Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu

dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…”

1.1.2. Quan niệm cơ bản của Đảng và Nhà nước về đất đai

1.1.2.1. Từ khi thành lập Đảng đến năm 1945

Những năm thập niên 20, đất nước ta bị kẻ thù thực dân Pháp xâm lược và

bè lũ bọn vua quan thối nát, đất nước ta chìm trong màn đêm nô lệ, đời sống của

nhân dân ta vô cùng cơ cực. Ngày 3 tháng 2 năm 1930 Đảng ta ra đời, mặc dù

hoạt động trong điều kiện vô cùng sáng suốt trong đó có chủ trương và chính sách

về ruộng đất hết sức kịp thời. Đảng ta đã nêu lên khẩu hiệu“ Tịch thu ruộng đất

của bọn địa chủ ngoại quốc, bổn sứ và các giáo hội, giao ruộng đất cho trung và

bần nông”. Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, cách mạng ruộng đất được đặt

thành một trong những nhiệm vụ quan trọng gắn liền với công cuộc giải phóng

dân tộc.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành được thắng lợi, chúng ta có thể nói

là chủ trương đường lối ruộng đất đúng đắn của Đảng đã trở thành vũ khí, sức

mạnh sắc bén góp phần đắc lực đưa cách mạng đi đến thành công.

1.1.2.2. Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1993

Đất đai là một trong hai mục tiêu quan trọng nhất của cuộc Cách mạng Dân

tộc Dân chủ Nhân dân do Đảng ta lãnh đạo: “đánh đuổi thực dân để giải phóng

đất nước và đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến đem lại ruộng đất cho dân

cày”. Ngày 03/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh: “Toàn dân tăng gia

sản xuất nông nghiệp” và “khẩn cấp chấn hưng nơng nghiệp” để chống đói, giải

quyết tình hình trước mắt cho nhân dân, hàng loạt Thông tư, Nghị định của Bộ

Quốc dân Kinh tế và Sắc lệnh của Chủ tịch Nước đã ban hành nhằm tăng cường



4



hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Nhân dân ta đã sử dụng đất thuộc các đồn điền

vắng chủ, khai khẩn đất hoang để tăng gia sản xuất cứu đói.

Ngày 18/6/1949, thành lập Nha Địa chính trong bộ Tài chính và tập trung

làm thuế nông nghiệp phục vụ cho kháng chiến.

Ngày 14/12/1953 Quốc hội đã thông qua “Luật cải cách ruộng đất” thực hiện

triệt để khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Theo Hiến pháp 1946, quyền sở hữu đất

đai được đảm bảo, ruộng đất chia đều cho dân cày, người cày được canh tác trên

thửa đất của mình. Trong giai đoạn 1955–1959, cơ quan quản lý đất đai ở Trung

ương được thành lập ( ngày 3 tháng 7 năm 1958 ) thuộc Bộ Tài chính với chức

năng chủ yếu là quản lý diện tích ruộng đất để thu thuế nơng nghiệp. Ngày

05/5/1958 có Chỉ thị 334/TTg của Thủ tướng chính phủ cho tái lập hệ thống địa

chính trong Bộ Tài chính và UBND các cấp để làm nhiệm vụ đo đạc lập bản đồ

giải thửa và hồ sơ địa chính.

Vào năm 1979 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định thành lập Tổng

cục Quản lý Ruộng đất thuộc Chính phủ và các cơ quan quản lý ruộng đất ở địa

phương trực thuộc Ủy ban nhân dân các cấp.

Giai đoạn 1980 – 1991 được mở đầu bằng Hiến Pháp 1980, trong đó đảm

bảo thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần kinh tế: Kinh

tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể.

Hiến pháp đã quy định toàn bộ đất đai và tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu

toàn dân được Nhà nước thống nhất quản lý bằng pháp luật và quy hoạch. Thủ

tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 về việc triển khai đo đạc

giải thửa nhằm nắm lại quỹ đất trên toàn quốc, đáp ứng nhu cầu quản lý và sử

dụng đất đai trong giai đoạn mới.



5



Đầu năm 1981, Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư Trung

ương Đảng về mở rộng khốn sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động

trong hợp tác xã nông nghiệp. Tiếp theo, Đại hội Đảng khóaVI năm 1986 đã đưa

vấn đề lương thực - thực phẩm trở thành một trong ba chương trình mục tiêu đổi

mới kinh tế. Năm 1987 Luật Đất đai lần đầu tiên của nước ta được ra đời, có hiệu

lực từ năm 1988. Dấu mốc tiếp theo có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh

tế nông nghiệp là Nghị Quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 5/4/1989, một

văn kiện quyết định nhằm đổi mới chế độ sử dụng đất nông nghiệp. Nghị Quyết

đã khẳng định việc chuyển nền nông nghiệp tự cung tự cấp theo hướng sản xuất

hàng hóa. Đây là những bước đi có tính then chốt nhằm phát triển kinh tế hộ gia

đình ở nơng thơn trên cơ sở Nhà nước giao đất cho hộ gia đình cá nhân sử dụng

ổn định, lâu dài.

