Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN, GIỮ GÌN TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN, GIỮ GÌN TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN

Tải bản đầy đủ - 0trang

hợp các chủ trương và hành động về nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn

truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính phủ, bao gồm các mục tiêu mà

chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực thi các mục tiêu đó. Những mục tiêu

này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội đối với

đời song của đồng bào dân tốc thiểu số.

Như vậy, chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền

thống văn hóa người dân tộc thiểu số là chính sách do các cơ quan ở trung ương và địa

phương ban hành nhằm ngân cao đời sống kinh tế, vật chất và cải thiện đời sống văn

hóa, tinh thần cho người dân tộc hướng tới giữ gì truyền thống văn hóa và bản sắc cho

các tộc người thiểu số, phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất

nước



1.1.2. Nguyên tắc phân tích chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh

thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số

Chính sách là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và các công cụ mà

Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể KT – XH nhằm giải quyết vấn đề nhằm

thực thi những mục tiêu nhất định. Chính vì vậy, phân tích chính sách nâng cao đời

sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số cần

dựa trên những nguyên tắc sau:

Thứ nhất, phân tích phân tích chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần,

giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số có thể liên quan đến lĩnh

vực nghiên cứu chính sách khi so sánh về phạm vi nghiên cứu, phân tích ngun nhân

hình thành một chính sách công (phát hiện và giải quyết vấn đề công), hay việc điều

chỉnh chính sách. Từ góc độ này, phân tích chính sách rất gần với nghiên cứu chính

sách, ở chỗ kết quả phân tích có thể chỉ là những khuyến nghị chính sách gián tiếp,

mà khơng tập trung vào việc thiết kế, đề xuất các hành động chính sách (policy

actions).

Thứ hai, là cách tiếp cận phân tích phân tích chính sách nâng cao đời sống vật

chất và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số dựa trên mục

đích phân tích. Chuyên gia phân tích căn cứ vào các kết quả phân tích để đưa ra những

đề xuất, “lời khuyên” thuyết phục cho các nhà hoạch định chính sách. Ở đây, phân tích

chính sách nghiêng về thực hành, với những đòi hỏi cao về kỹ năng phân tích, thiết kế

chính sách, vừa là khoa học, cũng vừa là nghệ thuật.



Phân tích chính sách khơng chỉ nghiên cứu về q trình chính sách, mà còn can

dự, tham gia tích cực vào q trình này. Để thực thi tốt vai trò là một “dịch vụ” cung

cấp tư vấn chính sách, thường được nhấn mạnh trong giai đoạn phát hiện vấn đề và

lập chương trình, phân tích chính sách cũng bao gồm các bước tuần tự cơ bản như:

(1) phát hiện, lựa chọn vấn đề cần giải quyết; (2) lựa chọn sử dụng các cơng cụ phân

tích thích hợp, ví dụ phân tích chi phí – lợi ích, phân tích chi phí – hiệu quả, đánh giá

tác động đối với dự án luật; (3) hình thành, đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề;

(4) xác định các tiêu chí đánh giá; và (5) trình bày dưới dạng văn bản mẫu, kể lại

“câu ctỉnh ” tìm kiếm, hình thành các lời khuyên hợp lý, thuyết phục người làm chính

sách. Một số nhóm hành vi chính trong phân tích chính sách bao gồm: nghiên cứu và

phân tích, thiết kế và khuyến nghị, làm sáng tỏ các giá trị và lập luận, tư vấn chiến

lược, dân chủ hóa, và trung gian. Trong mỗi tình huống thực tiễn, chun gia phân

tích có thể sử dụng kết hợp các hành vi này, nhưng thường không bao gồm tất cả.

Mục tiêu của phân tích chính sách là đóng góp nâng cao chất lượng và kết quả

đạt được của q trình hoạch định chính sách, hay còn được ví là giúp làm ra những

“chính sách thông minh” hơn. Thực tế là, các cách tiếp cận phân tích chính sách khác

nhau, từ các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau có thể đưa ra đề xuất giải pháp khác nhau

cho cùng một vấn đề, hoặc tập trung vào những giá trị đặc thù. Vì thế, phân tích chính

sách cần giải quyết vấn đề trong điều kiện thích ứng với tình huống có nhiều chủ thể

làm chính sách công, với những giá trị đa dạng. Điều này được thể hiện rõ, ngay từ

giai đoạn lập chương trình nghị sự trong hoạt động Quốc hội, bởi tính chất đại diện

cho nhiều nhóm khác nhau, với những lợi ích và mối quan tâm khác nhau trong xã

hội.

