Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong năm 2002, quận Gò Vấp đã tiến hành lập báo cáo đề tài: “Nghiên cứu xây dựng cơ sở qui hoạch môi trường phát triển kinh tế - xã hội quận Gò Vấp” trong đó có chuyên đề: “Tiềm năng khai thác và ô nhiễm nước ngầm tại quận Gò Vấp”. Các báo cáo này có tiế

Trong năm 2002, quận Gò Vấp đã tiến hành lập báo cáo đề tài: “Nghiên cứu xây dựng cơ sở qui hoạch môi trường phát triển kinh tế - xã hội quận Gò Vấp” trong đó có chuyên đề: “Tiềm năng khai thác và ô nhiễm nước ngầm tại quận Gò Vấp”. Các báo cáo này có tiế

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tính toán trữ lượng nước dưới đất khu vực Gò Vấp –

Hóc Môn

- Tiến hành san lấp đúng kỹ thuật các giếng bỏ

hoang và tuyên truyền rộng rãi cách thức cũng như lợi ích

của việc làm này.

- Tiến hành đánh giá tác động môi trường do họat

động khai thác nước dưới đất tầng Pleistocen và Pliocen

trên. Từ cơ sở này đưa ra các biện pháp bảo vệ nguồn

nước thích hợp hơn.

- Tiến hành các biện pháp quản lý và xử lý nước

thải từ các nhà máy, cơ sở sản xuất trước khi thải vào

nguồn nước mặt để tránh làm ảnh hưởng đến chất lượng

nước dưới đất.

- Mở đợt tuyên truyền rộng rãi cho nhân dân hiểu rõ

tầm quan trọng của nước dưới đất và hiện trạng nguồn

nước ta đang sử dụng, để mọi người có ý thức và trách

nhiệm hơn trong việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài

nguyên nước.

- Uỷ ban nhân dân thành phố và quận sớm tăng

cường xử lý vi phạm trong việc khoan khai thác nùc dưới

đất. Có kế hoạch đào tạo cán bộ quản lý nguồn nước

từ thành phố, quận, huyện, phường xã và cần có kinh phí

cho công tác điều tra, nghiên cứu, bảo vệ nước dưới đất.

- Quy hoạch một cách hợp lý, nghiêm ngặt các khu

vực bãi thải, khu vực dễ nhiễm bẩn nhằm hạn chế gây ô

nhiễm cho các tầng chứa nước bên dưới đồng thời cũng

có biện pháp xử lý các nguồn ô nhiễm trên .

- Cần thực hiện đúng qui đònh khoảng cách từ các

giếng khoan khai thác tới nguồn ô nhiễm (nghóa trang, bãi

rác, hầm phân, ao hồ chứa nước thải công nghiệp, dân

GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ

106

SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550



Tính toán trữ lượng nước dưới đất khu vực Gò Vấp –

Hóc Môn

dụng, kêng rạch bò ô nhiễm …), phải xây dựng bệ giếng

bằng xi măng hoặc bê tông với chiều dày 0,5 – 1m để

bảo vệ giếng.

 Vấn đề khai thác hợp lý nước dưới đất:

- Cần có quy đònh cụ thể về quản lý việc khai thác

nước dưới đất phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất chặt chẽ

dựa trên những kết quả nghiên cứu đòa chất thủy văn

đã có. Ở quận đã có biểu hiện hạ thấp mực nước

ngầm nên cần hạn chế tăng lưu lượng khai thác và cho

phép khoan thêm giếng mới.

- Các công trình kinh tế, các dự án, các đề án có

liên quan đến việc khai thác nước dưới đất đều phải có

luận chứng kinh tế kỹ thuật chính xác và trung thực. Các

giếng dân dụng muốn khai thác cũng phải xin giấy phép.

- Hạn chế việc cấp giấy phép khoan các giếng mới,

tiến hành xử lý đúng kỹ thuật các giếng khai thác đã bò

hư hỏng hoặc có chất lượng nước quá xấu.



GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ

107

SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550



Tính toán trữ lượng nước dưới đất khu vực Gò Vấp –

Hóc Môn



KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Với mục đích của đề tài đã đặt ra: nghiên cứu, đánh

giá hiện trạng khai thác và tình trạng suy giảm chất lượng,

trữ lượng nước dưới đất; từ đó đề xuất các biện pháp

quản lý bảo vệ và khai thác hợp lý nước dưới đất khu

vực nghiên cứu. Đồ án đã làm rõ các khía cạnh sau:

- Khái quát chung về tình hình kinh tế, văn hóa và xã

hội của vùng nghiên cứu. Khu vực nghiên cứu thuộc nội

thành TP.HCM, tập trung đông dân cư. Nguồn nước dùng cho

sinh hoạt và sản xuất là từ nguồn nước cấp của thành

phố (chiếm 30%) và chủ yếu là từ nguồn nước dưới đất

(chiếm 70%).

- Đặc điểm đòa chất, đòa chất thủy văn:

+ Về đòa chất: vùng nghiên cứu có các đơn vò đòa

chất sau: giới Mezozoi (Mz), giới Kainozoi (Kz). Nước dưới đất

của vùng nghiên cứu tập trung ở các trầm tích thuộc giới

Kainozoi (Kz).

+ Về đòa chất thủy văn: vùng nghiên cứu có các

đơn vò chứa nước sau: tầng Holocen (qh), tầng Pleistocen (qp),

tầng Pliocen trên ( n22 ), tầng Pliocen dưới ( n12 ), trầm tích

Mezozoi (Mz). Nước dưới đất khu vực nghiên cứu được khai

thác từ 2 tầng chứa nước: Pleistocen và Pliocen trên.

