Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 4.1 Diện tích gieo trồng RAT của xã Đông Xuân trong 3 năm



STT

1

2

4



Thôn

Tổng diện tích

Thượng

Đình

Yêm

Đồng Dành

Bến



2011

DT (ha)

CC

32

100%

6

18,75%

6

18,75%

5,5

17,19%

7

21,88%

7,5

23,44%



2012

DT (ha)

CC

41,4

100%

8,3

20,05%

8

19,32%

7,5

18,12%

8,6

20,77%

9

21,74%



2013

DT (ha)

CC

50,5

100%

10

19,80%

10

19,80%

10

19,80%

10

19,80%

10,5

20,79%



Tốc đợ phát triển

2012/2011 2013/2012

BQ

129,38%

121,98%

125,68%

138,33%

120,48%

129,41%

133,33%

125%

129,17%

136,36%

133,33%

134,85%

122,86%

116,28%

119,57%

120%

116,67%

118,33%



Nguồn: Văn phòng UBND xã Đơng xn



Nhìn chung quy mô sản xuất RAT tại địa phương còn rất hạn chế cả xã có 12

thôn sản xuất nông nghiệp nhưng chỉ có 5 thôn đang tập trung sản xuất RAT và được

công nhận đạt tiêu chuẩn điều kiện SX RAT. Đông Xuân vẫn chưa thể trở thành

trọng điểm sản xuất RAT để cung cấp cho thành phố đang rất khát RAT. Với 5 thôn

trong xã đang tập trung sản xuất rau an toàn tạo điều kiện tập trung nguồn lực cho

đầu tư. Tổng diện tích sản xuất RAT của xã tăng liên tục từ năm 2011 – 2013 với mỗi

năm tăng trung bình là 25,68% cho đến hiện nay toàn xã có 50,5ha diện tích đất đang

được tập trung sản xuất RAT. Trong 5 thôn thì thôn Bến là thôn có diện tích sản xuất

RAT nhiều nhất và cũng tăng đều qua các năm từ năm 2011 – 2013 với mỗi năm tăng

trung bình 18,33% Trong khi đó thôn Yêm là thôn có diện tích sản xuất RAT thấp

nhất đồng thời cũng có tăng về diện tích sản xuất RAT từ năm 2011 – 2013 nhiều

nhất với mỗi năm tăng trung bình 34,85% cao nhất trong các thôn.Như vậy nhìn

chung các thôn có diện tích sản xuất đến năm 2013 tương đối đồng đều nhau, không

có sự cách biệt lớn về diện tích sản xuất RAT giữa các thôn.

Bảng 4.2 Năng suất rau của xã Đông Xuân qua các năm

Năng suất ( tấn/năm)

2011

2012

2013

Rau ăn300

lá

380

Rau ăn500

củ

600

Rau ăn

280

quả200



Diễn Giải



Tốc độ phát triển

2012/2011 2013/2012

BQ

113,33%

111,76% 112,55%

112%

107,14% 109,57%

115%

121,74% 118,37%

Nguồn: Văn phòng UBND xã Đông xuân



Năng suất trung bình của các loại rau qua các năm đều có sự biến động đáng

kể, rau an quả là loại có biến động bình quân giữa các năm cao nhất trong các loại

rau, trung bình tăng 18,37%/năm và tăng liên tục qua 3 năm. Rau ăn củ là loại mà

có xu hướng tăng thấp nhất, trung bình tăng 9,57%/năm. Như vậy tuy tốc độ tăng

bình quân có thấp nhưng xét tất cả các năm thì tất cả các loại rau đều có xu hướng

tăng về năng suất hiện nay tất các các loại rau đều đạt trung bình năng suất từ 200 600 tấn/năm



4.1.1.2 Giá bán rau trên địa bàn xã Đông Xuân

Giá bán rau trên địa bàn xã Đông xuân vẫn còn những rủi ro từ thị trường

bởi giá rau, củ, quả tại đây vẫn còn chịu nhiều tác động về giá thị trường, chưa chủ

động trong khâu làm giá.

