Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.3: Mô hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn

Hình 2.3: Mô hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn

Tải bản đầy đủ - 0trang

hiện đại, với sự tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học và công nghệ, mở rộng hội

nhập kinh tế quốc tế mà còn bao hàm một nội dung mới- phát triển bền vững cũng có

nghĩa là khơng chỉ xác lập những cơ sở, điều kiện cần thiết đối với việc giải quyết

những mâu thuẫn vốn có của tiến trình kinh tế thị trường- cơng nghiệp trong sự phát

triển cổ điển, giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế- xã hội và mơi trường mà

còn phải bao gồm nội dung bền vững.

2.1.4. Bộ tiêu chí phát triển bền vững

Hiện nay, lý thuyết phát triển bền vững đang được các quốc gia, các tổ chức

quốc tế và khu vực quan tâm nghiên cứu, phát triển thành hệ thống lý luận vừa có tính

tồn cầu, tính quốc gia, vừa mang tính địa phương. Các chương trình phát triển bền

vững đã được thực hiện từ cấp độ cộng đồng ở hầu hết các nước đang phát triển trên

thế giới với những chỉ tiêu và mục tiêu định lượng để đánh giá chất lượng cuộc sống

và tiến bộ vươn tới cấp độ bền vững. Tuy nhiên việc đưa ra được bộ tiêu chí để “đo

lường” sự phát triển bền vững trên phạm vi cả nước cũng như tại các địa phương vẫn

chưa đạt được sự thống nhất và đang được nghiên cứu ở trong và ngồi nước.

Bộ tiêu chí phát triển bền vững có thể phản ánh các khía cạnh khác nhau như:

(1) Các chỉ tiêu trạng thái (phản ánh trạng thái của hệ thống kinh tế xã hội tại

một thời điểm nào đó);

(2) Các chỉ tiêu mục tiêu (bao gồm các chỉ tiêu phản ánh trạng thái mong muốn

trong tương lai);

(3) Các chỉ tiêu áp lực (bao gồm các chỉ tiêu phản ánh áp lực trực tiếp tới các

vấn đề môi trường như tiếng ồn, khí thải CO2);

(4) Các chỉ tiêu động lực (phản ánh các áp lực lên môi trường do phát triển

công nghiệp, tăng dân số,…)

(5) Các chỉ tiêu ảnh hưởng (phản ánh các tác động đến sự thay đổi trạng thái) và

các chỉ tiêu hưởng ứng (phản ánh nỗ lực của xã hội cũng giải quyết các vấn đề đặt ra).

Đến nay đã có nhiều hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu được đề xuất, bảo đảm phản ánh

tổng hòa nhiều tiêu chí thành phần. Xét về mặt nội dung, bộ tiêu chí cần bao gồm ít

nhất 5 khía cạnh kinh tế, xã hội, mơi trường, văn hóa (bao gồm cả các vấn đề phát

triển con người) và thể chế làm “thước đo” cho phát triển bền vững. Điều quan trọng

là các khía cạnh này phải liên kết với nhau như một thể thống nhất mới bảo đảm phát

triển bền vững. Khâu gắn kết đó được bảo đảm chính là hệ thống thể chế được xây

dựng mang tính hệ thống và thực thi nghiêm chỉnh, nhất là khi nhiều tác động đến phát

triển bền vững khó mà đánh giá trong một thời gian ngắn.



Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc xác định theo các chủ đề

trên bốn lĩnh vực, hình thành nên 58 chỉ tiêu cụ thể:

Bền vững về mặt xã hội: bao gồm 6 chủ đề về công bằng, y tế, giáo dục, nhà ở,

an ninh và dân số với 19 chỉ tiêu cụ thể: (1) Phần trăm dân số sống dưới ngưỡng

nghèo; (2) Chỉ số bất bình đẳng GINI; (3) Tỷ lệ thất nghiệp; (4) Tỷ lệ lương trung bình

của nữ so với nam giới; (5) Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em; (6) Tỷ lệ tử vong của trẻ

dưới 5 tuổi; (7) Tuổi thọ; (8) Phần trăm dân số có thiết bị vệ sinh phù hợp; (9) Phần

trăm dân số được sử dụng nước sạch; (10) Phần trăm dân số tiếp cận với các dịch vụ y

tế cơ bản; (11) Tiêm chủng phòng ngữa các bệnh lây nhiễm cho trẻ em; (12) Tỷ lệ phổ

biến về phòng tránh thai; (13) Phổ cập tiểu học đối với trẻ em; (14) Tỷ lệ người trưởng

thành học hết cấp hai; (15) Tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành; (16) Diện tích nhà ở

(sàn) bình quân đầu người; (17) Số tội phạm trên 100.000 dân; (18) Tốc độ tăng dân

số; (19) Dân số thành thị chính thức và cư trú khơng chính thức.

