Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN I. MỞ ĐẦU

PHẦN I. MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

định số 84/ QĐ - TT - CLT ban hành ngày 22/ 4/ 2008 Cục Trồng trọt - Bộ Nông

nghiệp và PTNT về việc chỉ định tổ chức chứng nhận rau an toàn theo VietGAP.

Rau an toàn được trồng ở các huyện ngoại thành Hà Nội từ những năm

1996, đặc biệt diện tích trồng rau phát triển mạnh từ sau năm 1999 khi thành phố

có chủ trương quy hoạch phát triển vùng sản xuất rau an toàn cung cấp cho thị

trường các quận nội thành. Một số xã như Văn Đức, Đặng Xá thuộc huyện Gia

Lâm, xã Vân Nội - Đông Anh, xã Lĩnh Nam - Thanh Trì và xã Thanh Xuân, Đông

Xuân thuộc huyện Sóc Sơn được chọn làm điểm sản xuất thí điểm. Cũng nhờ các

chủ trương này mà diện tích trồng rau đã tăng lên đáng kể. Trước những nhu cầu

tiêu thụ rau an toàn ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng như hiện nay đòi

hỏi huyện phải xây dựng hệ thống sản xuất rau an toàn theo hướng chuyên

nghiệp, đồng bộ hơn, góp phần đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm vì sức khỏe

người tiêu dùng. Tuy nhiên, việc phát triển sản xuất rau an toàn ở huyện vẫn còn

nhiều khó khăn.

Sóc Sơn là một huyện ngoại thành Thành phố Hà Nội, có diện tích tự nhiên

lớn thứ hai toàn thành phố (30.000 ha). Được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền

các cấp huyện Sóc Sơn, nhất là trong sản xuất nông nghiệp đã áp dụng tiến bộ khoa

học kỹ thuật, giống, phân bón.... đã xây dựng được mô hình sản xuất rau tập trung

tại 2 xã Thanh Xuân và Đông Xuân với diện tích hơn 200 ha. Vì vậy, sản xuất rau

của huyện Sóc Sơn những năm vừa qua đã đạt hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên hệ thống

thương mại, tiêu thụ còn yếu kém làm cho thương hiệu rau an toàn Đông Xuân vẫn

chưa được biết đến nhiều trên thị trường. Ngoài ra thì kênh phân phối rau an toàn

còn chưa đáp ứng nguồn cung ứng rau của xã, chưa hoàn thiện hệ thống chợ đầu

mối thu mua rau mà chủ yếu thông qua các tư thương để đưa rau sạch ra thị trường

Để thấy rõ được chuỗi giá trị rau an toàn Đông xuân cũng như một số giải pháp

đề xuất để hoàn thiện hơn nhằm đáp ứng được cung rau ra thị trường đảm bảo thu nhập

cũng như lợi nhuận phù hợp cho tất cả các bên tham gia vào trong chuỗi giá trị, chính

vì thế tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm rau an

toàn xã Đông Xuân, Sóc Sơn, TP Hà Nội”.



1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm rau an toàn của xã Đông Xuân, từ đó đưa

ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi mang lại lợi

ích hợp lý hơn cho các tác nhân tham gia chuỗi.

1.2.2 Mục tiêu cụ thê

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị sản phẩm

rau an toàn.

- Đánh giá thực trạng trong chuỗi giá trị rau an toàn xã Đông Xuân và phân

tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị rau an toàn.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa các tác nhân

trong chuỗi giá trị rau an toàn xã Đông Xuân.



1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu

1. Các tác nhân tham gia vào trong chuỗi 1. Có nhiều tác nhân trực tiếp và gián

giá trị.



tiếp đang tham gia vào trong chuỗi giá

trị rau an toàn xã Đông Xuân.



2. Tình hình sản xuất rau an toàn tại xã 2. Tại xã Đông Xuân rau an toàn được

Đông Xuân và các thành phần tham gia sản xuất và tiêu thụ hiệu quả với sự hoạt

vào trong chuỗi giá trị



động hiệu quả của các tác nhân trong

chuỗi giá trị rau an toàn tại xã Đông

Xuân

3. Các yếu tố như: văn hóa, chính sách,



3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá thông tin, thể chế,... có ảnh hưởng tích

trị rau an toàn tại xã Đông Xuân.



cực và tiêu cực tới chuỗi giá trị rau an

toàn tại xã Đông Xuân.

4. Đã có nhiều chính sách hỗ trợ giúp



4. Chính sách và chương trình phát triển hiệu quả cho phát triển ngành rau tại xã

rau an toàn tại xã Đông Xuân được thực Đông Xuân nhưng giá trị của rau mang

hiện như thế nào?



lại vẫn chưa cao cho nên cần thêm giải

pháp để nâng cao giá trị rau của các tác

nhân tham gia vào chuỗi giá trị rau tại

Đông Xuân.



