chứng nhận chất lượng

trước khi đưa ra tiêu thụ. Sản phẩm không an toàn trở thành mối rủi ro mà người

sản xuất luôn phải đề phòng.

Ở Đài Loan, việc sản xuất RAT tập trung ở miền Nam và miền Trung. Tại

đây, các loại rau được trồng rất phong phú, trong đó có nhóm rau ăn lá như bắp cải,

cải bao, cần tay; Nhóm rau ăn thân như măng tre, tỏi, hành; Nhóm rau ăn củ như cà

rốt, cải củ, khoai tây; Nhóm rau ăn hoa và quả như đậu ăn quả, cà chua, dưa chuột

và súp lơ. Giá rau ở Đài Loan cũng biến động theo mùa vụ. Chi phí vật chất như

giống, phân hóa học, thuốc trừ sâu và chi phí lao động chiếm tới 90% tổng chi phí

sản xuất rau của trang trại.

2.2.2Một số nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm Nông nghiệp ở trong nước

Ở Việt Nam việc áp dụng chuỗi giá trị trong thực tế đã được nhiều tổ chức

quốc tế như tổ chức GTZ, ACI, SNV, CIRAD, Ngân hàng phát triển Châu Á phối

hợp cùng các cơ quan chính phủ Việt Nam tiến hành nghiên cứu, triển khai các dự

án hỗ trợ nhằm phát triển. Tổ chức SNV đã nghiên cứu chuỗi giá trị ngành cói của

tỉnh Ninh Bình nhằm năng cao năng lực cạnh tranh ngành cói qua phát triển chuỗi

giá trị trình bày ở hội thảo “Ngành cói Việt Nam - Hợp tác để tăng trưởng” Ngày

04/12/2008 tại Ninh Bình do Nico Janssen, cố vấn cao cấp - SNV. Sau khi tiến hành

chương trình nghiên cứu tổ chức SNV đã giúp chuyển giao kiến thức từ nhà nghiên

cứu đến nông dân, nâng cao năng lực của nhóm kỹ thuật địa phương về cung cấp



dịch vụ khuyến nông, hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách liên quan đến ngành

cói của tỉnh, hỗ trợ thành lập các nhóm đại diện như nông dân trồng và chế biến

cói, hiệp hội cói, phát triển thị trường cho công nghệ sau thu hoạch, cải thiện việc

tiếp cận thị trường…

Trung tâm Tin học Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (ICARD), Viện

Nghiên cứu Chè Việt Nam (VTRI), Viện Nghiên cứu Rau quả Việt Nam (IFFAV) và

Công ty Tư vấn Nông sản Quốc tế (ACI) phối hợp thực hiện dưới sự tài trợ của

Ngân hàng Phát triển Châu Á. Nghiên cứu về chuỗi giá trị chè trong khuôn khổ dự

án nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường cho Người nghèo do ngân hàng phát

triển Châu Á và quỹ phát triển Quốc tế của Anh đồng tài trợ.

Chương trình hợp tác phát triển doanh nghiệp nhỏ giữa Bộ kế hoạch đầu tư

và Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật Đức (GTZ) đã triển khai dự án “Phát triển

chuỗi giá trị trái bơ Đắk Lăk” từ tháng 3/2007 có sự tham gia của Công ty Fresh

Studio Innovation Asia Ltd, DOST, CSTA, WASI, AEC. Mục đích của dự án là xây

dựng chuỗi giá trị trái bơ nhằm khắc phục những điểm yếu trong chuỗi, ví dụ như

nguồn cung không đồng đều, sản xuất và vận hành không chuyên nghiệp dẫn đến tỉ

lệ hư hại cao, lợi nhuận cho các tác nhân tham gia thấp. Trước đây ở Đắk Lăk cây

bơ chủ yếu được trồng để làm bóng mát và chắn gió xung quanh cánh đồng cà phê,

lĩnh vực quả bơ ở Đắk Lăk chưa được các nhà hoạch định chính sách để ý. Sau khi

triển khai dự án “Phát triển chuỗi giá trị Đắk Lăk” đã làm nâng cao nhận thức giữa

người lập chính sách ở tỉnh về tầm quan trọng kinh tế của quả bơ ở Đắk Lăk (MPI GTZ SMEDP, 2007).

