Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II.1 Cơ sở lý luận

II.1 Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

nghiệm, tiến hành lại thí nghiệm, hiện tượng, q trình vật lí phải diễn ra

trong thí nghiệm giống nhau như các lần thí nghiệm trước đó.

II.1.3 Các chức năng của thí nghiệm trong dạy học vật lí

Theo quan điểm của lý luận nhận thức, trong dạy học vật lí ở trường

phổ thơng, thí nghiệm vật lí có các chức năng sau:

- Thí nghiệm vật lí là phương tiện của việc thu nhận tri thức (nguồn trực tiếp của

tri thức).

- Thí nghiệm vật lí là phương tiện để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức đã

thu được.

- Thí nghiệm vật lí là phương tiện của việc vận dụng tri thức đã thu được vào

thực tiễn.

- Thí nghiệm vật lí là một bộ phận của các phương pháp nhận thức vật

lý.

II.1.4. Các chức năng của thí nghiệm theo quan điểm lý luận dạy học

Thí nghiệm có thể sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình

dạy học.

- Giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu.

- Giai đoạn hình thành kiến thức mới.

- Quá trình củng cố kiến thức, kĩ năng của học sinh.

- Kiểm tra, đánh giá kiến thức và kĩ năng của học sinh.

+ Thí nghiệm là phương tiện góp phần phát triển nhân cách tồn diện của

học sinh.

- Thí nghiệm là phương tiện để nâng cao chất lượng kiến thức và rèn

luyện kĩ năng, kĩ xảo về vật lí của học sinh.

- Thí nghiệm là phương tiện kích thích hứng thú học tập vật lí, tổ chức

q trình học tập tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh.

- Thí nghiệm là phương tiện tổ chức các hình thức làm việc tập thể

khác nhau, bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức của học sinh.

+ Thí nghiệm là phương tiện đơn giản hố và trực quan trong dạy học

vật lí.



5



II.1.5. Thí nghiệm biểu diễn là gì?

- Thí nghiệm biểu diễn là thí nghiệm được giáo viên tiến hành ở trên

lớp, trong các giờ học nghiên cứu kiến thức mới và có thể ở các giờ học củng

cố kiến thức của học sinh.

II.1.6 Phân loại thí nghiệm biểu diễn

Căn cứ vào mục đích lý luận dạy học của thí nghiệm biểu diễn trong

q trình nhận thức của học sinh, thí nghiệm biểu diễn gồm ba loại sau:

- Thí nghiệm mở đầu là thí nghiệm nhằm giới thiệu cho học sinh biết

qua về hiện tượng sắp nghiên cứu, để tạo tình huống có vấn đề, tạo nhu cầu

hứng thú học tập của học sinh, lôi cuốn học sinh vào hoạt động nhận thức.

- Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng là thí nghiệm nhằm xây dựng nên

hoặc kiểm chứng lại kiến thức mới, được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu

kiến thức mới. Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng bao gồm:

+ Thí nghiệm nghiên cứu khảo sát là thí nghiệm nhằm cung cấp các cứ

liệu thực nghiệm để từ đó khái qt hố quy nạp, kiểm tra được tính đúng đắn

của giả thuyết hoặc hệ quả lơgic rút ra từ giả thuyết đã đề xuất, giải quyết

được vấn đề xuất hiện ở đầu giờ học, từ đó xây dựng nên kiến thức mới.

+Thí nghiệm nghiên cứu minh hoạ là thí nghiệm nhằm kiểm chứng lại

kiến thức đã được xây dựng bằng con đường lý thuyết, dựa trên những phép

suy luận lơgic chặt chẽ (trong đó có suy luận tốn học).

- Thí nghiệm củng cố là thí nghiệm nêu lên những biểu hiện của kiến

thức đã học trong tự nhiên, đề cập các ứng dụng của kiến thức này trong sản

xuất và đời sống, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức đã học để dự đoán

hoặc giải thích hiện tượng hay cơ chế hoạt động của các thiết bị, dụng cụ kĩ

thuật. Thơng qua đó, giáo viên cũng có thể kiểm tra được mức độ nắm vững

kiến thức của học sinh.



6



Thí nghiệm củng cố có thể được sử dụng trong các tiết học nghiên cứu

kiến thức mới hay cả trong những giờ luyện tập và hệ thống hoá kiến thức đã

học.

II.1.7 Những yêu cầu về mặt kĩ thuật và về mặt phương pháp đối với việc sử

dụng thí nghiệm biểu diễn trong dạy học

Việc sử dụng thí nghiệm biểu diễn phải tránh tình trạng lạm dụng thí

nghiệm, chỉ sử dụng thí nghiệm như là một sự trình diễn đơn thuần và phải

tuân thủ các yêu cầu của việc đặt kế hoạch thí nghiệm, chuẩn bị thí nghiệm,

bố trí thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm và xử lý kết quả thí nghiệm.

a. Các yêu cầu trong việc đặt kế hoạch thí nghiệm

- Xác định chính xác mục đích của thí nghiệm cần phải tiến hành và

chức năng lý luận dạy học của nó (đề xuất vấn đề cần nghiên cứu, hình thành

kiến thức mới, củng cố hay kiểm tra đánh giá).