Để triển khai Luật Đất đai 1987, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị

quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VII, Ủy ban Thường vụ Quốc

hội đã phê chuẩn hai Pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành một Nghị định, Thủ

tướng Chính phủ đã có một Chỉ thị. Tổng cục Quản lý Ruộng đất đã ban hành

một số Quyết định và Thông tư hướng dẫn.

Hiến pháp 1992 ra đời, trong đó quy định rõ chế độ sở hữu và quản lý đất

đai: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân ” (Điều 17), “ Nhà nước thống nhất quản lý

toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và

có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu

dài. Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng

tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định

của pháp luật ” (Điều 18).



6



1.1.2.3. Thời kỳ từ 1993 đến nay

Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Luật Đất đai năm 1993 ( bao gồm cả Luật

sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và Luật sửa đổi bổ sung

một số điều của Luật Đất đai năm 2001 ) là một trong những đạo luật quan trọng

thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Những kết quả đạt được

trong việc thực hiện Luật Đất đai năm 1993 là tích cực, thúc đẩy phát triển kinh

tế, góp phần ổn định chính trị - xã hội.

Tuy nhiên trước tình hình phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội, pháp

luật về đất đai đã bộc lộ những hạn chế như: Pháp luật đất đai chưa xác định nội

dung cốt lõi của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước thống nhất quản

lý, vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân của Nhà nước chưa xác định trong Luật

Pháp luật đất đai chưa theo kịp tiến trình chuyển đổi nền kinh tế thị trường định

hướng XHCN và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, chưa có đủ các

chế định cần thiết về định giá đất, về điều tiết địa tô chênh lệch, về điều tiết lợi

nhuận qua việc chuyển nhựơng quyền sử dụng đất, về bồi thường khi thu hồi đất,

về đấu thầu, đấu giá quyền sử dụng đất v.v…

Để khắc phục những thiếu sót nêu trên, thực hiện Nghị quyết số:

12/2001/QH11 về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh cúa Quốc hội khóa XI

(2002 – 2007), tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thơng qua Luật Đất đai

2003 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01/07/2004. Luật đã khẳng định: “Đất đai

thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

Vai trò của QLNN về đất đai được nâng lên một bậc, việc phân cấp quyền hạn,

chức năng QLNN của từng cấp được xác định rõ ràng hơn. Đất đai được quản lý

chặt chẽ và sử dụng hợp lý hơn, mang lại hiệu quả kinh tế hơn.

Đất đai là tài nguyên đặc biệt, trước hết bởi đất đai có nguồn gốc tự nhiên, là

7



tặng vật tự nhiên dành cho con người, tiếp đến mới là thành quả do tác động khai

phá của con người. Cái tính chất vô cùng đặc biệt của đất đai là ở chỗ tính chất tự

nhiên và tính chất xã hội đan quyện vào nhau; nếu khơng có nguồn gốc tự nhiên,

thì con người dù có tài giỏi đến đâu cũng khơng tự mình (dù là sức cá nhân hay

tập thể) tạo ra đất đai được. Con người có thể làm ra nhà máy, lâu đài, công thự

và sản xuất, chế tạo ra muôn nghìn thứ hàng hố, sản phẩm, nhưng khơng ai có

thể sáng tạo ra đất đai. Do đó, quyền sở hữu, định đoạt, sử dụng đất đai, dù Nhà

nước hay người dân cũng cần phải hiểu đặc điểm, hết sức đặc biệt ấy.

Đất đai q giá còn bởi con người khơng thể làm nó sinh sản, nở thêm,

ngồi diện tích tự nhiên vốn có của quả đất. Khi chúng ta nói đất đai là hàng hố,

dù có thêm hai chữ đặc biệt vào đó, thì cũng khơng lột tả được hết tính chất đặc

biệt của đất đai cả về phương diện tự nhiên cũng như xã hội. Vì thế, sự ứng xử

với vấn đề đất đai trong hoạt động quản lý khơng thể được đơn giản hố, cả trong

nhận thức cũng như trong hành động ( Trích trong bài viết “Quản lý đất đai những khía cạnh đặc thù”- của Đ/C Phạm Quang Nghị: Uỷ viên Bộ chính trị, Bí

thư Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam ).