Bền vững về mơi trường: bao gồm 7 chủ đề về khơng khí, đất, đại dương biển

và bờ biển, nước sạch và đa dạng sinh học với 19 tiêu chí cụ thể: (20) Phát thải khí nhà

kính; (21) Mức độ tiêu thụ các chất gây hại ở tầng ozon; (22) Nồng độ các chất gây ơ

nhiễm khơng khí ở khu vực đơ thị; (23) Đất canh tác và diện tích cây lâu năm; (24) Sử

dụng phân hóa học; (25) Sử dụng thuốc trừ sâu; (26) Tỷ lệ che phủ rừng; (27) Cường

độ khai thác gỗ; (28) Đất bị sa mạc hó; (29) Diện tích thành thị chính thức và khống

chính thức; (30) Mật độ tảo trong biển; (31) Phần trăm dân số sống ở vùng duyên hải;

(32) Sản lượng đánh bắt hàng năm; (33) Mức khai thác nguồn nước ngầm và nước mặt

trên tổng trữ lượng nước; (34) Hàm lượng BOD trong nước; (35) Nồng độ coliform

trong nước sạch; (36) Diện tích hệ sinh thái chủ yếu được lựa chọn; (37) Diện tích khu

bảo tồn so với tổng diện tích; (38) Sự đa dạng của giống loài được lựa chọn.

Bền vững kinh tế bao gồm 2 chủ đề về tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, xu hướng

sản xuất và tiêu thụ với 14 chỉ tiêu cụ thể: (39) GDP bình quân đầu người; (40) Tỷ lệ

đầu tư trong GDP; (41) Cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ; (42) Tỷ lệ nợ trong

GNI; (43) Tổng viện trợ ODA hoặc nhận viện trợ ODA so với GNI; (44) Mức độ sử

dụng nguyên vật liệu; (45) Tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người hàng năm; (46)

Tỷ lệ tiêu dùng nguồn năng lượng có thể tái sinh; (47) Mức độ sử dụng năng lượng;

(48) Chất thải rắn của công nghiệp và đô thị; (49) Chất thải độc hại; (50) Chất thải

phóng xạ; (51) Chất thải tái sinh; (52) Khoảng cách đi lại tính trên đầu người theo

phương tiện vận tải.

Thể chế phát triển bền vững gồm 2 chủ đề khung thể chế và năng lực thể chế,

được cụ thể hóa thành 6 chỉ tiêu: (53) Chiến lược phát triển bền vững quốc gia; (54)

Thực thi các công ước quốc tế đã ký; (55) Số lượng người truy cập internet/1000 dân;



(56) Đường điện thoại chính/1000 dân; (57) Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển tinh

theo % GDP; (58) Thiệt hại về người và của do các thảm họa thiên nhiên.

2.2. Du lịch bền vững và Phát triển du lịch bền vững

2.2.1. Du lịch bền vững

2.2.1.1. Lịch sử ra đời thuật ngữ

Du lịch xuất hiện từ khi các hoạt động trao đổi, buôn bán, truyền giáo, thám

hiểm các vùng đất mới được hình thành. Từ trước Công nguyên, du lịch đã xuất hiện,

xuất phát điểm từ Địa Trung Hải. Ban đầu việc cung ứng các dịch vụ nhằm thỏa mãn

nhu cầu của du khách còn mang tính sơ khai và chỉ chú trọng đến lợi nhuận mà không

quan tâm đến sự tác động xấu của du lịch đến mơi trường. Từ đó xuất hiện hình thức

du lịch đầu tiên trong lịch sử và còn tồn tại cho tới ngày nay “du lịch thương mại” hay

“du lịch ồ ạt” (mass tourism).