Giá trị gia tăng đạt được từ các hoạt động xây dựng thương hiệu, đóng gói,

thiết kế và marketing đã mang lại giá bán cao hơn cho người sản xuất và lượng

hàng hoá tiêu thụ nhiều hơn. Trong nhiều trường hợp, các sản phẩm đã có được thị

trường mới ở các khu thương mại, siêu thị lớn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh,

một số sản phẩm đã có được thị trường xuất khẩu. Tiếp cận và phát triển thị trường

được cải thiện thông qua các hoạt động nâng cấp chuỗi và mối quan hệ hợp tác của

các tác nhân trong chuỗi.

Tại khu vực phía Bắc chương trình GTZ cũng hỗ trợ triển khai dự án “Phân



tích chuỗi giá trị rau cải ngọt tại tỉnh Hưng Yên” từ đầu năm 2008 với sự tham gia

của công ty Fresh Studio Innovation Asia Ltd, Sở nông nghiệp vàPhát triển nông

thôn tỉnh Hưng Yên (DARD). Mục đích của dự án là cùng các bên liên quan đến

chuỗi cải ngọt tạo ra phương hướng phát triển và lập kế hoạch can thiệp trên cơ sở

yêu cầu thị trường nhằm thúc đẩy chuỗi gía trị rau cải ngọt thành công hơn, có khả

năng cạnh tranh cao hơn từ đó mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia.

Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) hỗ trợ về mặt tài chính để triển khai

hàng loạt các nghiên cứu nhằm “Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo’,

với mục tiêu đánh giá các điều kiện để gia tăng sự tham gia của người nghèo vào

kênh ngành hàng sản phẩm thực phẩm, nông sản được điều phối bởi các siêu thị và

các điểm bán hàng truyền thống. Thúc đẩy sự phát triển chuỗi và tăng thêm giá trị

gia tăng cho các sản phẩm nông nghiệp.Như vậy, với một số minh chứng nêu trên,

chứng tỏ rằng nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam đã được quan tâm ở cấp độ vĩ mô

và vi mô, được tiến hành triển khai rộng rãi trên nhiều ngành, đặc biệt là các sản phẩm

nông sản và rau quả. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuỗi giá trị cho các sản phẩm lâm

sản ngoài gỗ, sản phẩm từ cây dược liệu còn ít được đề cập, đặc biệt là các sản phẩm

có khả năng phát triển thành hàng hoá, tạo thu nhập kinh tế ổn định, giúp người dân

xoá đói giảm nghèo tại các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Công ty nghiên cứu thị trường Việt Nam (Axis Research) cũng có nhiều

nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị ở các tỉnh thành tập trung vào các sản phẩm nông

sản như rau củ quả và trái cây. Các phân tích tiến hành xác định cấu trúc chuỗi giá

trị sản phẩm và phân tích đặc điểm hoạt động sản xuất, mua bán của các tác nhân,

sau đó tính toán lợi ích và chi phí nhằm xác định sự phân phối lợi ích giữa các tác

nhân trong chuỗi. Axis Research(2005) báo cáo phân tích chuỗi giá trị rau an toàn

thành phố Hồ Chí Minh cho thấy kênh phân phối trong chuỗi giá trị này chủ yếu

được cung ứng theo con đường truyền thống đó là: Nông dân => Thương lái =>

Người bán sỉ => Người bán lẻ => Người tiêu dùng.Báo cáo kết luận hầu như nông

dân bán sản phẩm cho thương lái, một số lượng rất ít hộ tự thu hoạch và bán cho các

siêu thị. Nông dân trồng rau an toàn thu lợi nhuận khá cao nhưng không ổn định và

gặp nhiều rủi ro lớn về thời tiết, sâu bệnh và không nắm được thông tin thị trường.



PHẦN III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên xã Đông Xuân

Đông Xuân là một xã ở khu vực phía nam huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội.