1.4 Đối tượng và pham vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở khoa học về chuỗi giá trị, cơ sở lý thuyết và thực tiễn các

nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm Rau an toàn.

- Các nhân tố, tổ chức tham gia vào chuỗi gồm: người sản xuất, người thu

gom, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng.



1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung:

+ Lý thuyết cơ bản về chuỗi giá trị

+ Tình hình tiêu thụ và sản xuất rau tại xã Đông Xuân

+ Giá trị gia tăng của một đơn vị sản phẩm qua các tác nhân

+ Các tác nhân tham gia vào trong chuỗi giá trị

+ Các yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị rau tại xã Đông Xuân

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn xã Đông Xuân, huyện Sóc

Sơn, TP Hà Nội.

- Về thời gian: Dữ liệu và thông tin sử dụng trong nghiên cứu được thu thập

trong 3 năm từ 2010 – 2013.



PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Chuỗi giá trị sản phẩm, chuỗi giá trị rau an toàn

2.1.1.1 Khái niệm

Chuỗi giá trị nói đến cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phấm

(hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác

nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử

dụng. Tiếp đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi

hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi.

“Chuỗi giá trị”nghĩa là: Một chuỗi các quá trình sản xuất(các chức năng) từ

cung cấp các DV đầu vào cho một sản phấm cụ thể cho đến sản xuất, thu hái, chế

biến, marketing, và tiêu thụ cuối cùng ; “Sự sắp xếp có tổ chức, kết nối và điều phối

người sản xuất, nhà chế biến, các thương gia, và nhà phân phối liên quan đến một

sản phấm cụ thể”; “Một mô hình kinh tế trong đó kết hợp việc chọn lựa sản phấm

và công nghệ thích hợp cùng với cách thức tổ chức các đối tượng liên quan để tiếp

cận thị trường”.

Định nghĩa này có thể giải thích theo nghĩa hẹp hoặc rộng

- Theo nghĩa hẹp

Một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để

sản xuất ra một sản phấm nhất định. Các hoạt động này có thể gồm có: giai đoạn xây

dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân

phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi... vv . Tất cả những hoạt động này tạo thành một

“chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ

sung ‘giá trị’ cho thành phấm cuối cùng.

- Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng

Là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực

hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch

vụ...vv ) để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ. Chuỗi giá trị

rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên



kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến v.v...

Cách tiếp cận theo nghĩa rộng không xem xét các hoạt động do một doanh

nghiệp duy nhất tiến hành, mà nó xem xét cả các mối liên kết ngược và xuôi cho

đến khi nguyên liệu thô được sản xuất được kết nối với người tiêu dùng cuối cùng.

Trong phần còn lại của sách hướng dẫn này, cụm từ chuỗi giá trị sẽ chỉ được dùng

để chỉ định nghĩa rộng này.

2.1.1.2 Phân loại phương pháp nghiên cứu về chuỗi giá trị

Theo sự phân loại về khái niệm, có ba luồng nghiên cứu chính trong các tài

liệu về chuỗi giá trị:

-



Phương pháp filière



-



Khung khái niệm do Porter lập ra (1985)



-



Phương pháp toàn cầu do Kaplinsky đề xuất (1999), Gereffi

(1994; 1999; 2003) và Gereffi, và Korzeniewicz (1994).



Ứng dụng của các phương pháp đối với từng lĩnh vực áp dụng được thể hiện

qua bảng khái quát sau:

STT



PP Nghiên cứu



Ứng dụng

NC chuỗi giá trị về hệ thống



1



Phương pháp filière



sản xuất nông nghiệp

NC chuỗi giá trị về các công



2



Khung khái niệm do Porter lập ra



ty, các nhà máy sản xuất chế



(1985)

Phương pháp toàn cầu do Kaplinsky



biến

NC về chuỗi giá trị của các



đề xuất (1999), Gereffi (1994; 1999;



quốc gia, các nhà máy hội



2003) và Gereffi, và Korzeniewicz



nhập toàn cầu



3



(1994).

Trong khi phân tích sử dụng linh hoạt các phương pháp và cũng có thể kết

hợp cả 3 phương pháp trên để phân tích một chuỗi giá trị.

- Luồng tư tưởng nghiên cứu thứ nhất là phương pháp Filière (Filière nghĩa

là chuỗi, mạch) gồm các trường phái tư duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau.

Khởi đầu phương pháp này được dùng để phân tích hệ thống nông nghiệp của các

nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp (Browne, J. Harhen, J. &



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN I. MỞ ĐẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×