- Hiện trạng khai thác nước dưới đất: Đối với tầng

Pleistocen, năm 1999, tổng lưu lượng khai thác là 31.191

GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ

108

SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550



Tính toán trữ lượng nước dưới đất khu vực Gò Vấp –

Hóc Môn

m3/ngày với 11.947 giếng. Năm 2002, số giếng giảm còn

10.102 giếng. Ở tầng Pliocen trên, tổng lưu lượng khai thác

ở tầng Pliocen trên là 33.839 m3/ngày đêm với 34 giếng.

- Tác động của kinh tế – kỹ thuật trong đó có khai

thác nước dưới đất tới nguồn nước:

Ở Gò Vấp:

+ Về trữ lượng: có sự thay đổi chiều sâu mực nước

của tầng Pleistocen khá rõ qua các số liệu của trạm GMS6.

Hiện nay mực nước ở độ sâu sâu nhất là 11,53m (lỗ 6C)

+ Về chất lượng: các tầng khai thác đều cho thấy

độ pH không đạt TCCP, có dấu hiệu nhiễm bẩn bởi các

hợp chất nitơ, sắt, vi sinh. Nhiễm bẩn sắt chủ yếu diễn ra

ỡ những vùng trũng (dọc theo sông Bến Cát). Nhiễm bẩn

nitơ và vi sinh chưa nghiêm trọng.

- Các bất cập về nguồn nước dưới đất của vùng

nghiên cứu hiện nay là tình trạng suy thoái cả về chất

lượng và trữ lượng. Do đó, vấn đề quan trọng cần thực

hiện là phải tăng cường công tác quản lý của nhà

nước thông qua các việc làm thiết thực như đã nêu ở

trên.

Ở Hóc Môn:

+ Sự nhiễm phèn: hầu hết không có dấu hiệu nhiễm

phèn sắt, tuy nhiên vẫn có những vùng nhiễm phèn cục

bộ , phân bố thành những khoảng nhỏ, ở các độ sâu

khác nhau.

+ Sự nhiễm mặn: vùng chưa có dấu hiệu nhiễm mặn.



GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ

109

SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550



Tính toán trữ lượng nước dưới đất khu vực Gò Vấp –

Hóc Môn

+ Sự nhiễm bẩn: có dấu hiệu nhiễm bẩn ở khu vực

tập trung dân cư đông đúc, ở các nghóa trang hay những

bãi rác tập trung, đặc biệt bãi rác Đông Thạnh (Hóc

Môn) ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nước dưới đất.

Nhiễm bẩn Amonium (NH4+): Các giếng bò nhiễm bẩn

do



nằm trong vùng có nhiều nguồn nước thải dễ bò ô



nhiễm như các khu công nghiệp , các bãi rác. Đặc biệt là

những nơi lấy rác như tại bãi rác Đông Thạnh (huyện Hóc

Môn) hàm lượng NH4+



thay đổi từ 0.484 – 3.317 mg/l , đã



vượt quá giới hạn cho phép , thậm chí còn có những chỗ

cao hơn rất nhiều so với chỉ tiêu cho phép.

Nhiễm bẩn Nitrit (NO22- ): số lượng giếng bò nhiễm bẩn

tập trung ở huyện Hóc Môn phân bố ở những nơi tập

trung dân cư đông đúc và tập trung lượng chất thải lớn

của thành phố, nhưng nhìn chung toàn vùng vẫn chưa có

dấu hiệu nhiễm bẩn.

Nhiễm bẩn Nitrat (NO3- ): khu vực bò nhiễm bẩn chủ yếu

ở khu vực bãi rác Đông Thạnh với hàm lượng NO 3- từ 5.0145mg/l.

Nhiễm bẩn Hydro Sunfua (H2S) :Các giếng khai thác

nước dưới đất tầng Pliestocen khu vực nghiên cứu có xuất

hiện khí H2S tại khu vực bãi rác Đông Thạnh.

Nhiễm bẩn vi sinh :nước dưới đất bò nhiễm bẩn

không nhiều, đa số tập trung ở bãi rác Đông Thạnh.

Do thời gian thực hiện đề tài hạn chế, tài liệu có

liên quan đến đề tài ít và phức tạp. Do đó, đồ án khó

tránh khỏi những hạn chế nhất đònh cụ thể như:



GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ

110

SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550



Tính toán trữ lượng nước dưới đất khu vực Gò Vấp –

Hóc Môn

- Sự thay đổi chất lượng nước và mực nước dưới đất

chưa được chi tiết vì toàn Gò Vấp chỉ có một trạm quan

trắc chính (GMS6)

- Tài liệu nghiên cứu chất lượng nước là sự tổng hợp

các tài liệu



của các công trình khai thác trong khu vực



nghiên cứu. Sự quy chuẩn của tài liệu và chuỗi tài liệu

mang tính thời gian rất hạn chế. Do đó kết quả của đề tài

chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của công tác quản

lý.

Vì những lý do trên, xin kiến nghò một số công tác

cần làm để tăng tính hiệu quả của đề tài:

- Tăng cường các trạm quan trắc động thái nước dưới

đất đồng thời thu thập và theo dõi thêm các tài liệu tại

các công trình khai thác.

- Tiến hành một số đề tài nghiên cứu thêm về

nguồn gốc, hướng đi chính của các chất ô nhiễm đặc biệt

là các hợp chất của nitơ.



GVHD : PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ

111

SVTH : Nguyễn Thò Ngọc Thùy – MSSV : 30402550



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong năm 2002, quận Gò Vấp đã tiến hành lập báo cáo đề tài: “Nghiên cứu xây dựng cơ sở qui hoạch môi trường phát triển kinh tế - xã hội quận Gò Vấp” trong đó có chuyên đề: “Tiềm năng khai thác và ô nhiễm nước ngầm tại quận Gò Vấp”. Các báo cáo này có tiế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×