Bảng 4.3 Giá bán rau trên địa bàn xã Đơng Xn năm 2013

Đơn vị tính: đồng/kg

STT

1

2

3



Diễn giải

Rau ăn lá

Rau ăn củ

Rau ăn quả



Giá bán TB

3.500

5.400

6.300

Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013



Theo nghiên cứu cho thấy rau ăn lá có giá rau trung bình thấp nhất chỉ đạt 3.500

đồng/kg trong loại rau ăn lá này bao gồm những loại như: Bắp cải, rau muống, cải

ngọt,... Giá rau ăn quả đạt trung bình cao nhất lên tới 6.300 đồng/kg bao gồm các

loại rau như: Cà chua, đỗ, dưa lê…



4.1.2 Chuỗi giá trị sản phẩm rau an toàn của xã Đông Xuân

4.1.2.1 Tổng quan chuỗi giá trị sản phẩm rau an toàn của xã Đông Xuân

4.1.2.1.1 Sơ đồ chuỗi rau an toàn Đông Xuân



Sơ đồ 4.1 Sơ đồ chuỗi giá trị RAT Đông xuân



Kênh 1:



Kênh 2:



Kênh 3:



Kênh 4:



Sơ đồ 4.2 : Các kênh cung ứng hàng hóa dịch vụ chính trong chuỗi giá trị

sản phẩm rau an toàn của xã Đông Xuân



4.1.2.1.2 Chức năng của các tác nhân trong chuỗi giá trị rau

Chuỗi giá trị sản phẩm rau an toàn Đông Xuân gồm các chức năng cơ bản như sau:

- Chức năng đầu vào cho hộ sản xuất rau an toàn bao gồm: giống, vật tư

nông nghiệp…vv

- Chức năng sản xuất bao gồm các hoạt động trồng rau và thu hoạch rau, sơ

chế rau…vv

- Chức năng thu gom là chức năng trung gian vận chuyển thu mua rau từ

người sản xuất đến các tác nhân khác của chuỗi

- Chức năng hợp tác xã bao gồm các chức năng đảm bảo quyền lợi cho người

sản xuất thuộc hợp tác xã trong hoạt động thu mua và phân phối rau tới các tác nhân

khác

- Chức năng thương mại bao gồm các hoạt động thu mua và bán rau tới

người tiêu dùng

- Chức năng tiêu dùng bao gồm các hoạt động mua rau để tiêu dùng

Tương ứng với mỗi chức năng trong chuỗi có ít nhất một tác nhân tham gia

chuỗi và các tác nhân này kết nối với nhau thành một hệ thống cung ứng lẫn nhau

từ sản xuất tới tiêu thụ và đó gọi là hệ thống chuỗi. Hiện nay, các sản phẩm rau an

toàn của Đông Xuân chỉ được tiêu thụ trong thị trường nội địa nên chức năng tiêu

dùng chỉ thuộc lãnh thổ Việt Nam. Những tác nhân chính tham gia vào chuỗi sản

phẩm rau an toàn của Đông Xuân là:

+ Người trồng rau an toàn (trong xã)

+ Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (trong xã)

+ Thương lái mua rau từ các hộ trồng rau (trong huyện)

+ Thương lái bán buôn, bán lẻ (trong và ngoài vùng)

4.1.3 Thực trạng các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị RAT

Các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm rau an toàn của xã Đông Xuân

phát triển rất nhanh và đa dạng qua nhiều hoạt động. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc

rất nhiều vào quy mô hoạt động của các tác nhân. Phân tích đặc điểm, quy mô hoạt

động của từng tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm rau an toàn để tránh giá

được quy trình hoạt động cũng nhưkhảnăng thich ứng của các tác nhân trong quá trình

phát triển chuỗi giá trịcũng như đáp ứng đòi hỏi của thịtrường.



4.1.3.1 Tác nhân người sản xuất

a. Đặc điêm chung

Người sản xuất rau an toàn là các hộ nông dân họ là các tác nhân đầu tiên

của chuỗi giá trị. Hiệu quả kinh tế thu được đối với mỗi loại sản phẩm sẽ ảnh hưởng

rất lớn tới quyết định đầu tư của họ. Quy mô và đắc điểm của chuỗi giá trị thể hiện