Như vậy, có thể nhận thấy, nếu như chính sách chính là sự lựa chọn: lựa chọn

các mục tiêu; lựa chọn lý do cho hành động, hoặc không hành động của nhà nước; lựa

chọn các nguồn lực để nhằm đạt được các mục tiêu trên, thì phân tích chính sách

chính là q trình tìm kiếm, đưa ra những lời khun hữu ích và hợp lý để làm cơ sở

cho quyết định hình thành, lựa chọn chính sách. Đương nhiên, khơng phải lời khun

nào cũng có thể trở thành chính sách.

Về mối quan hệ giữa quy trình hoạch định chính sách, quy trình lập pháp và



phân tích chính sách: Hiểu theo nghĩa rộng thì quy trình chính sách bao hàm trong nó

quy trình lập pháp. Trong khi đó, đối với quy trình lập pháp, một số quốc gia xem

phân tích chính sách như là một giai đoạn tiền lập pháp trong quy trình này. Bởi vì,

phân tích chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc xác định vấn đề công cộng và

đề ra giải pháp chính sách, mà thơng thường, rất nhiều giải pháp chính sách cần được

luật hóa. Chính vì thế, phân tích chính sách (theo nghĩa hẹp, với các bước đã nêu ở

trên) có thể được xem như là một giai đoạn, hay đúng hơn là một trong những yêu cầu

công việc quan trọng đầu tiên trong quy trình chính sách và quy trình lập pháp. Đưa

phân tích chính sách thành một giai đoạn, hay một yêu cầu bắt buộc trong một giai

đoạn của quy trình lập pháp, là để khẳng định tầm quan trọng của phân tích chính sách

tiền lập pháp. Nhìn chung, khơng nên hiểu phân tích chính sách chỉ xuất hiện, hay chỉ

là một giai đoạn riêng rẽ, không cần thiết ở các giai đoạn sau trong quy trình lập

pháp và quy trình chính sách. Các bước phân tích chính sách cũng khác với quy trình

hoạch định chính sách ở chỗ, phân tích chính sách được thực thi để trả lời sáng tỏ câu

hỏi nhà nước nên làm gì? còn quy trình hoạch định chính sách cho biết chính sách

được làm ra như thế nào, và tại sao?

Ngồi ra, một số nghiên cứu cũng phân biệt giữa phân tích phân tích chính sách

nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc

thiểu số với đánh giá phân tích chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ

gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số (theo nghĩa là phương pháp phân tích

chương trình) ở chỗ: phân tích chính sách là để cân nhắc nên làm gì, trong khi đánh

giá chính sách là để xem xét, đánh giá những gì đã được làm. Còn ở cách tiếp cận

rộng hơn, phân tích chính sách được xem là bao gồm một số phương pháp, trong đó

có đánh giá chính sách. Phân tích chính sách, vì thế, diễn ra cả ở giai đoạn trước, và

sau của một q trình chính sách. Một chính sách, một dự luật cần được phân tích,

đánh giá trong suốt q trình của nó. Phân tích chính sách khơng dừng lại ở việc đưa

ra khuyến nghị, hay lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề kinh tế xã hội. Nó còn cung

cấp các cơng cụ cần thiết để phân tích, đánh giá kết quả của phương án chính sách đã

được thơng qua, q trình thực thi và hiệu quả đạt được của phân tích chính sách nâng

cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu

số.



1.1.3. Nội dung của chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn

truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính quyền cấp huyện

1.1.3.1. Nhóm chính sách về kinh tế

Chính sách về số kinh tế là nhóm các chính sách hướng tới cải thiện, phát triển

sản xuất, tạo việc làm cho người lao động, nâng cao đời song vật chất cho người dân

tộc thiểu của chính quyền các cấp.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã có nhiều nỗ

lực để triển khai các nghị quyết của Đảng, các nghị quyết của Quốc hội trong việc xây

dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế đối

với vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Với tinh thần trên, hệ thống chính sách, pháp luật hỗ trợ phát triển về kinh tế, xã

hội vùng dân tộc thiểu số khơng ngừng được hồn thiện, từ năm 2017, Chính phủ, Thủ

tướng Chính phủ đã ban hành 41 văn bản đề cập việc ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội

vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 15 đề án và chính sách dân tộc.

