Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thế nào là phát hiện, phát minh và sáng chế ? Cho ví dụ minh họa.

Thế nào là phát hiện, phát minh và sáng chế ? Cho ví dụ minh họa.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Phát minh: Sự

phát hiện một sự vật, một hiện tượng hoặc một quy luật tồn tại

khách quan của tự nhiên mà con người chưa từng biết tới. Phát

minh làm thay đổi, nâng cao trình độ nhận thức của con người

đối với tự nhiên và tạo cơ sở để con người lợi dụng, chế ngự tự

nhiên. Phát minh khoa học là yếu tố quyết định đối với tiến bộ

khoa học – kỹ thuật. Phát minh thường gắn liền với những

nghiên cứu cơ bản trong khoa học lý thuyết và khoa học ứng

dụng. Phát minh phản ánh các mối quan hệ hiện thực khách

quan cơ bản và những tính chất của các hiện tượng trong thế

giới hiện thực”

Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì phát minh là sự khám phá ra

những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế

giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai

biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người.



Nhận diện: Phát minh là khám phá về quy luật khách quan

trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, có khả năng áp dụng để giải

11



thích thế giới nhưng chưa thể áp dụng trực tiếp vào sản xuất

hoặc đời sống mà phải thơng qua sáng chế, khơng có giá trị

thương mại, khơng được bảo hộ pháp lý.

Ví dụ minh họa: Archimède phát minh định luật sức nâng

của nước, Newton phát minh định luật vạn vật hấp dẫn,

DacUyn phát minh thuyết tiến hóa, Dmitri Ivanovich

Mendeleev phát minh bảng tuần hồn các nguyên tố hóa học,

Nguyễn Văn Hiệu phát minh định luật bất biến tiết diện của

các quá trình sinh hạt…

3. Sáng chế (Invention)

Khái niệm: Là một giải pháp kỹ thuật mới về nguyên lý kỹ

thuật, tính sáng tạo và áp dụng được.

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế: Giải

pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình

độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế –

xã hội. Sáng chế là một trong những đối tượng sở hữu công

nghiệp được pháp luật bảo hộ số 5.

Luật Sở Hữu Trí Tuệ của Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế là

giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm

giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy

luật tự nhiên”.



12



Nhận diện: Sáng chế là loại thành tựu khoa học kỹ thuật

và công nghệ, trong khoa học xã hội và nhân văn khơng có sản

phẩm loại này. Tính mới là một trong những tiêu chí hàng đầu

của sáng chế (phát minh và phát hiện không có tiêu chí này).

Sáng chế có khả năng áp dụng nên có ý nghĩa thương mại,

được cấp bằng sáng chế (patent), có thể mua bán hoặc ký kết

các hợp đồng cấp giấy phép sử dụng (licence), được bảo hộ

quyền sở hữu cơng nghiệp.

Ví dụ minh họa: Alexander Graham Bell sáng chế ra

điện thoại, Wilbur Wright và Orville Wright sáng chế ra máy

bay, Sáng chế bóng đèn điện của Thomas Edison, cột thu lôi

của Benjamin Franklin, máy hơi nước của James Watt, công

thức thuốc nổ TNT của Nobel, tai nghe khám bệnh của

Laennec…



13



CÂU HỎI 2

Anh chị hiểu thế nào về câu nói sau:

Every science begins as philosophy and ends as

art

Mọi mơn khoa học đều bắt đầu bằng triết học và

kết thúc bằng nghệ thuật

(Will Durant )

Dẫn theo

http://www.tudiendanhngon.vn/danhngon/ds/strca

ts/183/sw/k

Trả lời:

Every science begins as philosophy and ends as art

Mọi môn khoa học đều bắt đầu bằng triết học và kết thúc bằng

nghệ thuật

( Will Durant)

Khoa học dường như luôn luôn tiến bộ, trong khi triết học

dường như luôn mất đi chỗ đứng. Tuy nhiên, điều này chỉ là do

triết học giải quyết các vấn đề chưa mở ra cho các phương

pháp của khoa học. Ngay khi một lĩnh vực điều tra mang lại

kiến thức dễ bị hình thành chính xác, nó được gọi là khoa học.