thông qua khối lượng và chủng loại sản phẩm vì vậy mà phụ thuộc rất lớn vào tác

nhân này

Bảng 4.4 Thông tin chung của hộ sản xuất

Diễn giải

Độ tuổi của hộ

Trình độ văn hóa

Số năm trồng rau an toàn

Diện tích đất trồng rau

Số nhân khẩu/hộ

Số lao động/hộ

Vốn đầu tư sản xuất



ĐVT

Tuổi

Lớp

Năm

2



Khẩu

Khẩu

Tr đồng

Tr đồng



Thấp nhất

2

2

720

3

80

12



Trung bình Cao nhất

38

46,02

53

5

12

6

10

1.440

2.160

4

4,5

6

4,1

6

94,3

115

18,5

25

Nguồn: Sớ liệu điều tra năm 2013



Người sản xuất RAT chủ yếu là các hộ nông dân, họ là tác nhân đầu tiên của

chuỗi giá trị. Hiệu quả kinh tế thu được đối với mỗi loại sản phẩm sẽ ảnh hưởng rất lớn

tới quyết định đầu tư của họ. Quy mô và đắc điểm của chuỗi giá trị thể hiện thông qua

khối lượng và chủng loại sản phẩm vì vậy mà phụ thuộc rất lớn vào tác nhân này.

Trong tổng số 60 hộ điều tra, độ tuổi chủ hộ trung bình là 46,02 tuổi. Chủ hộ

có độ tuổi thấp nhất là 38 tuổi và cao nhất là 53 tuổi. Các chủ hộ đều trong độ tuổi

lao động có sức khoẻ tốt và đã gắn bó lâu năm với sản xuất nông nghiệp. Các chủ

hộ đều có trình độ văn hoá cấp I, cấp II hoặc cấp III, không có chủ hộ nào có trình

độ trung cấp trở lên, trung bình các chủ hộ học hết lớp 5, chủ hộ có trình độ cao

nhất là tốt nghiệp cấp III và trình độ văn hoá thấp nhất là học hết lớp 2. Trình độ của

chủ hộ ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tiếp thu KHKT và thông tin thị trường.Diện

tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của xã Đông xuân thấp, bên cạnh đó có

một diện tích khá lớn đã dành cho công nghiệp trong đó có phần đất nông nghiệp của

một số hộ điều tra. Diện tíchđất nông nghiệp sử dụng để sản xuất rau trung bình của

các hộ là 1440m2. Hộ có nhân khẩu thấp nhất là 4 và cao nhất là 6, trung bình là 4,5



nhân khẩu/hộ. Số lao động trung bình của các hộ điều tra là 4,1 lao động, hộ có đông

lao động nhất là 6 và hộ có ít lao động nhất là 3. Với ty lệ lao động như vậy, hộ hoàn

toàn có thể chủ động được lao động trong mùa vụ sản xuất RAT của mình.

Nhu cầu vốn đầu tư sản xuất của hộ trồng RAT cao nhất là 25 triệu đồng, hộ có

nhu cầu vốn đầu tư thấp nhất là 12 triệu đồng, trung bình là 18,5 triệu đồng. Phần lớn

vốn đầu tư sản xuất là vốn tự có. Phần vốn vay được vay từ Ngân hàng chính sách

(thông qua các tổ chức hội địa phương) có lãi suất thấp, ưu đãi (vay từ nguồn này khá

nhiều). Ngoài ra hộ còn vay từ người thân và từ những mối quan hệ quen biết khác.

Thu nhập của hộ trung bình tại Đông xuân đạt vào khoảng 94,3 triệu đồng trong 1 năm

như vậy mỗi tháng hộ thu nhập trung bình là 7,8 triệu đồng trong đó ngoài thu nhập từ

trồng trọt và chăn nuôi thì hộ còn có những thu nhập khác như từ: đi làm phi nông

nghiệp, trợ cấp XH…vv . Với mức thu nhập cao như vậy thì nguồn thu từ sản xuất rau

đóng góp một phần không nhỏ. Ngoài ra thì hộ có thu nhập thấp nhất vào 80 triệu đồng

trong 1 năm, như vậy mỗi tháng hộ thu nhập 6,6 triệu đồng. Với thu nhập như hiện tại ở

Đông xuân được xếp vào mức có thu nhập khá giúp thuc đẩy kinh tế hộ tạo sự bền

vững trong phát triển vùng RAT cũng như phát triển kinh tế trong khu vực.