Tính đến nay, Việt Nam có 54 chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế cho đồng bào

dân tộc thiểu số ít người và vùng miền núi còn hiệu lực. Thơng qua việc thực hiện các

chính sách hỗ trợ, vùng dân tộc thiểu số.

Cụ thể, đã ban hành khá đầy đủ hệ thống chính sách dân tộc, bao phủ tồn diện

các lĩnh vực, nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững; phát triển giáo dục

và đào tạo; y tế; văn hóa; phát triển nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống chính trị ở

cơ sở vững mạnh.

Thực hiện phân cấp triệt để cho các địa phương cấp huyện tổ chức thực hiện

chính sách phát triển kinh tế cho các dân tộc thiểu số; các bộ, ngành ở Trung ương chủ

yếu nghiên cứu, tham mưu ban hành chính sách, hướng dẫn kiểm tra quá trình thực

hiện, tổng hợp đánh giá kết quả và tháo gỡ khó khăn, bất cập đặt ra trong thực tiễn;

giảm các khâu trung gian, đã tích hợp một số chính sách, khắc phục một bước tình

trạng giàn trải, chồng chéo về chính sách.

Hiện nay, hệ thống c chính sách phát triển kinh tế cho các dân tộc thiểu số ngày

càng đồng bộ, toàn diện, bao phủ rộng khắp nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã

hội.

Nội dung của nhóm chính sách phát triển kinh tế cho các dân tộc thiểu là huy



động nguồn lực đầu tư phát triển toàn xã hội ngày càng tăng, bước đầu bảo đảm cho

các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và an sinh xã hội (nhất là về giảm nghèo, giáo

dục và y tế). Việc tổ chức thực hiện chính sách từng bước được cải tiến nhằm tăng

cường hiệu quả chính sách.

Tập trung nguồn lực giải quyết cơ bản đất ở, đất sản xuất cho người dân tộc

thiểu số theo đề án được duyệt; đẩy mạnh giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao

đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho đồng bào;

giải quyết tình trạng di dân khơng theo quy hoạch; khắc phục những hạn chế, tồn tại

của công tác di dân, tái định cư các cơng trình thủy lợi, thủy điện; khẩn trương di dời,

bố trí lại dân cư ở những nơi có nguy cơ sạt lở nguy hiểm ở một số địa phương để bảo

đảm ổn định xã hội



1.1.3.2. Nhóm chính sách về xã hội

Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc thiểu số nên chính sách dân tộc ln

được quan tâm, chú trọng. Chính sách về xã hội đối với các dân tộc thiểu số là hệ

thống những quyết sách của Đảng, Nhà nước được thực thi thông qua bộ máy hành

pháp nhằm quản lý và phát triển kinh tế, chính trị, văn hố, xã hội đối với các dân tộc

và vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm thiết lập sự bình đẳng và hòa nhập phát triển,

củng cố, tăng cường sự đồn kết thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Chính sách về xã hội đối với các dân tộc thiểu số được quy định bởi quan điểm

về vấn đề dân tộc, xử lý vấn đề dân tộc và cách thức thực hiện cơng tác dân tộc. Nó

cũng bao hàm nhiều lĩnh vực, nhiều nội dung trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế chính trị, văn hố.

Chính sách về xã hội đối với các dân tộc thiểu số là một bộ phận cấu thành trong

hệ thống chính sách dân tộc, một trong những mục tiêu, nội dung phát triển văn hóaxã hội ở vùng đồng bào dân tộc và đối với các dân tộc thiểu số. Việc xây dựng và tổ

chức thực hiện chính sách về xã hội đối với các dân tộc thiểu số, để bảo đảm hiệu lực,

hiệu quả cần bám sát đặc điểm tình hình thực tiễn cụ thể, như Nghị quyết 22 - NQ/TW

ngày 29-11-1989 của Bộ Chính trị, Khóa VI đã u cầu: “phải tính đầy đủ đến những

đặc điểm về tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hoá, phong tục, tập quán của miền

núi nói chung và riêng của từng vùng, từng dân tộc”(2).