Triết học dường như đứng yên, bối rối; nhưng chỉ bởi vì khơng

chắc chắn và chưa được khám phá.

Mọi khoa học bắt đầu bằng triết học và kết

nghệ thuật; nó phát sinh trong giả thuyết và chảy

tích. Nhà triết học mong muốn xác định mối quan

nghiệm nói chung, và do đó để có được ý nghĩa và

nó.



thúc bằng

vào thành

hệ để trải

giá trị của



Câu nói “Every science begins as philosophy and ends as

art” của Will Durant cần phân tích 2 vế “ Every science begins

as philosophy” – Mọi môn khoa học đều bắt đầu bằng triết học



14



và “Every science ends as art” – Mọi môn khoa học đều kết

thúc bằng nghệ thuật.



Mọi môn khoa học đều bắt đầu bằng triết học – Triết

học là khoa học của khoa học

Khoa học là hệ thống những tri thức về mọi loại quy luật

của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự

nhiên, xã hội, tư duy. Là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi,

phát hiện qui luật của sự vật và hiện tượng và vận dụng các qui

luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào các

sự vật và hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng.

Khoa học còn là một hình thái ý thức xã hội, tồn tại mang

tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác (ở đối

tượng và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội

riêng biệt)

Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung

và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người

trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự

tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức và ngôn ngữ. Triết

học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách

thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê

phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ

thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận.

15



Mối quan hệ giữa triết học và khoa học là mối quan hệ hai

chiều, nghĩa là, triết học và các khoa học đều có tác động biện

chứng lẫn nhau. Nếu như sự tác động của triết học đến khoa

học có thể chia thành những giai đoạn và mỗi giai đoạn có

những hình thức nhất định, thì ngược lại, sự tác động của

khoa học đến sự phát triển của triết học không phải khi nào

cũng rõ ràng và có khuynh hướng rõ rệt. Từ chỗ lúc đầu là một

sự hòa trộn đan xen giữa tri thức khoa học và triết học, dần

dần là sự tách ra của khoa học và sau đó, khoa học bắt đầu

ảnh hưởng đến sự phát triển của triết học.



Thủa sơ khai, chữ triết học (philosophy) bắt nguồn từ Hy

Lạp: philosophia (φιλοσοφία), theo nghĩa đen, tình u trí tuệ

(philein = "u thích" + sophia = "trí tuệ"). Chữ khoa học từ

tiếng Latin scienta, nghĩa là tri thức. Chữ scientia lại do chữ

scire mà ra, có nghĩa là hiểu biết. Theo Webter’s New

Collegiste Dictionary, “Khoa học” là “những tri thức đạt được

qua kinh nghiệm thực tế và nghiên cứu”. Khi nền văn minh còn

chưa phát triển, thuật ngữ vì thế mà còn ít, nên tất cả những

gì thuộc về sự hiểu biết đã được gọi chung là TRIẾT HỌC, một

khái niệm bao gồm cả Triết học và Khoa học ngày nay. Dù

đứng chung như vậy nhưng Khoa học vẫn thiên về quan sát,

tính tốn; còn Triết học thiên về suy ngẫm từ những kết quả

16



của khoa học, nghĩa là khoa học luôn phải đi trước để triết học

có cái mà suy ngẫm, như Kant từng nói: “Ý niệm khơng có nội

dung là rỗng” (Gedanken ohne Inhalt sind leer) hay

“Anschauungen ohne Begriffe sind blind” (Quan sát mà khơng

có lý thuyết khoa học thì mù qng)

Triết học là khoa học của khoa học, là cha sinh của mọi

ngành khoa học. Khoa học không phải là kỹ thuật. Triết học

sinh ra khoa học và đến phiên mình, khoa học sinh ra kỹ thuật.

Triết học vạch ra con đường, khoa học khai phá con đường đó.