Bảng 4.5Diện tích, năng suất sản x́t RATcủa hợ năm 2013

(Tính bình qn 1 hợ)

STT



Diễn giải

Khoai Tây

Bắp Cải

Su Hào

Cà chua

Loại khác



Diện tích

(sào)



Năng suất

(Kg/sào)

3,17

3,12

2,48

1,79

1,2



655,8

1.854

671,43

2.478,85

405

Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013



Nghiên cứu cho thấy Đông xuân RAT được trồng chủ yếu là 4 loại rau, củ,

quả đó là: Khoai tây, su hào, bắp cải, cà chua. Ngoài ra thì các hộ còn có sản xuất

các loại rau khác như: Cải ngọt, sup lơ, bí ngô, đậu đũa… vv. Trong đó Cà chua là

loại mang lại năng xuất cao nhất trong 4 loại rau nhưng ngược lại thì khoai tây lại là

loại có năng suất thấp nhất chỉ đạt 655,8 kg/sào. Diện tích gieo trồng các loại rau

trong hộ cũng có khác biệt khá lớn, trong khi Khoai tây là loại có diện tích gieo

trồng lớn nhất vào 1141,2m2 (3,17 sào bắc bộ) thì cà chua lại có diện tích sản xuất

thấp nhất là 644,4m2 (1,79 sào bắc bộ). Ngoài ra thì hộ còn có sản xuất các loại rau

khác và diện tích chỉ vào 432m2, như vậy trong cơ cấu đất đai của hộ có sự khác

biệt rõ nét trong việc lựa chọn đất đai cho sản xuất để nâng cao sản lượng và doanh

thu. Cà chua là loại rau có năng suất cao nhưng vốn đầu tư ban đầu lớn vì vậy mà

hộ sản xuất dành nhiều đất đai tập trung cho sản xuất khoai tây và bắp cải còn cà

chua thì ngược lại.

Bảng 4.6 Cơ cấu sản xuất các loại rau trong xã Đông xuân năm 2013

Cơ cấu sản xuất

Diễn giải

Khoai

1 tây

Su

2 hào

Bắp

3 cải

Cà

4 chua



Số hộ SX

6 9

12 13

12 10

13 12



Thôn cả Thôn yêm Thôn Dành Thôn đình

7

13

10

13



7

12

12

14



40%

80%

80%

86,67%



60%

86,67%

66,67%

80%



46,67%

86,67%

66,67%

86,67%



46,67%

80%

80%

93,33%



Nguồn: Số liệu điều tra năm 2013

Trong 4 loại rau chính được chia ra sản xuất chủ yếu ở 3 vụ khác nhau trong

năm thì đây là nguồn cung ứng lớn cho thị trường tiêu thụ đang khát rau đảm bảo

chất lượng VSATTP. Khoai tây là loại củ mà được hộ sản xuất ở Đông xuân sản

xuất ít nhất trong cơ cấu sản xuất của hộ và thôn cả là thôn có hộ sản xuất khoai tây

thấp nhất chỉ đạt 40% số hộ có sản xuất, trong khi đó thôn yêm là thôn có 60% hộ

có sản xuất khoai tây. Su hào có số hộ sản xuất trong mỗi thôn khá lớn đều có hơn

12 hộ sản xuất và thôn đình và thôn cả là 2 thôn có 12 hộ sản xuất chiếm 80% số hộ

trong thôn sản xuất rau, trong khi đó thôn yêm và thôn đồng dành là 2 thôn có tới

13 hộ sản xuất chiếm 86,67% trong số các hộ sản xuất rau của thôn. Cùng với su

hào thì bắp cải là rau ăn lá sản xuất chủ yếu vào vụ đông nên cũng có nhiều hộ sản

xuất loại rau này. Cà chua có năng suất lớn, giá bán ổn định nên số lượng trồng cà



chua tương đối lớn trong các hộ sản xuất của các thôn. Thôn đình là thôn mà có tới

93,33% số hộ có sản xuất cà chua trong các hộ sản xuất rau của thôn và 3 thôn còn

lại thì đều chiếm trến 80% số hộ có sản xuất cà chua. Như vậy trung bình có trên

45% số hộ có sản xuất tất cả 4 loại rau để đáp ứng nhu cầu thị trường

b. Kỹ thuật canh tác rau an toàn

Chủ yếu theo phương thức canh tác bán hiện đại, đã áp dụng dụng nhiều tiến

bộ kỹ thuật mới vào sản xuất. Rau an toàn được trồng ở điều kiện tự nhiên ngoài

đồng ruộng, nhiều hộ có đầu tư hệ thống giàn lưới, ni lông bảo vệ rau khi gặp điều

kiện bất thuận của thời tiết nên năng suất, chất lượng rau đạt khá cao.Điều tra việc