- Xác định các nhiệm vụ mà học sinh cần phải hồn thành trong việc

chuẩn bị thí nghiệm, trong việc tiến hành thí nghiệm và trong việc xử lý kết quả

thí nghiệm.

- Từ mục đích thí nghiệm và vị trí của nó trong q trình nhận thức của

học sinh, lựa chọn phương án thí nghiệm cần biểu diễn đáp ứng các đòi hỏi sư

phạm: tính trực quan (các dụng cụ phải có kích thước đủ lớn để cả lớp nhìn

rõ, có cấu tạo đơn giản, thể hiện rõ được nguyên tắc khoa học của hiện tượng

cần nghiên cứu, có màu sắc thích hợp, hình dạng đẹp đẽ lơi cuốn sự chú ý của

học sinh, nhất là ở những chi tiết chính, trên đó biểu hiện kết quả thí nghiệm;

bố trí thí nghiệm sáng sủa, dễ hiểu, có thể nhận thấy rõ ràng kết quả thí

nghiệm, loại bỏ được một cách tối đa các hiện tượng khơng muốn), tính hiệu

quả (các dụng cụ là tối thiểu, hoạt động tốt, có độ chính xác cao; ưu tiên thí

nghiệm đơn giản, thí nghiệm có tiến hành nhanh chóng; sử dụng thí nghiệm

song song), tính an tồn (dụng cụ, cách bố trí và tiến hành thí nghiệm phải

đảm bảo an tồn cho người và dụng cụ, bố trí thí nghiệm vững chắc, có thể di

chuyển dễ dàng) và đặt kế hoạch tiến hành một chuỗi các thí nghiệm sao cho



7



có đủ cứ liệu để khát qt hố, trong đó có việc xác định thời điểm sử dụng,

thời gian cần thiết cho mỗi thí nghiệm trong giờ học.

b. Các yêu cầu trong việc chuẩn bị thí nghiệm

- Nghiên cứu kĩ lưỡng tính năng của các dụng cụ thí nghiệm đã được

lựa chọn và sử dụng thành thạo chúng.

- Trước giờ học, phải kiểm tra sự hoạt động của các dụng cụ sẽ sử dụng

và thử nghiệm lại các thí nghiệm sẽ tiến hành, dù là thí nghiệm đơn giản nhất,

kịp thời thay thế những bộ phận hỏng hóc.

Cơng việc chuẩn bị thí nghiệm chỉ kết thúc khi thí nghiệm có thể lặp lại

nhiều lần, cho kết quả rõ ràng, đơn trị.

c. Các yêu cầu trong việc bố trí thí nghiệm

Bố trí thí nghiệm phải đảm bảo sao cho mọi học sinh từ vị trí ngồi trong

lớp học đều nhìn rõ mọi dụng cụ, độ lệch của kim chỉ các dụng cụ đo, đẹp về

thẩm mỹ. Muốn vậy, cần thực hiện các yêu cầu sau:

- Lắp ráp từng bước các dụng cụ trong thí nghiệm trước mắt học sinh.

Trong trường hợp không cho phép, phải lắp ráp hồn chỉnh trước giờ học thì

cần phải phân tích kỹ lưỡng cách nối kết các bộ phận với học sinh.

- Những thiết bị học sinh gặp lần đầu, phải mơ tả, giải thích cho học

sinh hiểu rõ nguyên tắc hoạt động của chúng.

- Chỉ đặt trên bàn những dụng cụ cần thiết cho thí nghiệm.

- Bố trí các dụng cụ thí nghiệm trên nhiều độ cao khác nhau. Bố trí thí

nghiệm thẳng đứng (có thể sử dụng các giá, bảng sắt), nếu phải bố trí thí

nghiệm trên mặt phẳng nằm ngang thì phải sử dụng các phương pháp chiếu

sáng (gương phẳng lớn đặt nghiêng 45o để học sinh quan sát ảnh thẳng đứng

trong gương, đèn chiếu sáng, camera). Thay đổi độ sáng của phòng học, nhất

là khi tiến hành các thí nghiệm quang hình học.

- Cần sắp xếp các dụng cụ mà ở đó hiện tượng mong muốn sẽ diễn ra

nằm bên phải các dụng cụ khác, các dụng cụ chính ở mặt trước, khơng che

khuất nhau, các bộ phận của thiết bị phải nằm cạnh nhau.



8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II.1 Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×