Rõ ràng, yếu tố đặc điểm xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán được nhấn mạnh,



bên cạnh đó là yếu tố đặc điểm tự nhiên, lịch sử và kinh tế đặt trong bối cảnh miền núi

nói chung và từng vùng, từng dân tộc nói riêng. Việc xây dựng chính sách về xã hội

đối với các dân tộc thiểu số và các chương trình dự án phát triển vùng dân tộc thiểu số

cần thiết phải được xem xét, tính tới các yếu tố, đặc điểm văn hóa vốn có của nó, như

một điều kiện để bảo đảm cho tính phù hợp của chính sách.

Chính sách về xã hội đối với các dân tộc thiểu số mang tính chính trị sâu sắc, là

sự thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà n¬ước. Nguyên tắc bao trùm

lớn nhất là thể hiện một cách đầy đủ các quyền bình đẳng về chính trị, văn hố - xã

hội và đoàn kết giữa các dân tộc, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển. Tại Điều 5, Hiếp

pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 có ghi:

“(1). Nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các

dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

(2). Các dân tộc bình đẳng, đồn kết, tơn trọng và giúp nhau cùng phát triển;

nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

(3). Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ

viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hố

tốt đẹp của mình.

(4). Nhà nước thực hiện chính sách phát triển tồn diện và tạo điều kiện để các

dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

Có thể nhận thấy, quy luật phát triển không đồng đều, làm cho đời sống xã hội

giữa các dân tộc chênh lệch nhau cũng gây nên sự mặc cảm, tự ti, làm giảm yếu tố

động lực phát triển ở các cộng đồng dân tộc. Điều này gây bất lợi trong việc xây dựng

đoàn kết các dân tộc, nhất là khi mối quan hệ dân tộc trở nên phức tạp và dễ vượt ra

khỏi phạm vi dân tộc trở thành quan hệ quốc gia và quốc tế khi bị các thế lực thù địch

lợi dụng. Phát triển xã hội, từng bước cải thiện và nâng cao mọi mặt đời sống nhân

dân, thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa các vùng, các dân tộc là một mục tiêu

lớn đặt ra cho công tác dân tộc nói riêng và cơng tác quản lý nhà nước quốc gia nói

chung.

Đây cũng là cơ sở quan trọng để thực hiện các hoạt động văn hóa và chính sách

về xã hội đối với các dân tộc thiểu số, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc

thiểu số.



1.2. Tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc

thiểu số của chính quyền cấp huyện

1.2.1. Khái niệm và mục tiêu tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống

vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số

của chính quyền cấp huyện

1.2.1.1. Khái niệm tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất và

tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính quyền

cấp huyện

Sau khi các chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền

thống văn hóa người dân tộc thiểu số được ban hành thì chính sách cần được triển

khai và thực thi trên thực tế. Giai đoạn này đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, mang

tính chất bước ngoặt giúp cho các chính sách được hiện thực hóa và mang lại những

kết quả cụ thể đối với mỗi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội mà chính sách hướng

tới. Các cơ quan nhà nước ở trung ương hoặc địa phương, trước hết là bộ máy hành

chính nhà nước đảm nhiệm chức năng này.

Tổ chức thực thi chính sách có vị trí rất quan trọng, nó là một khâu hợp thành

chu trình chính sách, nếu thiếu cơng đoạn này thì chu trình chính sách khơng thể tồn

tại vì nó là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống,

nhất là với thực thi chính sách, bước này là bước quan trọng khơng thể thiếu vì nó là

khâu hiện thực hố chính sách vào đời sống xã hội. Chúng ta đều nhận thấy hoạch

định một chính sách tốt là hết sức khó khăn và trải qua rất nhiều cơng đoạn nhưng cho

dù chính sách có tốt đến mấy nhưng khơng được tổ chức thực thi hay thực thi kém thì

nó cũng khơng mang lại hiệu quả, khơng đạt được mục tiêu mà uy tín của Nhà nước

còn bị ảnh hưởng. Như vậy, qua sự phân tích trên thì chúng ta có thể thấy được vai trò

quan trọng của thực thi chính sách cơng.

Tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn

truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính quyền cấp huyện là quá trình

biến các chính sách thành kết quả trên thực tế thơng qua các hoạt động có tổ chức

trong bộ máy chính quyền cấp huyện nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách nâng

cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số



do chính quyền cấp huyện đề ra.

Tổ chức thực thi chính sách để từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và

mục tiêu chung. Mục tiêu của chính sách có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh

vực nên không thể cùng một lúc giải quyết hết tất cả mà phải lần lượt, và việc thực thi

chính sách công giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ biện chứng với mục tiêu

chung do đó nó có thể giải quyết các vấn đề đặt ra. Trong thực tế mục tiêu chính sách

chỉ có thể đạt được thơng qua thực thi chính sách, đồng thời các mục tiêu của chính

sách có quan hệ và ảnh hưởng đến mục tiêu chung.



1.2.1.2. Mục tiêu tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh

thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính quyền cấp

huyện

Chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa

người dân tộc thiểu số có vai trò quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề trọng

tâm về kinh tế, xã hội và văn hóa truyền thống cho các sắc tộc người thiểu số ở các

địa phương.

Chính quyền cấp huyện đóng một vai trò quan trọng trong các khâu của q trình

tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền

thống văn hóa người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện từ khâu chuẩn bị tổ chức thực

thi chính sách, chỉ đạo thực thi chính sách và kiểm sốt, đánh giá việc thực hiện chính

sách. Việc tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn

truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính quyền cấp huyện chủ yếu

hướng tới những mục tiêu đảm bảo những chính sách đã được ban hành sẽ được thực

thi hiệu quả trên thực tế, cụ thể như sau:

a) Mục tiêu xã hội

Tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn

truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số lấy mục tiêu xã hội hóa việc bảo vệ văn

hóa truyền thống, phát triển, giải quyết vấn đề sinh kế, cải thiện đời sống cho người

người dân tộc thiểu số. Đây là mục tiêu trọng tâm, mang tính nhân văn của chính sách,

từ đó tạo điều kiện để Nhà nước giải quyết các chính sách phát triển văn hóa xã hội,

đảm bảo an ninh chính trị xã hội của các cộng đồng người dân tộc thiểu số.

b) Mục tiêu kinh tế



Tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn

truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số sẽ giúp các địa phương quản lý kinh tế,

phát triển sản xuất và ngâng cao đời sống vật chất, thu nhập bền vững co các công

đồng người dân tộc thiểu số, đáp ứng cho việc bảo vệ và phát triển kinh tế vốn có của

địa phương, tạo việc làm và đẩy mạnh sản xuất, giúp đời sống đồng bào được cải

thiện, nâng cao.

c) Mục tiêu phát triểu văn hóa, giữ gìn bản sắc truyền thống dân tộc

Mục đích cuối cùng của tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số, đó là bảo vệ và phát

triểu văn hóa, giữ gìn bản sắc truyền thống dân tộc của các cộng đồng dân tộc thiểu

số… đảm bảo văn hóa truyền thống của từng dân tộc được bền vững, đóng góp vào

cơng cuộc bảo vệ văn hóa, phát triển và duy trì phong tục truyền thống của nước ta

hiện nay.



1.2.2. Nội dung tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất và

tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính

quyền cấp huyện

Q trình thực thi chính sách nói chung và q trình thực thi chính sách nâng cao

đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của

chính quyền cấp huyện gồm 03 giai đoạn sau:

Giai đoạn thứ nhất là chuẩn bị triển khai chính sách nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính quyền cấp

huyện bao gồm: xây dựng bộ máy tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống vật

chất và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính quyền

cấp huyện; lập các kế hoạch triển khai chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh

thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số; ra các văn bản hướng dẫn

triển khai chính sách.

Giai đoạn thứ hai là chỉ đạo triển khai chính sách nâng cao đời sống vật chất và

tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính quyền cấp

huyện bao gồm: truyền thơng và tư vấn chính sách; thực thi chính sách; vận hành ngân

sách và phối hợp các cơ quan ban hành trong thực thi chính sách.

Giai đoạn thứ ba là kiểm sốt thực hiện chính sách nâng cao đời sống vật chất và



tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính quyền cấp

huyện bao gồm 2 bước là xây dựng hệ thống thông tin phản hồi và tiến hành giám sát,

đánh giá sự thực hiện chính sách.



