Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.1: Một số công cụ đánh giá và loại thang đo được sử dụng

Bảng 1.1: Một số công cụ đánh giá và loại thang đo được sử dụng

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tuy nhiên vấn đề sử dụng loại đo lường nào cũng gắn với phương pháp đánh

giá, phổ biến hơn cả, các thang đo lường chủ quan thường được sử dụng trong các

nghiên cứu kết hợp sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierachy

Process-AHP) hay phân tích mạng (Analytic Network Process-ANP), thực chất

phương pháp phân tích mạng là phương pháp tổng quan của AHP, một công cụ hỗ trợ

ra quyết định đa tiêu chuẩn được giới thiệu bởi Saaty (1980, 1996) để phân chia một

vấn đề phức tạp thành một mạng lưới có hệ thống. Bộ cơng cụ thang đo tính bền vững

– AHP đã được sử dụng trong các nghiên cứu của García-Melón (2012), Lin (2012),

Uzun (2015). Bên cạnh đó các nghiên cứu sử dụng thang đo chủ quan cũng thường

được kết hợp một phương pháp tranh luận là Delphi, sự thảo luận có bài bản này diễn

ra giữa các chuyên gia nhằm lựa chọn các tiêu chí cho việc đánh giá sự bền vững.

Trong khi đó, các nghiên cứu sử dụng thang đo khách quan lại sử dụng dữ liệu là các

chỉ số khách quan và sử dụng một số công cụ khác khá phức tạp như AMOEBA (Ko,

2001), phương pháp phân tích thành phần chính (Blancas, 2009), dấu chân sinh thái

(LI, 2011), mơ hình tuyến tính tích lũy (Azizi, 2011),…

Các nghiên cứu của Việt Nam thường không sử dụng thang đo rõ ràng để đo

lường mức độ bền vững mà chỉ dừng lại ở phân tích mô tả và đưa ra đánh giá dựa trên

một số tiêu chí để kết luận về tính bền vững (Bạch Thị Lan Anh, 2011; Trịnh Kim

Liên, 2013; Châu Quốc Tuấn, 2014). Trong nghiên cứu của La Nữ Ánh Tuyết (2011),

tác giả đã xác định được bộ tiêu chí đánh giá có cơ sở và sử dụng thang đo khách

quan, tuy nhiên chỉ áp dụng thang đánh giá cho từng tiêu chí và kết luận được tính bền

vững cho từng tiêu chí đó.



1.2. Hạn chế của các nghiên cứu trước và điểm mới của nghiên cứu này

Thứ nhất, về địa bàn nghiên cứu, bản Lác (Mai Châu) được nhìn nhận là một

trong những mơ hình du lịch dựa vào cộng đồng thành công tại Việt Nam, không chỉ là

điểm đến du lịch hấp dẫn mà còn đáp ứng được các tiêu chí du lịch bền vững và vận

hành hiệu quả (Nguyễn Thị Hường, 2011; Đào Ngọc Anh, 2016). Tuy nhiên, chưa có

nghiên cứu nào được thực hiện để đánh giá mơ hình du lịch bản Lác một cách bài bản

và căn cứ vào các phương pháp định lượng để rút ra kết luận về tính bền vững tại đây.

Hầu hết việc đề cập đến tính bền vững của mơ hình này đều nằm trong các nghiên cứu

đánh giá chung phát triển du lịch cộng đồng đã được thực hiện từ khá lâu (Bùi Thanh

Hương và cộng sự, 2007). Trong nghiên cứu này mặc dù có sự tìm hiểu qua nhiều khía

cạnh khác nhau nhưng tác giả chỉ nhìn nhận một cách chủ quan và thiếu cơ sở đánh giá

chặt chẽ và và không kết luận được về mức độ bền vững tại đây. Nghiên cứu này sẽ áp

dụng một cách thức đánh giá có bài bản và căn cứ để kết luận về tính bền vững, đồng

thời chỉ ra các khía cạnh thiếu bền vững của mơ hình du lịch vốn được coi là thành

công này.