Đầu 1980, xuất hiện thuật ngữ “các loại hình du lịch thay thế” (alternative

tourism) (alternative tourism), để chỉ các loại hình du lịch có quan tâm đến môi trường

bao gồm “du lịch xanh”, “du lịch mềm”, “du lịch có trách nhiệm”. Từ năm 1975 đến

năm 1980, Krippendorf và Jungk là những nhà khoa học đầu tiên cảnh báo về những

suy thoái sinh thái do hoạt động du lịch gây ra. Họ đã đưa ra khái niệm “du lịch rắn”

(hard tourism) để chỉ loại hình du lịch ồ ạt và “du lịch mềm” (soft tourism) để chỉ một

chiến lược mới tôn trọng môi trường. Đến năm 1995, Becker tổng kết và đưa ra đặc

trưng của hai loại hình du lịch rắn và mềm như sau:

Bảng 2.1: Du lịch rắn và du lịch mềm

Du lịch rắn (hard tourism)



Du lịch mềm (soft tourism)



1. Phát triển khơng có qui hoạch

2. Mỗi cộng đồng du lịch tự qui hoạch

cho họ

3. Xây dựng tràn lan và manh mún

4. Xây dựng cho một nhu cầu riêng biệt

5. Du lịch nằm trong tay các nhà kinh

doanh du lịch bên ngoài

6. Phát triển tất cả các phương cách để

khai thác tối đa khả năng của đối tượng

du lịch



1. Trước hết phải qui hoạch sau đó mới

phát triển

2. Qui hoạch tổng thể

3. Xây dựng tập trung để tiết kiệm

không gian

4. Xác định các giới hạn cho sự mở rộng

5. Cộng đồng bản địa tham gia và lập

quyết định

6. Phát triển tất cả các phương cách

(loại hình) nhưng chỉ ở mức độ vừa

phải, khơng khai thác tối đa đối tượng

du lịch

Nguồn: Becker (1995)



Năm 1996, xuất hiện một khái niệm mới là “du lịch bền vững” (sustainable

tourism), ủng hộ và chủ trương phát triển du lịch mà ít ảnh hưởng xấu tới môi trường

trên cơ sở cải tiến và nâng cấp từ khái niệm “du lịch mềm” của Krippedorf và Jungk.

2.2.1.2. Khái niệm du lịch bền vững

Theo giáo sư Berneker- một chuyên gia hàng đầu về du lịch thế giới đã nhận

định: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa.”

Theo “Luật Du lịch Việt Nam (2006): “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch

đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu

cầu về du lịch của tương lai”.

Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế (1996): “Du lịch bền vững là việc

đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả

năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”.

Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển Quốc tế (1987): “Du lịch bền vững là

một quá trình nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả

năng của những thế hệ mai sau”.

Từ những khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu: “Du lịch bền vững là sự phát triển

du lịch có sự quan tâm đến việc bảo tồn các giá trị của tài nguyên du lịch đồng thời

giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác hại xấu đến mơi trường, kinh tế, văn hóa- xã

hội nhằm phục vụ nhu cầu hiện tại của du khách và điểm du lịch mà không làm

phương hại đến nhu cầu của tương lai”.

Du lịch bền vững là phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng những nhu

cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc

bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển các hoạt động du lịch trong

tương lai…(Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, Du lịch bền vững, 2001). Du lịch bền

vững hướng đến việc quản lý các nguồn tài nguyên sao cho các nhu cầu kinh tế xã hội

đều được thỏa mãn trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các đặc điểm sinh thái,

sự đa dạng sinh học và hệ thống hỗ trợ đời sống.

Như vậy, du lịch bền vững là phát triển du lịch trong điều kiện bảo tồn và cải

thiện các mặt môi trường, kinh tế, văn hóa và xã hội. Vì vậy, du lịch bền vững cần:

- Sử dụng tài nguyên môi trường một cách tối ưu để những tài nguyên này hình

thành một yếu tố quan trọng trong phát triển du lịch, duy trì những quá trình sinh thái

thiết yếu và hỗ trợ cho việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học.



- Tơn trọng bản sắc văn hóa- xã hội của các cộng đồng ở cấc điểm đến, bảo tồn

di sản văn hóa và những giá trị truyền thống trong cuộc sống của họ và tham gia vào

quá trình hiểu biết và chấp thuận các nền văn hóa khác.