1.1.3. Khái niệm QLNN về đất đai

Quản lý là sự tác động có định hướng lên một hệ thống bất kỳ, nhằm trật tự

hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy định nhất định.

Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi của nhà nước, đó là sự tác động có

tổ chức và điều khiển quyền lực của nhà nước bằng pháp luật đối với các quá

trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì phát triển các mối quan

hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ trong

công cuộc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc của các cơ quan

nhà nước trong hệ thống từ Trung ương đến địa phương.

8



Quản lý nhà nước về đất đai là nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng cơ bản

của đất đai nhằm nắm chắc về số lượng, chất lượng từng loại đất ở từng vùng,

từng địa phương theo đơn vị hành chính ở mỗi cấp để thống nhát về quy hoạch kế

hoạch, sử dụng khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên đất đai trong cả nước

từ Trung ương tới địa phương làm cho người sử dụng đất hiểu được pháp luật và

thực hiện nghiêm túc, đúng pháp luật về đất đai.

Quản lý nhà nước về đất đai là sự tác động có tổ chức và điều khiển quyền

lực của Nhà nước bằng pháp luật đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt

động của con người trong lĩnh vực đất đai, nhằm duy trì phát triển các mối quan

hệ xã hội, trật tự pháp luật đất đai và thực hiện tốt những chức năng, nhiệm vụ

QLNN về đất đai trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

1.1.4. Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc QLNN về đất đai

1.1.4.1. Mục đích

- Bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền lợi hợp

pháp của người sử dụng.

- Bảo đảm sử dụng vốn đất hợp lý của nhà nước.

- Tăng cường hiệu quả kinh tế sử dụng đất.

- Bảo vệ đất, cải tạo đất và bảo vệ môi trường sống.

1.1.4.2. Yêu cầu

Phải đăng ký thống kê đất để nhà nước nắm chắc được toàn bộ diện tích,

chất lượng đất đai ở mỗi đơn vị hành chính.

1.1.4.3. Nguyên tắc

Đối tượng quản lý đất đai là tài nguyên đất đai cho nên quản lý nhà nước về

đất đai phải đảm bảo các nguyên tắc sau:



9



- Phải quản lý tồn bộ vốn đất đai hiện có của quốc gia, không được quản lý

lẻ tẻ từng vùng.

- Nội dung tài liệu quản lý không phụ thuộc vào mục đích sử dụng.

- Số liệu quản lý đất đai phải bao hàm cả số lượng, chất lượng, loại, hạng

phục vụ cho múc đích sử dụng của loại đó.

- Quản lý đất đai phải thể hiện theo hệ thống và phương pháp thống nhất

trong toàn quốc.

- Những quy định biểu mẫu phải được thống nhất trong cả nước, trong ngành

địa chính.

- Số liệu so sánh không chỉ theo từng đơn vị nhỏ mà phải được thống nhất so

sánh trong cả nước.

- Tài liệu trong quản lý phải đơn giản phổ thông trong cả nước.

- Những điều kiện riêng biệt phải được tổng hợp ở phần phụ lục để nhà nước

đầu tư cái chung và cái riêng của mỗi vùng.

- Quản lý đất đai phải khách quan chính xác, đúng những kết quả số liệu

nhận được từ thực tế.

- Tài liệu quản lý đất đai phải đảm bảo tính pháp luật, phải đầy đủ, đúng thực

tế.

- Quản lý nhà nước về đất đai phải dựa trên cơ sở pháp luật, luật đất đai, các

biểu mẫu, văn bản quy định hướng dẫn của nhà nước và cơ quan chuyên môn từ

trung ương đến cơ sở.

- Quản lý đất đai phải tuân theo nguyên tắc tiết kiệm mang lại hiệu quả kinh

tế cao.



10



1.1.5. Các nội dung QLNN về đất đai

Là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước về đất đai. Đó là các hoạt

động trọng việc nắm và quản lý tình hình sử dụng đất đai, trong việc phân bổ đất

đai vào các mục đích sử dụng đất theo chủ trương của Nhà nước, trong việc kiểm

tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai.

Muốn đạt được mục tiêu quản lý, Nhà nước cần phải xây dựng hệ thống cơ

quan quản lý đất đai có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng để thực thi có hiệu quả trách

nhiệm được Nhà nước phân công, đồng thời ban hành các chính sách, chế độ, thể

chế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước đáp ứng được nội dung

quản lý nhà nước về đất đai. Điều này thể hiện chức năng của Nhà nước xã hội

chủ nghĩa là quản lý mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội trong đó có quản lý đất đai.

Mục đích cuối cùng của Nhà nước và người sử dụng đất là làm sao khai thác tốt

nhất tiềm năng của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu kinh tế, xã hội của đất

nước. Vì vậy, đất đai cần phải được thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp

luật.