Thứ hai, về phương pháp đánh giá, nghiên cứu kế thừa bộ công cụ đánh giá

thang đo tính bền vững – AHP đã được dùng trong các nghiên cứu của García-Melón

(2012), Lin (2012) và Uzun (2015) nhưng được đơn giản hóa giúp cho việc đánh giá

trở nên ít phức tạp hơn. Như trong nghiên cứu của Lin (2012) để xác định mức độ bền

vững qua một giá trị số (điểm bền vững) cần phải sử dụng kết hợp lý thuyết mờ (Fuzzy

Theory) nhưng lý thuyết này khá phức tạp về mặt tốn học. Vì vậy nhóm nghiên cứu

sử dụng thang đánh giá 5 điểm (đã được ứng dụng trong nghiên cứu của D. Rio và

cộng sự, 2012) kết hợp với việc đánh trọng số cho các tiêu chí bằng AHP để xác định

điểm bền vững cho cả mơ hình, cách làm này cũng dựa trên cách tính giá trị bền vững

của thước đo sự bền vững (Barometer of Sustainability) của IUCN (1996). Thêm vào

đó, tại Việt Nam phương pháp AHP đã được sử dụng khá rộng rãi trong các nghiên cứu

và thực hành để xác định phương án ra quyết định tối ưu trong rất nhiều lĩnh vực kinh

tế, xã hội, quản lý,.. nhưng rất khó tìm được nghiên cứu nào áp dụng phương pháp này

để đánh giá tính bền vững của du lịch, trong khi đó nó đã được ứng dụng ở nhiều quốc

gia khác.

Thứ ba, về thang đo đánh giá tính bền vững, nghiên cứu này lần đầu đưa ra một

hệ thống chỉ số (biến đo lường) chủ quan dựa trên tổng hợp có chọn lọc từ các nghiên

cứu trước, kết hợp nghiên cứu thực địa để đánh giá mức độ bền vững của du lịch bản

Lác về phương diện cộng đồng địa phương, kết quả nghiên cứu cho thấy thang đo có

độ tin cậy cao và phát hiện được những vấn đề đặc trưng tại địa bàn nghiên cứu. Thang

đo này có thể được sử dụng để tiếp tục đánh giá tính bền vững của địa phương trong

tương lai.



CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC ĐỀ TÀI

2.1. Phát triển bền vững

2.1.1. Sự hoàn thiện quan niệm phát triển bền vững

Quan niệm phát triển bền vững ra đời và hoàn thiện trong một khoảng thời gian

tương đối dài, mà điểm xuất phát ban đầu là sự quan tâm đến mối quan hệ giữa phát

triển kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái. Ngay từ đầu những năm 60 của thế kỷ

XX, khi việc sử dụng thuốc trừ sâu DDT ở Mỹ gây nên những hiểm họa đối với môi

trường tự nhiên bị tiết lộ qua cuốn sách “Mùa xuân câm lặng” của nữ văn sĩ Rachel

Carson (Mỹ - 1962) thì nhận thức của người dân Mỹ về mơi trường đã thay đổi, làm

khởi động các phong trào bảo vệ mơi trường và góp phần thúc đẩy các chính sách về

môi trường của đất nước này.

Tiếp đến năm 1968, Câu lạc bộ Rome- một tổ chức phi chính phủ ra đời với

mục đích hỗ trợ cho việc nghiên cứu “Những vấn đề các thế giới” bao gồm các lĩnh

vực chính trị, văn hóa, xã hội, mơi trường và cơng nghệ trên tồn cầu với tầm nhìn dài

hạn. Tổ chức này đã tập hợp những nhà lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới. Trong

nhiều năm, câu lạc bộ Rome đã công bố, một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả

bản báo cáo Giới hạn của sư tăng trưởng- được xuất bản năm 1972- đề cập tới hậu quả

của việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên… Có thể nói

thập niên 70 của thế kỷ XX là thập niên diễn ra nhiều hoạt động của Liên hợp quốc

hướng vào vấn đề bảo vệ mơi trường trong q trình phát triển. Năm 1970, UNESCO

thành lập Chương trình Con người và Sinh quyển, với mục tiêu là phát triển cơ sở

khoa học cho việc sử dụng hợp lý và bảo tồn các môi trường. Đến năm 1972, Hội nghị

của Liên hợp quốc (LHQ) về Con người và Môi trường được tổ chức tại Stockholm

(Thụy Điển) được đánh giá là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn

thể nhân loại, nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường.