- Bảo đảm những hoạt động kinh tế sống động lâu dài, đem lại lợi ích kinh tế,

xã hội cho tất cả mọi thành viên bao gồm những công nhân viên chức có thu nhập cao

hay những người có thu nhập và góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo.

2.2.2. Phát triển du lịch bền vững

Các vấn đề về phát triển bền vững được đưa ra từ những năm 1980, tiến hành

nghiên cứu về vấn đề này, nhiều nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm đưa ra các

khía cạnh liên quan đến phát triển bền vững. Từ những năm 1990, các nhà khoa học

trên thế giới đã đề cập nhiều đến việc phát triển du lịch với mục đích đơn thuần về

kinh tế đang đe dọa hủy hoại môi trường sinh thái, đến nền văn hóa bản địa. Hậu

quả của các tác động ấy sẽ lại ảnh hưởng đến bản thân sự phát triển lâu dài của

ngành du lịch. Nhưng định nghĩa phát triển du lịch bền vững không chỉ tập trung

vào việc bảo vệ mơi trường mà còn tập trung vào việc duy trì những văn hóa của

địa phương và đảm bảo việc phát triển kinh tế, mang lại lợi ích cơng bằng cho các

nhóm đối tượng tham gia. Phát triển du lịch bền vững được coi là một nhánh của

Phát triển bền vững, có nhiều định nghĩa đã được đưa ra và nhóm nghiên cứu đưa

ra một số khái niệm đã đưa ra:

Theo Hội nghị ủy ban Thế giới về Phát triển và Môi trường (hay Ủy ban

Brundtland) xác định năm 1987: “Hoạt động phát triển du lịch bền vững là hoạt động

phát triển ở một khu vực cụ thể sao cho nội dung, hình thức và quy mơ là thích hợp và

bền vững theo thời gian, khơng làm suy thối mơi trường, làm ảnh hưởng đến khả

năng hỗ trợ.”

Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO): “Phát triển du lịch bền vững là việc phát

triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu về hiện tại của du khách và người

dân bản địa, trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên

cho phát triển du lịch trong tương lai”. Phát triển du lịch bền vững là đáp ứng đầy đủ

nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút du khách đến các vùng,

điểm du lịch ngày nay đồng thời bảo vệ và nâng cao chất lượng cho tương lai.

Cho đến nay đa số ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực

liên quan khác ở Việt Nam đều cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững là hoạt động

khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa

dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm

bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tơn tạo các nguồn tài ngun, duy trì được sự tồn

vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho cơng tác bảo vệ



mơi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”. Đây cũng là

khái niệm mà nhóm tác giả sử dụng để làm căn cứ thực hiện nghiên cứu.

2.2.3. Vai trò và ý nghĩa của phát triển du lịch bền vững

Du lịch là một trong những công nghệ tạo nhiều lợi tức nhất cho đất nước. Du

lich có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta đạt các Mục Tiêu Phát

triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) mà Liên Hợp Quốc đã đề ra từ

năm 2000, đặc biệt là các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới tính, bền vững

mơi trường và liên doanh quốc tế để phát triển.

Chính vì vậy mà du lịch bền vững (sustainable tourism) là một phần quan trọng

của phát triển bền vững (sustainable development) của Liên Hợp Quốc và của Định

hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Bộ

Kế hoạch và Đầu tư).

Phát triển du lịch bền vững là một chủ đề được thảo luận rất nhiều ở các hội

nghị và diễn đàn lớn nhỏ trên tồn thế giới. Mục đích chính của phát triển bền vững là

để 3 trụ cột của du lịch bền vững - Mơi trường, Văn hóa xã hội và Kinh tế - được phát

triển một cách đồng đều và hài hòa.

Những lí do đi sâu vào chi tiết để giải thích tại sao lại cần phát triển du lịch bền

vững thì có nhiều, nhưng có thể thấy rất rõ ở 3 yếu tố từ định nghĩa trên:

Thứ nhất: Phát triển du lịch bền vững giúp bảo vệ môi trường sống. Vì bảo vệ

mơi trường sống khơng chỉ đơn giản là bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm sống

trong mơi trường đó, mà nhờ có việc bảo vệ môi trường sống mà con người được

hưởng lợi từ đó: Khơng bị nhiễm độc nguồn nước, khơng khí và đất. Đảm bảo sự hài

hòa về mơi trường sinh sống cho các loài động thực vật trong vùng cũng là giúp cho

môi trường sống của con người được đảm bảo.