áp dụng các biện pháp kỹ thuật, số đông các hộ trồng rau được phỏng vấn đều trả

lời trồng rau theo kinh nghiệm chiếm tương đối thấp (35% - 40%). Như vậy, các

thông tin về tiến bộ kỹ thuật trồng rauđã được đưa đến được tới người nông dân

trồng rau. Tuy nhiên một số hộ áp dụng kỹ thuật canh tác mới trong sản xuất rau an

toàn (60% - 65%), là số lượng lớn cho thấy hiệu quả tuyên truyền cũng như tập

huấn về phương thức canh tác, sản xuất rau theo hướng an toàn sinh học.

c.Tình hình sâu bệnh

Cũng như các loại cây trờng khác, rau bị rất nhiều các đối tượng côn trùng

dịch bệnh tấn công. Các loại bệnh phổ biến hay gặp: bệnh thối nhũn, héo xanh...

Các bệnh này thường xuất hiện trong suốt thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây. Về

sâu hại chủ yếu có rệp rau loại sâu này thường xuất hiện quanh năm và chủ yếu gây

hại ở trên lá.

d. Phương thức thu hoạch

Nông dân thu hoạch rau vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát, trời khô ráo

không mưa. Phương tiện vận chuyển là những chiếc xe thồ, xe máy và một số ít

dùng xe cải tiến. Rau sau khi đem về nhà được sơ chế loại bỏ lá già úa và phân

thành từng loại chất lượng khác nhau, sau đó đưa vào chỗ mát, kín gió để bảo quản.

Rau có thể được thu mua bởi những đối tượng thu gom tại nhà hoặc có thể bán

ngay tại ruộng như vậy thì người nông dân không phải mất công cho sơ chế tại nhà

sau khi thu hoạch



e. Phương thức giao dịch, thanh toán

- Phương thức giao dịch: Người mua sẽ liên hệ với hộ sản xuất rau và thu mua theo số lượng cần

thiết mà chưa có hình thức ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nào được thực hiện. Hiện

nay nông dân tiêu thụ rau theo các cách:

Bảng 4.7 Phương thức giao dịch của hộ

ST



Đối tượng thu



T

1

2

3

4



mua

Người thu gom

Người bán buôn

Người bán lẻ

HTX



Tỷ lệ bán (%)

Khoai tây Su hào

30

37,75

0

0

0

0

70

62,25



Bắp cải

49,38

0

0

50,62



Trung Bình

Cà chua

56,25

43,46

0

0

0

0

43,75

56,54



Nguồn: Sớ liệu điều tra năm 2013

+ Sau khi thu hoạch bán ngay tại ruộng cho người thu gom: Cách này chiếm

khoảng 43,46% sản lượng.

+ Bán cho HTX: sau khi HTX có hợp đồng với đối tác thì HTX sẽ thu gom

rau từ các hộ trồng rau và các xã viên trong HTX để bán cho đối tác, hình thức này

chiếm đa số trong quyết định bán của hộ và nó chiếm tới 56,54% sản lượng bán.

Như vậy có thể thấy được rằng RAT của hộ chủ yếu được tiêu thụ bởi 2 nguồn đó là

người thu gom và HTX.

- Thanh toán:

Hình thức thanh toan chủ yếu là hoàn toàn bằng tiền mặt. Thanh toán ngày

sau khi giao hàng. Một số người thu gom mua tại ruộng thì có thể thanh toán sau

khi đã thu hoạch hết ruộng rau.

f. Chi phí, kết quả sản xuất của hộ sản xuất RAT

Chi phí sản xuất trung bình cho 1000kg rau của các hộ sản xuất RAT tại

xã Đông xuân là 2.842.600 đồng, trong đó thì chi phí sản xuất cho 1000kg cà

chua là cao nhất lên tới 3.377.900 đồng/1000kg. Trong tổng chi phí sản xuất thì

khoản chi phí cho lao động chiếm cao nhất lên tới 62,66%. Chi phí trung gian

chiếm 36,99%còn lại thấp nhất là chi phí cho hao mòn công cụ, dụng cụ lao

động với mức 0,35%trong tổng chi phí sản xuất 1000kg rau. Trong các loại rau

sản xuất thì công lao động là chi phí chiếm đa số và trong đó thì sản xuất



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×