1.1.5.1. Luật Đất đai 1987

Ra đời đánh dấu bước tiến quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về

đất đai ở Việt Nam. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai của Luật này được quy

định tại Điều 9, bao gồm:

- Điều tra, khảo sát, đo đạc, phân hạng đất đai và lập bản đồ địa chính.

- Quy hoạch, kế hoạch hóa việc sử dụng đất.

- Quy định các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực

hiện các chế độ, thể lệ ấy.

- Giai đất và thu hồi đất.



11



- Đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai, cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất.

- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai.

- Giải quyết tranh chấp đất đai.

Luật Đất đai 1987 mới chỉ giải quyết mối quan hệ hành chính về đất đai giữa

Nhà nước (tư cách là chủ sở hữu) với người sử dụng đất. Do đó, nội dung quản lý

nhà nước về đất đai khơng có những nội dung về đánh giá đất, kinh tế đất, cho

thuê đất... Do không thừa nhận đất có giá nên Nhà nước nghiêm cấm chuyển dịch

đất đai dưới mọi hình thức. Những quy định này làm cho quan hệ đất đai không

được vận động theo hướng tích cực.

1.1.5.2. Luật Đất đai 1993

Ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/1993. Đây là một trong những

luật quan trọng thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Những kết

quả đạt được trong việc thực hiện Luật Đất đai 1993 là tích cực, thúc đẩy phát

triển kinh tế, góp phần ổn định tình hình chính trị - xã hội của đất nước.

Nội dung quản lý nhà nước về đất đai được quy định tại Luật Đất đai 1993

bao gồm:

- Điều tra, khao sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính.

- Quy hoạch, kế hoạch hóa việc sử dụng đất.

- Ban hành các văn bản về đất đai và tổ chức thực hiện.

- Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất.

- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý các hợp đồng sử

dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai.



12



- Giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo vi phạm về quản lý, sử dụng

đất đai.

Luật đất đai 1993 đã thừa nhận đất có giá và cho phép được chuyển nhượng

quyền sử dụng đất, đồng thời Nhà nước đã xây dụng hệ thống các văn bản pháp

quy, tạo hành lang pháp lý cho quan hệ đất đai vận động tích cực.

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong giai đoạn cơng nghiệp

hóa – hiện đại hóa, đất đai đã trở thành nguồn nội lực quan trọng tạo nên hiệu quả

nền kinh tế đất nước. Nội dung của Luật Đất đai 1993 chưa đủ cơ sở pháp lý để

phù hợp với hoàn cảnh mới.

1.1.5.3 Luật Đất đai năm 2003

Ra đời có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2004 và hiện nay gọi là Luật Đất

đai hiện hành. Luật này chi tiết hơn và đưa ra nhiều nội dung đổi mới. Nội dung

quản lý nhà nước về đất đai gồm 13 nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 6:

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ

chức thực hiện các văn bản đó.

- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập

bản đồ hành chính.

- Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ

hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.

- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng

đất.

- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất.

- Thống kê, kiểm kê đất đai.

13



- Quản lý tài chính về đất đai.

- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất

động sản.

- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và

xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.

- Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm trong

việc quản lý và sử dụng đất đai.

- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.

So với các Luật Đất đai trước đây, nội dung quản lý nhà nước về đất đai của

Luật Đất đai 2003 được bổ sung, đổi mới ở các nội dung.

1.1.6. Vai trò của QLNN về đất đai trong chế độ sở hữu toàn dân ở nước ta

Quản lý Nhà nước về đất đai có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển kinh

tế, xã hội, và đời sống nhân dân. Cụ thể là:

- Thông qua hoạch định chiến lược, quy hoạch, lập kế hoạch phân bổ đất đai

có cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho mục đích kinh tế, xã hội của đất nước; bảo

đảm sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, đạt hiệu quả cao. Giúp cho Nhà nước

quản lý chặt chẽ đất đai, giúp cho người sử dụng đất cú cỏc biện pháp hữu hiệu để

bảo vệ và sử dụng đất đai có hiệu quả.

- Thông qua công tác đánh giá phân hạng đất, Nhà nước quản lý toàn bộ đất

đai về số lượng và chất lượng để làm căn cứ cho các biện pháp kinh tế - xã hội có

hệ thống, có căn cứ khoa học nhằm sử dụng đất có hiệu quả.

- Thơng qua việc ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai (văn bảo

luật và dưới luật) tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi chính đánh của các tổ

chức kinh tế, các doanh nghiệp, cá nhân trong những quan hệ về đất đai.

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×