Thứ hai: Phát triển du lịch bền vững còn giúp phát triển kinh tế, ví dụ, từ việc

khai thác các đặc sản văn hóa của vùng, người dân trong vùng có thể nâng cao đời

sống nhờ khách du lịch đến thăm quan, sử dụng những dịch vụ du lịch và sản phẩm

đặc trưng của vùng miền, của vùng. Phát triển du lịch bền vững cũng giúp người làm

du lịch, cơ quan địa phương, chính quyền và người tổ chức du lịch được hưởng lợi, và

người dân địa phương có cơng ăn việc làm.

Thứ ba: Phát triển du lịch bền vững còn đảm bảo các vấn đề về xã hội, như việc

giảm bớt các tệ nạn xã hội bằng việc cung cấp công ăn việc làm cho người dân trong

vùng. Ở một cái nhìn sâu và xa hơn, du lịch bền vững giúp khai thác nguồn tài nguyên

một cách có ý thức và khoa học, đảm bào cho các nguồn tài nguyên này sinh sôi và

phát triển để thế hệ sau, thế hệ tương lai có thể được tiếp nối và tận dụng.



Với ba lí do được đề cập đến ở bên trên, ta có thể thấy rõ vai trò và tầm quan

trọng của phát triển du lịch bền vững trong chính sách phát triển bền vững ở Việt

Nam cũng như trên thế giới. Phát triển du lịch bền vững để có thể đạt được 3 yếu tố

đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự làm việc nghiêm chỉnh trong lúc thực hiện, đặc

biệt đối với một nước nền kinh tế còn nghèo và còn nhiều phụ thuộc như Việt Nam,

cùng với việc phát triển dân số, hệ thống luật lệ chồng chéo, và hệ thống hành

chánh còn nhiều yếu kếm.

2.2.4. Các tiêu chuẩn đánh giá du lịch bền vững toàn cầu

Tiêu chuẩn du lịch bền vững toàn cầu hướng tới 4 mục tiêu chính: hoạch định

phát triển bền vững và hiệu quả, nâng cao lợi ích kinh tế xã hội cho cộng đồng địa

phương, gìn giữ di sản văn hóa và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đối với môi

trường. Những tiêu chuẩn này là một phần trong các nỗ lực của cộng đồng kinh doanh

du lịch trước những thách thức toàn cầu hướng đến mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.

Xóa đói giảm nghèo và bảo vệ mơi trường – bao gồm cả vấn đề biến đổi khí hậu – là

những vấn đề chính được đề cập trong bộ tiêu chuẩn này.

Bắt đầu từ năm 2007, Hiệp hội Tiêu chuẩn toàn cầu về du lịch bền vững – một

liên minh với 27 tổ chức thành viên, đã nhóm họp các nhà lãnh đạo để cùng nhau phát

triển bộ tiêu chuẩn du lịch bền vững. Trong vòng 15 tháng Hiệp hội này đã trao đổi,

thảo luận với các chuyên gia về tính bền vững của ngành du lịch và phân tích 4.500

tiêu chí của hơn 60 chứng chỉ hiện hành với sự tham gia của hơn 80.000 người bao

gồm những nhà bảo tồn, các nhà lãnh đạo ngành, các cơ quan chức năng của chính phủ

và Liên hợp quốc.

Theo các chuyên gia, những tiêu chuẩn này chỉ là bước khởi đầu trong tiến trình

hướng đến một tiêu chuẩn chung áp dụng trong tất cả các hình thức hoạt động của du

lịch. Bộ tiêu chuẩn này chỉ đưa ra những việc nên làm, song không chỉ ra cách thức

thực hiện hay xác định tính khả thi của mục tiêu. Vì vậy, vai trò bổ sung của việc quản

lý giám sát cùng với công cụ giáo dục truyền thông và các cách tiếp cận sẽ là những

yếu tố không thể thiếu để góp phần hồn thiện.

(1) Quản lý hiệu quả và bền vững

- Các công ty du lịch cần thực thi một hệ thống quản lý bền vững, phù hợp với

quy mơ và thực lực của mình để bao qt các vấn đề về mơi trường, văn hóa xã hội,

chất lượng, sức khỏe và an toàn.