1.2.2.1. Chuẩn bị triển khai chính sách

a) Tổ chức bộ máy thực thi chính sách

Xây dựng cơ cấu bộ máy thực thi chính sách tại địa phương, UBND huyện là

cơ quan chỉ đạo trực tiếp thực thi chính sách. Phòng văn hóa thơng tin huyện là cơ

quan đầu mối phối hợp với Ủy ban Mặt trân tổ quốc huyện và các ban ngành liên quan

triển khai thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền

thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính quyền cấp huyện. Tại địa phương, Ban

chỉ đạo thực thi chính sách được thành lập do Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban

chỉ đạo.

Bộ máy thực thi chính sách của chính quyền cấp huyện bao gồm cơ cấu tổ chức

bộ máy và nhân sự được bố trí trong cơ cấu bộ máy để thực thi chính sách nâng cao

đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số.

Cơ cấu bộ máy thực thi chính sách của chính quyền cấp huyện là tập hợp các cơ

quan/tổ chức/bộ phận thuộc chính quyền cấp huyện có mối quan hệ phụ thuộc lẫn

nhau với những chức năng và quyền hạn nhất định được bố trí theo cấp và theo khâu

nhằm thực hiện được các mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra. Những cơ quan này bao

gồm: Hội đồng nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp huyện; Các phòng ban phụ

trách các lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hóa, xây dựng, kế hoạch và đầu tư; tài

chính; tài ngun mơi trường.

Nhân sự thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn

truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số gồm cán bộ, công chức, viên chức trong

bộ máy thực thi chính sách và cán bộ trực tiếp thực hiện các hoạt động trong việc thực

thi. Những nhân sự này cần có những kiến thức và kỹ năng cần thiết để tổ chức thực

thi chính sách. Kiến thức cần thiết bao gồm kiến thức về quản lý, một số các kỹ năng

cần thiết bao gồm kỹ năng về lập kế hoạch, quản lý sự thay đổi, có năng lực đánh giá,

giám sát sự thực hiện chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn

truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số một cách khách quan, có năng lực về

thơng tin và truyền thông.



b) Xây dựng kế hoạch triển khai thực thi chính sách

- Xây dựng kế hoạch:

Xây dựng các kế hoạch triển khai chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh

thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính quyền cấp huyện

là việc các cơ quan thực thi chính sách căn cứ vào nhiệm vụ, chức năng của

mình tiến hành xây dựng chương trình hành động để đưa chính sách vào thực tế.

Các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh căn cứ văn bản hướng dẫn của Trung ương,

của tỉnh và tình hình thực tế tại địa phương, xây dựng các chương trình, kế hoạch thực

thi chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa

người dân tộc thiểu số tại địa phương mình, đảm bảo đúng kế hoạch, đúng tiến độ và

hiệu quả.

Trên cơ sở các chính sách đã được ban hành về nâng cao đời sống vật chất và

tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu sốcủa chính quyền cấp

huyện, các cơ quan trong bộ mát thực thi chính sách của huyện tiến hành xây dựng các

loại kế hoạch, chương trình, dự án nhằm cụ thể hóa chính sách và là cơ sở cho việc

triển khai chính sách. Các ban ngành có liên quan đến tổ chức thực thi chính sách cần

xây dựng các văn bản hướng dẫn, các kế hoạch triển khai về môi trường, xây dựng các

trạm xăng dầu, các kế hoạch truyền thông, kiểm tra, giám sát, kế hoạch về nhân sự và

cơ sở vật chất.

- Xây dựng các văn bản hướng dẫn:

Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh xây dựng và ban hành văn

bản xác định và quy định về đối tượng áp dụng chính sách nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số tại địa phương mình.

Để triển khai chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn truyền

thống văn hóa người dân tộc thiểu số, chính quyền cấp huyện sẽ ban hành các văn bản

hướng dẫn triển khai. Các văn bản này là cơ sở cho các cơ quan liên quan trong bộ

máy tổ chức thực thi chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn

truyền thống văn hóa người dân tộc thiểu số của chính quyền huyện thực hiện việc

này một cách cụ thể và đảm bảo hiệu quả.

- Tổ chức tập huấn:

Tổ chức tập huấn chính sách là việc nâng cao nhận thức của xã hội về chính sách



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN, GIỮ GÌN TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×