Thời kỳ đầu của triết học phương tây, các nhà triết học

đồng thời là các nhà khoa học, ví dụ Pitago, Đề-Các,... Triết học

tự nhiên thịnh hành ở phương Tây vào lúc khoa học thực

nghiệm chưa phát triển, khơng đủ để tìm ra quy luật của các

hiện tượng tự nhiên. Và triết học này chính là những tư tưởng

chung nhất được rút ra từ quá trình nghiên cứu khoa học (như

thế giới quan và phương pháp luận) nên có thể nói là khoa học

của khoa học. Hiện tại, Triết học duy vật biện chứng của Mác là

những tư tưởng được rút ra từ các thành tựu mới nhất của khoa

học (vào lúc triết học ấy ra đời). Việc có kiến thức về các ngành

khoa học khác là cần thiết vì nhà triết học cần phải nắm rõ các

kiến thức cập nhật nhất từ các ngành khoa học tự nhiên để

kiểm định và đổi mới quan điểm. Nhưng khơng có nghĩa là nhà

triết học phải biết mọi thứ, họ chỉ cần biết những gì của khoa

học có ý nghĩa đối với triết học họ nghiên cứu là đủ.

Kết luận triết học được các nhà khoa học rút ra từ những

kết quả của mình đa phần mang tính tự phát. Chỉ khi được xem

xét trên một nền tảng thế giới quan nhất định, chúng mới thực

sự trở thành định hướng tích cực cho sự phát triển khoa học.

Mọi môn khoa học đều kết thúc bằng nghệ thuật –

Nghệ thuật là tôi, khoa học là chúng ta

Nghệ thuật là việc sáng tạo ra những sản phẩm phi vật

thể hoặc vật thể chứa đựng các giá trị lớn về tư tưởng, giá chị

nhân văn, giá trị tinh thần làm rung động cảm xúc con người.

Là tập hợp của những cái hay cái khó, được con người thưởng

17



thức qua các giác quan và cảm nhận, qua các kĩ năng, kỹ xảo,

và trình độ vượt xa so với mức bình thường.

Những sản phẩm được gọi là nghệ thuật đòi hỏi phải có

tính nhân văn, giá trị tinh thần cao, hoặc là các sản phẩm ở

mức hồn hảo, trình độ kỹ thuật điêu luyện.



Nhà vật lý học nổi tiếng thế giới Einstein từng nói: “Trước

hết là các nghệ sĩ lớn, sau đó mới đến các nhà khoa học, họ

xứng đáng được hưởng hơn ai hết sự kính trọng của con người”.

Nhà nghệ sĩ đó chính là nhà sáng tạo “cái đẹp để cứu vớt nhân

loại". Nghệ thuật là một khái niệm rất trừu tượng, nhưng nhiệm

vụ mà nghệ thuật phải hoàn thành thật to lớn. Bởi thế người ta

đưa ra một ý kiến thật đúng “nghệ thuật là cái độc đáo". Một ví

dụ hiển nhiên là sự phát triển hình học thời Phục hưng đã kéo

theo sự phát triển của luật viễn cận trong nghệ thuật. Công

nghệ hiện đại là yếu tố quan trọng sản sinh ra nhiều hình thức

nghệ thuật đương đại như điện ảnh, âm nhạc điện tử, nghệ

thuật video, v.v. Khoa học phát triển và những bước tiến công

nghệ trong nhiếp ảnh, điện ảnh hay cơ giới hóa, cũng như

những nghiên cứu về ánh sáng, đã mang đến những thay đổi

sâu sắc trong tư duy và ngôn ngữ nghệ thuật.

Ngày nay khoa học được áp dụng để thẩm định nghệ thuật

(qua các phương pháp như đánh dấu carbon, dùng máy tính

điện tử để thẩm định các tác phẩm của Jackson Pollock , v.v.).

18



Khoa học cũng được áp dụng để đo các hưởng ứng sinh lý của

người trước các tác phẩm nghệ thuật. Các nghiên cứu khoa học

về tâm lý con người khi tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật cũng

có hữu ích cho các nghệ sĩ và những người yêu nghệ thuật.

Nghệ thuật và khoa học là các thành tố của văn hóa. Vì

thế bản chất và quan hệ giữa chúng thực ra khá phức tạp, thay

đổi tùy theo thời gian và địa điểm. Sẽ thật ngây thơ khi cho

rằng có thể tìm thấy một sự mơ tả quan hệ bất biến giữa

chúng. Trong tương lai sự tiến triển mau lẹ của nghệ thuật,

khoa học và công nghệ sẽ còn đem lại cho chúng ta nhiều điều

bất ngờ. Ví dụ internet có liên hệ thế nào với nghệ thuật?