- Tuân thủ các điều luật và quy định có liên quan trong khu vực và quốc tế.

- Tất cả nhân viên được đào tạo định kỳ về vai trò của họ trong quản lý mơi

trường, văn hóa xã hội, sức khỏe và các thói quen an tồn.



- Cần đánh giá sự hài lòng của khách hàng để có các biện pháp điều chỉnh

phù hợp.

- Quảng cáo đúng sự thật và không hứa hẹn những điều khơng có trong chương

trình kinh doanh.

- Thiết kế và thi công cơ sở hạ tầng: (i) Chấp hành những quy định về bảo tồn

di sản tại địa phương; (ii) Tôn trọng những di sản thiên nhiên và văn hóa địa phương

trong công tác thiết kế, đánh giá tác động, quyền sở hữu đất đai và lợi nhuận thu được;

(iii) Áp dụng các phương pháp xây dựng bền vững thích hợp tại địa phương; (iv) Đáp

ứng yêu cầu của các cá nhân có nhu cầu đặc biệt.

- Cung cấp thơng tin cho khách hàng về mơi trường xung quanh, văn hóa địa

phương và di sản văn hóa, đồng thời giải thích cho khách hàng về những hành vi

thích hợp khi tham quan các khu vực tự nhiên, các nền văn hóa và các địa điểm di

sản văn hóa.

(2) Gia tăng lợi ích kinh tế xã hội và giảm thiểu tác động tiêu cực đến cộng đồng địa

phương

- Công ty du lịch tích cực ủng hộ các sáng kiến phát triển cơ sở hạ tầng xã hội

và phát triển cộng đồng như xây dựng cơng trình giáo dục, y tế và hệ thống thốt nước.

- Sử dụng lao động địa phương, có thể tổ chức đào tạo nếu cần thiết, kể cả đối

với vị trí quản lý.

- Các dịch vụ và hàng hóa địa phương nên được doanh nghiệp bày bán rộng rãi

ở bất kỳ nơi nào có thể.

- Cơng ty du lịch cung cấp phương tiện cho các doanh nghiệp nhỏ tại địa

phương để phát triển và kinh doanh các sản phẩm bền vững đựa trên đặc thù về thiên

nhiên, lịch sử và văn hóa địa phương (bao gồm thức ăn, nước uống, sản phẩm thủ

công, nghệ thuật biểu diễn và các mặt hàng nông sản).

- Thiết lập một hệ thống quy định cho các hoạt động tại cộng đồng bản địa hay

địa phương, với sự đồng ý và hợp tác của cộng đồng

- Cơng ty phải thi hành chính sách chống bóc lột thương mại, đặc biệt đối với

trẻ em và thanh thiếu niên, bao gồm cả hành vi bóc lột tình dục.

- Đối xử cơng bằng trong việc tiếp nhận các lao động phụ nữ và người dân tộc

thiểu số, kể cả ở vị trí quản lý, đồng thời hạn chế lao động trẻ em.

- Tuân thủ luật pháp quốc tế và quốc gia về bảo vệ nhân công và chi trả lương

đầy đủ.

- Các hoạt động của công ty không được gây nguy hiểm cho nguồn dự trữ cơ

bản như nước, năng lượng hay hệ thống thoát nước của cộng đồng lân cận.



(3) Gia tăng lợi ích đối với các di sản văn hóa và giảm nhẹ các tác động tiêu cực

- Tuân thủ các hướng dẫn và quy định về hành vi ứng xử khi tham quan các

điểm văn hóa hay lịch sử, nhằm giảm nhẹ các tác động từ du khách.

- Đồ tạo tác khảo cổ hay lịch sử không được phép mua bán hay trưng bày, trừ

khi được pháp luật cho phép.

- Có trách nhiệm đóng góp cho cơng tác bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, khảo

cổ và các tài sản có ý nghĩa quan trọng về tinh thần, tuyệt đối không cản trở việc tiếp

xúc của cư dân địa phương.

- Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của cộng đồng địa phương khi sử dụng nghệ

thuật, kiến trúc hay các di sản văn hóa của địa phương trong hoạt động kinh doanh,

thiết kế, trang trí, ẩm thực.