Năm 1980, tiếp theo Hội nghị Stockholm, các tổ chức bảo tồn như Hiệp hội

Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Chương Môi trường đưa ra “Chiến lược bảo tồn

thế giới”. Chiến lược này thúc giục các nước soạn thảo các chiến lược bảo tồn quốc

gia của mình. Từ khi Chiến lược bảo tồn thế giới được cơng bố tới nay, đã có trên 60

chiến lược bảo tồn quốc gia được phê duyệt. Trong chiến lược này, thuật ngữ “Phát

triển bền vững” lần đầu tiên được nhắc tới, tuy nhiên mới chỉ nhấn mạnh ở góc độ bền

vững sinh thái. Tiếp theo Chiến lược này, một cơng trình khoa học có tiêu đề “Cứu lấy

Trái Đất- Chiến lược cho cuộc sống bền vững “ đã được IUCN, UNEP và WWF soạn

thảo và công bố (1991)



Năm 1987, Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển xuất bản báo cáo

“Tương lai của chúng ta” mà ngày nay thường gọi là Brundtland. Bản báo cáo này lần

đầu tiên cơng bố chính thức thuật ngữ “Phát triển bền vững”, đưa ra sự định nghĩa

cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài. Bản

báo cáo đã góp phần tích cực vào việc phổ cập khái niệm phát triển bền vững trên quy

mơ tồn cầu, là điểm khởi đầu cho nhiều nghiên cứu tiếp theo nhằm làm sáng tỏ thêm

thuật ngữ phát triển bền vững.

Năm 1992, Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCED)

(Hay còn gọi là Hội nghị thượng đình về Trái đất) được tổ chức tại Rio de Janeiro

(Brazil). Tại hội nghị, “Phát triển bền vững” được định nghĩa một cách chính thức. Tại

đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một

chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21

(Agenda 21). Chương trình Nghị sự 21 về Phát triển bền vững đã trở thành chiến lược

phát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI, và “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”, với 8

nội dung (xóa đói, giảm nghèo; phổ cập giáo dục tiểu học; thúc đẩy bình đẳng giới,

đồng thời nâng cao quyền lợi của nữ giới; giảm tỷ lệ trẻ em tử vong; cải thiện và đảm

bảo sức khỏe sản phụ; đấu tranh với các bệnh tật như HIV, sốt xuất huyết; bảo vệ mơi

trường; thúc đẩy phát triển hợp tác tồn cầu) đã được tập trung thực hiện.

Từ năm 2002, nội dung “Phát triển bền vững” mang tính bao quát trên phạm vi

toàn cầu trở thành mục tiêu phấn đấu của toàn nhân loại, cũng như của từng quốc gia,

từng dân tộc và từng nhóm cộng đồng.

2.1.2. Khái niệm phát triển bền vững

Khái niệm “Phát triển bền vững” (PTBV) xuất hiện trong phong trào “Bảo vệ

môi trường” (BVMT) từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, từ đó đến

nay đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra, như:

– Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh, dựa trên việc

sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và BVMT, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng

không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau.

– Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ tăng trưởng

cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên

thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng

nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại

hậu quả về môi trường cho thế hệ tương lai.

– Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm

thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ.



Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our common future) của

Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “Phát

triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng

không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Định nghĩa này

được nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới thừa nhận và sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên

định nghĩa này thiên về đưa ra mục tiêu, yêu cầu cho sự PTBV, mà chưa nói đến bản

chất các quan hệ nội tại của quá trình phát triển bền vững.

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn, đó là:

“Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một q trình sản

xuất với bảo tồn tài ngun và nâng cao chất lượng môi trường. Phát triển bền vững

cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng

của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Định nghĩa này đã đề

cập cụ thể hơn về mối quan hệ ràng buộc giữa sự đáp ứng nhu cầu hiện tại với khả

năng đáp ứng nhu cầu tương lai, thơng qua lồng ghép q trình sản xuất với các biện

pháp bảo toàn tài nguyên, nâng cao chất lượng môi trường. Tuy vậy, định nghĩa này

vẫn chưa đề cập được tính bản chất của các quan hệ giữa các yếu tố của phát triển bền

vững và chưa đề cập đến các nhóm nhân tố cụ thể mà q trình phát triển bền vững

phải đáp ứng (tuân thủ) cùng một lúc, đó là nhóm nhân tố tạo ra tăng trưởng kinh tế,

nhóm nhân tố tác động thay đổi xã hội, bao gồm thay đổi cả văn hố và nhóm nhân tố

tác động làm thay đổi tài nguyên, môi trường tự nhiên.

Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Rio- 92 và

được bổ sung, hoàn chỉnh tại hội nghị Johnannesburg-2002: “Phát triển bền vững là

quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát

triển, đó là: phát triển kinh tế, cơng bằng xã hội và bảo vệ mơi trường.” Ngồi ba mặt

chủ yếu này, có nhiều người còn đề cập tới những khía cạnh khác của phát triển bền

vững như chính trị, văn hóa, tinh thần. dân tộc… và đòi hỏi phải tính tốn và cân đối

chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế- xã hội cho

từng quốc gia, từng địa phương cụ thể.

Như vậy, có thể định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được

nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của

các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo

đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trưởng.”

2.1.3. Các mô hình phát triển bền vững

Có nhiều lý thuyết, mơ hình mô tả nội dung của phát triển bền vững. Theo

Jacobs và Sedlera, thì phát triển bển vững là kết quả của các tương tác qua lại và phụ

thuộc lẫn nhau của ba hệ thống chủ yếu của thế giới: Hệ thống kinh tế (hệ sản xuất và



phân phối sản phẩm; hệ thống xã hội (quan hệ của con người trong xã hội); hệ thống tự

nhiên (bao gồm các hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành phần mơi

trường của Trái Đất). Trong mơ hình này, sự phát triển bền vững khơng cho phép vì sự ưu

tiên của hệ này dễ gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với hệ khác, hay phát triển bển vững

là sự dung hoà các tương tác và thoả hiệp giữa ba hệ thống chủ yếu trên.

Hình 2.1: Mơ hình phát triển bền vững của Jacobs và Sadler



Hệ xã hội



Hệ kinh tế



Hệ tự nhiên

Nguồn: Jacobs và Sadler (1990)

Theo mơ hình của ngân hàng thế giới. phát triển bền vững được hiểu là sự phát

triển kinh tế xã hội để đạt được đồng thời các mục tiêu kinh tế (tăng trưởng kinh tế,

công bằng trong phân phối thu nhập, hiệu quả kinh tế của sản xuất cao), mục tiêu xã

hội (công bằng dân chủ trong quyền lợi và nghĩa vụ xã hội), mục tiêu sinh thái (báo

đảm cân bằng sinh thái và bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên nuôi dưỡng con người).

Hình 2.2: Mơ hình phát triển bền vững của ngân hàng thế giới

Mục tiêu kinh tế



Phát triển bền

vững



Mục tiêu sinh thái



Mục tiêu xã hội

Nguồn: Ngân hàng thế giới



Trong mơ hình của Hội đồng về Mơi trường và phát triển bền vững thế giới

(WCED) 1987, thì tập trung trình bày quan niệm phát triển bền vững theo các lĩnh vực

như kinh tế, chính trị, hành chính, cơng nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội.

Còn trong mơ hình của Villen 1990 thì trình bày các nội dung cụ thể để duy trì

sự cân bằng của mối quan hệ kinh tế – sinh thái – xã hội trong quá trình phát triển kinh

tế xã hội của các quốc gia.

Hình 2.3: Mơ hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn



Kinh tế



Xã hội



Môi trường



Nguồn: Villen 1990

Nội dung phát triển bền vững được xã định bao gồm ba trụ cột:

– Bền vững về kinh tế: Một hệ thống bến vững về kinh tế phải có thể tạo ra

hàng hố và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm sốt của chính phủ và

nợ nước ngồi, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến sản xuất nông

nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.

– Bền vững về xã hội: Một hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự

công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáo dục,

bình đẳng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị của mọi cơng dân.

– Bền vững về môi trường: Một hệ thống bền vững về môi trường phải duy trì

nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh

hay những vận động tiềm ẩn của môi trường và việc khai thác các nguồn lực không tái

tạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ. Điều này bao gồm

việc duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác

mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế.

Ba trụ cột của phát triển kinh tế nêu trên là mục tiêu cần đạt được trong quá

trình phát triển, đồng thời là ba nội dung hợp thành quá trình hát triển trong điều kiện

hiện đại. Sự phát triển hiện đại không chỉ là sự phát triển với nền kinh tế thị trường



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.1: Một số công cụ đánh giá và loại thang đo được sử dụng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×