Chúng ta sẽ thấy nhiều phương tiện dùng kỹ thuật số, dùng

network bandwidth. Chắc chắn chúng ta sẽ nhìn thấy nhiều loại

hình nghệ thuật mới, song liệu chúng ta có thấy các giá trị

thẩm mỹ mới khơng? Có lẽ chúng ta cũng sẽ được thấy sự ra

đời của nhiều lý thuyết mới về nghệ thuật. Nhưng liệu chúng có

hơn gì những lý thuyết cũ khơng?

Cuộc cách mạng khoa học - cơng nghệ hiện đại với sự phát

triển nhanh chóng của khoa học cũng như những ứng dụng

rộng rãi của nó trong thực tiễn đã và đang làm thay đổi sâu sắc

đời sống con người, góp phần làm bộc lộ những hạn chế của tư

duy siêu hình. Con đường duy nhất để khắc phục những giáo

điều, những khn sáo, trì trệ trong nhận thức và hành động là

nắm chắc và vận dụng đúng phép biện chứng duy vật, vì phép

biện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất của nhận

thức khoa học và thực tiễn cách mạng.



CÂU HỎI 3

Tất cả các môn khoa học trừu tượng đều không là gì khác ngồi

việc nghiên cứu mối liên hệ giữa các biểu tượng.

All abstract sciences are nothing but the study of relations

between signs.

(Denis Diderot )



19



Dẫn

theo http://www.tudiendanhngon.vn/danhngon/ds/strcats/183/s

w/k

Anh chị hãy tự chọn một biểu tượng văn hóa và thực hiện các

yêu cầu dưới đây.

- Tự đặt tên đề tài theo biểu tượng đó

- Chỉ ra phạm vi và phương pháp nghiên cứu cho đề tài vừa

đặt.

- Dùng sơ đồ tư duy vẽ mục tiêu cho đề tài đó

- Trình bày kết luận cho đề tài

- Lập danh mục tài liệu tham khảo

Trả lời:

Sau khi nghiên cứu câu nói “All abstract

sciences are nothing but the study of relations

between signs” của Denist Diderot , cùng

với vốn hiểu biết và sở thích của mình, em xin

lựa chọn nghiên cứu biểu tượng văn hóa HOA

BAN (Ban flower) để thực hiện các yêu cầu

trong câu hỏi này.

1.



Đặt tên đề tài theo biểu tượng



Trong sự phát triển của mỗi quốc gia và các vùng miền khác nhau trên thế

giới, bên cạnh sự phát triển về kinh tế họ cũng rất chú trọng tới sự phát triển về

văn hóa. Mỗi quốc gia hay mỗi vùng miền khác nhau luôn chọn cho mình

những hình ảnh mang tính tượng trưng đại diện. Đó chính là biểu tượng. Hoa

Ban chính là biểu tượng văn hóa của vùng đất Tây Bắc nói chung và của dân

tộc Thái nơi đây nói riêng.

Để thấy được những ý nghĩa, nét đẹp và tác động của biểu tượng Hoa Ban

đối với đời sống văn hóa của người Thái tại vùng đất Tây Bắc, em xin được đặt

tên đề tài nghiên cứu của mình là:

“HOA BAN BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI VÙNG

TÂY BẮC”



20



2.



Phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài



Phạm vi nghiên cứu đề tài: Hoa ban – lồi hoa mang nhiều

nét văn hóa đặc sắc trong đời sống tâm linh, sinh hoạt và lao

động của các dân tộc vùng Tây Bắc, đặc biệt trong đời sống

người Thái, vốn là chủ thể văn hóa vùng Tây Bắc. Phạm vi

nghiên cứu đề tài này tập trung khai thác vào biểu tượng hoa

ban và biểu hiện của nó trong đời sống dân tộc vùng Tây Bắc,

trong đó chủ yếu tập trung vào văn hóa Thái.



Phương pháp nghiên cứu đề tài : Để thực hiện đề tài này,

em sẽ vận dụng đồng bộ những phương pháp nghiên cứu sau:



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thế nào là phát hiện, phát minh và sáng chế ? Cho ví dụ minh họa.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×