(4) Gia tăng lợi ích mơi trường và giảm nhẹ tác động tiêu cực

- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: (i) Ưu tiên buôn bán những sản phẩm thân

thiện môi trường như vật liệu xây dựng, thức ăn và hàng tiêu dùng; (ii) Cân nhắc khi

buôn bán các sản phẩm tiêu dùng khó phân hủy và cần tìm cách hạn chế sử dụng các

sản phẩm này; (iii) Tính tốn mức tiêu thụ năng lượng cũng như các tài nguyên khác,

cần cân nhắc giảm thiểu mức tiêu dùng cũng như khuyến khích sử dụng năng lượng tái

sinh; (iv) Kiểm soát mức tiêu dùng nước sạch, nguồn nước và có biện pháp hạn chế

lượng nước sử dụng.

- Giảm ơ nhiễm: (i) Kiểm sốt lượng khí thải nhà kính và thay mới các dây

chuyền sản xuất nhằm hạn chế hiệu ứng nhà kính, hướng đến cân bằng khí hậu; (ii)

Nước thải, bao gồm nước thải sinh hoạt phải được xử lý triệt để và tái sử dụng; (iii)

Thực thi kế hoạch xử lý chất thải rắn với mục tiêu hạn chế chất thải không thể tái sử

dụng hay tái chế; (iv) Hạn chế sử dụng các hóa chất độc hại như thuốc trừ sâu, sơn,

thuốc tẩy, thay thế bằng các sản phẩm không độc hại, quản lý chặt chẽ các hóa chất

được sử dụng; (v) Áp dụng các quy định giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn, ánh sáng, nước

thải, chất gây xói mòn, hợp chất gây suy giảm tầng ozon và chất làm ơ nhiễm khơng

khí, đất.

- Bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên: (i) Các loài sinh

vật hoang dã khai thác từ tự nhiên được tiêu dùng, trưng bày hay mua bán phải tuân

theo quy định nhằm đảm bảo việc sử dụng là bền vững; (ii) Khơng được bắt giữ các

lồi sinh vật hoang dã, trừ khi đó là hoạt động điều hòa sinh thái. Tất cả những sinh vật

sống chỉ được bắt giữ bởi những tổ chức có đủ thẩm quyền và điều kiện ni dưỡng,

chăm sóc chúng; (iii) Việc kinh doanh có sử dụng các lồi sinh vật bản địa cho trang

trí và tơn tạo cảnh quan cần áp dụng các biện pháp ngăn ngừa các loài sinh vật ngoại



lai xâm lấn; (iv) Đóng góp ủng hộ cho hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, bao gồm

việc hỗ trợ cho các khu bảo tồn thiên nhiên và các khu vực có giá trị đa dạng sinh học

cao; (v) Các hoạt động tương tác với môi trường không được có bất kỳ tác hại nào đối

với khả năng tồn tại của quần xã sinh vật, cần hạn chế, phục hồi mọi tác động tiêu cực

lên hệ sinh thái cũng như có một khoản phí đóng góp cho hoạt động bảo tồn.

2.3. Du lịch dựa vào cộng đồng.

2.3.1. Cộng đồng và du lịch dựa vào cộng đồng.

2.3.1.1. Lý thuyết về cộng đồng.

Cộng đồng là một khái niệm lý thuyết cũng như thực hành xuất hiện vào những

năm 1940 tại các nước thuộc địa của Anh. Năm 1950, Liên hiệp quốc cơng nhận khái

niệm phát triển cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như

một công cụ để thực hiện các chương trình viện trợ quy mơ lớn về kĩ thuật, phương

pháp và tài chính vào thập niên 50, 60 của thế kỷ XX.

Trước hết, quan điểm về cộng đồng đề cập đến các yếu tố con người với phạm

vi địa lý, mối quan hệ và mục đích chung trong phát triển và bảo tồn cộng đồng đó.

Theo Keith và Ary, 1998 thì “Cộng đồng là một nhóm người, thường sinh sống trên

cùng khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng một nhóm. Những người trong

cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hơn nhân và có thể thuộc

cùng một nhóm tơn giáo, một tầng lớp chính trị”.