Phía nam xã Đông Xuân giáp với huyện Đông Anh, phía bắc giáp xã Tiên Dược,

phía đông giáp hai xã Đức Hòa và Kim Lũ, phía tây giáp hai xã Mai Đình và Phủ

Lỗ.Nằm sát bên quốc lộ 3 và trục đường cao tốc Bắc Thăng Long - Nội Bài là

những trục giao thông liên tỉnh quan trọng, xã Đông Xuân có cơ hội rất lớn để phát

triển giao thương với các huyện, tỉnh khác trong vùng. Xã Đông Xuân nằm cách sân

bay và khu công nghiệp Nội Bài khoảng 5-6 km là một điều kiện thuận lợi để địa

phương phát triển kinh tế, dịch vụ. Đặc biệt, phía nam xã Đông Xuân là huyện

Đông Anh cùng với khu vực sản xuất rau nối tiếng cả nước Vân Nội và chợ rau Vân

Trì - một trong những chợ rau lớn nhất miền Bắc, đây là điều kiện có rất thuận lợi

cho Đông Xuân học hỏi những kỹ thuật thâm canh, kinh nghiệm tư duy sản xuất

trong nghành hàng rau, đồng thời cũng là thị trường đầu ra rất khả dĩ với chợ rau

Vân Trì có khối lượng rau được buôn bán hàng ngày lên tới 5 đến 8 nghìn tấn.



Hình 3.1. Bản đồ khái quát xã Đông Xuân



a. Thuận lợi

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình xã Đông Xuân là 24 - 25 0C. Nhiệt độ cao

nhất là vào tháng 7,8 ( trung bình khoảng trên dưới 30 0C). Nhiệt độ trung bình vào

mùa đông là 170C, nhiệt độ thấp nhất vào giữa tháng 12 đến khoảng giữa tháng 1,

trung bình 11 - 140C. Chế độ nhiệt như vậy thích hợp trồng rau gần như quanh năm

với chủng loại rau phong phú.

- Độ ẩm trung bình hàng năm tại Đông Xuân đạt 84% là khá cao, đây là điều

kiện phát triển lý tưởng cho đa số các loại rau được sản xuất tại Việt Nam hiện nay.

- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm khoảng 1600 - 1800 mm cung cấp một

nguồn nước tưới bề mặt và bo sung vào lượng nước ngầm hàng năm cho địa phương.

b. Khó khăn:

Các ́u tớ nhiệt độ, am độ, lượng mưa tại xã Đông Xuân nhìn chung là rất

thích hợp để phát triển sản xuất rau quanh năm, tuy nhiên sự phân bố không đều

của các yếu tố này theo thời gian trong chu kỳ mùa của mỗi năm lại gây cản trở cho

sản xuất rau tại những thời điểm nhất định trong năm.

- Giai đoạn đầu tháng 12 năm trước tới cuối tháng 1 năm sau là thời kỳ nhiệt

độ xuống rất thấp (trung bình từ 11 - 140C, có thể xuống tới 60C) cùng với am độ

không khí thấp, lượng mưa ít nên cây rau rất khó phát triển, cần tác động nhiều biện

pháp kỹ thuật. Hơn nữa, thời gian này cũng là giai đoạn cao điểm để sản xuất rau

phục vụ Tết Nguyên Đán vì vậy nguy cơ người dân lạm dụng đạm và các loại thuốc

kích thích sinh trưởng là rất cao.

- Giai đoạn tháng 7-8 hàng năm là thời kỳ nhiệt độ và lượng mưa tập trung

cao nhất trong năm (nhiệt độ trung bình trên 30 0C, có thể lên tới 370C và lượng

mưa trung bình 300 - 350mm) chỉ thích hợp với một số loại rau như rau muống,

mồng tơi, rau đay đa số các loại rau khác đề khó thích nghi, dễ bị úng ngập, thâmlá

rách nát do mưa to và dễ mắc một số bệnh sinh lý, trao đoi chất.

- Vào mùa Xuân và đầu mùa hè (khoảng tháng 1 đến tháng 4 hàng năm) nhiệt

độ ấm áp (dao đông từ 20 -240C) ẩm độ cao từ 90 - 95% và có thể bão hòa chính là

điều kiện thuận lợi cho các loại sâu, bệnh, nấm hại cây trồng phát triển, đặc biệt

giai đoạn này là thời gian người dân tập trung sản xuất các loại rau ăn lá như: cải



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Cơ sở thực tiễn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×