Như vậy, mặc dù các cộng đồng có thể có nhiều cái chung, nhưng sẽ trở nên

phức tạp nếu cho rằng họ là một nhóm đồng nhất. Các cộng đồng có thể bao gồm

nhiều nhóm riêng như nơng dân và thị dân, người giàu và người nghèo, người định cư

lâu và người mới định cư... Các nhóm quyền lợi khác nhau trong một cộng đồng

dường như bị các thay đổi liên quan đến du lịch tác động đến một cách khác nhau. Các

nhóm ấy phản ứng trước những thay đổi đó như thế nào phụ thuộc vào mối quan hệ họ

hàng, tôn giáo, chính trị và các mối ràng buộc mạnh mẽ đã được phát triển giữa các

thành viên qua nhiều thế hệ. Tùy thuộc vào một vấn đề, một cộng đồng có thể đoàn kết

hay chia rẽ về tư tưởng hay hành động (United Nation Food and Agriculture

Organisation, 1990).

Khái niệm Cộng đồng (community) là một trong những khái niệm xã hội học,

bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ cho đến các tổ chức ít có cấu

trúc chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá phân tán, được liên kết bằng lợi ích chung

trong một không gian tạm thời, dài hay ngắn như phong trào quần chúng, công chúng,

khán giả, đám đông,... Bên cạnh đó, còn có một cách nhìn nhận khác, coi cộng đồng



như một đặc thù chỉ có ở nền văn minh con người, ở đó con người hợp tác với nhau

nhờ những lợi ích chung.

Tại Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng được giới thiệu vào

giữa những năm 1950 thông qua một số hoạt động phát triển cộng đồng tại các tỉnh

phía Nam, trong lĩnh vực giáo dục. Từ ngành giáo dục, phát triển cộng đồng chuyển

sang lĩnh vực công tác xã hội. Đến những năm 1960 - 1970, hoạt động phát triển cộng

đồng được đẩy mạnh thơng qua các chương trình phát triển nơng thơn của sinh viên

hay của phong trào Phật giáo.

Từ thập niên 80 của thế kỷ trước cho đến nay, phát triển cộng đồng được biết

đến một cách rộng rãi hơn thông qua các chương trình viện trợ phát triển của nước

ngồi tại Việt Nam, có sự tham gia của người dân tại cộng đồng như một nhân tố

quyết định để chương trình đạt được hiệu quả bền vững. Các đường lối và phương

pháp cơ bản về phát triển cộng đồng đã được triển khai trên thực tiễn ở Việt Nam,

bằng các nhân sự trong nước với cả những thành công và thất bại. Bộ môn “phát triển

cộng đồng và tổ chức cộng đồng” được giảng dạy trong một số trường đại học ở phía

Nam với giáo trình được biên soạn như một môn cơ bản.

2.3.1.2. Du lịch dựa vào cộng đồng.

Xuất phát từ những nghiên cứu về lý thuyết cộng đồng, cùng với những nỗ lực

nhằm phát triển cộng đồng, nâng cao đời sống cộng đồng,các lý thuyết về du lịch cộng

đồng hay du lịch dựa vào cộng đồng đã được nghiên cứu, đề xuất và ứng dụng.

Thuật ngữ du lịch cộng đồng (DLCĐ) xuất phát từ hình thức du lịch làng bản

ngay từ những năm 1970 ở các nước thuộc khu vực châu Âu, châu Mỹ và châu Úc.

Mục đích khái niệm này đầu tiên do du khách đưa ra. Khách du lịch tham quan các

làng bản, tìm hiểu về đời sống sinh hoạt, phong tục, tập quán, khám phá hệ sinh thái

của vùng núi non, các cuộc du ngoạn này thường được tổ chức tại các vùng rừng núi.

Phần lớn còn mang tính chất hoang dã, địa hình hiểm trở, nhưng lại rất thưa dân cư,

các điều kiện đi lại, sinh hoạt gặp rất nhiều khó khăn. Những lúc như vậy, du khách

cần tới sự giúp đỡ của những người dân bản địa như dẫn đường khỏi bị lạc, nơi nghỉ

qua đêm… Khách du lịch thường gọi những chuyến đi đó là những chuyến đi có sự hỗ

trợ của người dân địa phương. Đây chính là tiền đề cho sự phát triển các loại hình

DLCĐ như hiện nay. DLCĐ chính thức được hình thành và phát triển mạnh mẽ tại các

nước Châu Phi, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc những năm 80 –90 của thế kỷ trước. Sau

đó lan rộng sang khu vực châu Á trong đó có các nước khu vực ASEAN như

Inđônêxia, Philippin, Thái Lan, Việt Nam...



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.3: Mô hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×