Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ VÀ THẢO LUẬN VỀ MỨC ĐỘ BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH DU LỊCH BẢN LÁC

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ VÀ THẢO LUẬN VỀ MỨC ĐỘ BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH DU LỊCH BẢN LÁC

Tải bản đầy đủ - 0trang

tin cậy cao. Kết quả khảo sát đủ điều kiện được sử dụng để tiến hành thực hiện các bước

nghiên cứu tiếp theo.

4.2. Mức độ quan trọng (trọng số) của các tiêu chí, nhóm tiêu chí từ phân tích AHP

Trọng số của các tiêu chí khơng chỉ cho phép thực hiện tính tốn điểm bền vững

mà còn thể hiện mức độ ưu tiên (mức độ đóng góp) của chúng trong thực hiện chiến

lược phát triển du lịch, căn cứ vào đó nhà quản lý có thể biết vấn đề gì cần được quan

tâm nhiều hơn. Kết quả cho thấy đối với 4 tiêu chí lớn về phát triển du lịch bền vững

trọng số của chúng khơng có sự chênh lệch nhiều xong vẫn thể hiện độ ưu tiên khá rõ

ràng, Kinh tế được đánh giá là quan trọng nhất với trọng số 0,281; ít được ưu tiên nhất

là Cộng đồng và phát triển du lịch với 0,219 trong khi hai tiêu chí Văn hóa – Xã hội

và Mơi trường có tầm quan trọng như nhau và bằng 0,25.

Biểu đồ 4.1: Mức độ đóng góp của các khía cạnh du lịch bền vững theo chuyên gia



Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả



Bảng 4.2: Bảng kết quả so sánh cặp các tiêu chí lớn về phát triển du lịch bền vững

Phát triển du lịch bền

vững

Kinh tế



Kinh

tế



Văn hóa –

Xã hội

8/9



Văn hóa – Xã hội



Môi

trường

8/9



Cộng đồng và phát

triển du lịch

7/9



8/8



7/8

7/8



Môi trường

Cộng đồng và phát triển

du lịch



Nguồn: Thu thập từ chuyên gia

Ở các cấp tiêu chí nhỏ hơn mức độ quan trọng cũng được thể hiện khá rõ ràng,

các tiêu chí thành phần có trọng số cao nhất bao gồm: Phân phối thu nhập (Kinh tế) –

0,667; Đời sống dân cư (Văn hóa – Xã hội) – 0,172; Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và môi

trường, Ý thức bảo vệ môi trường (Môi trường) được đánh giá là quan trọng ngang

nhau – 0,5; Hỗ trợ làm du lịch cho người dân địa phương (Cộng đồng và phát triển du

lịch) – 0,362.

Bảng 4.3: Kết quả đánh giá trọng số của chuyên gia về các tiêu chí

Tiêu chí



Trọng

số



Tiêu chí thành phần



Ổn định thu nhập

(0,000)

Kinh tế

(0,000)*



0,333



0,281

Phân phối thu nhập

(0,000)



Văn hóa

– Xã hội

(0,000)



Trọng

số



0,25



Mức độ bảo tồn đặc

trưng văn hóa địa

phương

(0,000)

Tác động bên ngồi đến

văn hóa

(0,000)



0,667



0,135



0,096



Thang đo

Sự ổn định thu nhập hộ

gia đình từ khi làm du

lịch

Thu nhập từ du lịch tốt

hơn nghề truyền thống

Người dân giữ lại được

phần lớn doanh thu du

lịch

Chính sách thuế, phí về

du lịch hợp lý

Trang phục

Nhà sàn

Điệu múa, bài hát dân tộc

Tiếng dân tộc

Lễ hội truyền thống

Mâu thuẫn văn hóa giữa

các dân tộc tại địa

phương

Sự xuất hiện của văn



Trọng

số

0,167

0,833

0,857

0,143

0,231

0,154

0,205

0,231

0,179

0,875

0,125



Mơi

trường

(0,000)



Ý thức lưu giữ văn

hóa dân tộc

(0,000)



0,154



Đóng góp kinh tế cho

bảo tồn tài nguyên nhân

văn

(0,000)



0,135



Cơ hội giáo dục

(0,000)



0,154



Đời sống dân cư

(0,000)



0,172



An ninh trật tự

(0,000)



0,154



Bảo vệ tài ngun tự

nhiên và mơi trường

(0,020)



0,5



0,25

Ý thức bảo vệ mơi

trường

(0,001)



0,5



hóa khác

Truyền tải văn hóa địa

phương cho khách du

lịch

Lưu giữ văn hóa của

người trẻ

Duy trì giao lưu văn hóa

từ nguồn thu du lịch

Khả năng nói và viết

chữ quốc ngữ

Đi học thuận tiện

Cải tạo nhà cửa

Nước sạch

Dịch vụ y tế

Điện

Mua hàng tiêu dung

Mức độ thường xuyên

xảy ra trộm cắp

Bảo vệ rừng

Bảo vệ đất nơng nghiệp

Ảnh hưởng của bê tơng

hóa đến cảnh quan

Xử lý rác thải

Tun truyền bảo vệ

mơi trường của chính

quyền địa phương

Ý thức của khách du

lịch

Hành động của cộng

đồng địa phương



0,25

0,75



1



0,539

0,461

0,152

0,273

0,242

0,273

0,06

1

0,179

0,203

0,354

0,263

0,209

0,403

0,389



Tương tác giữa người

dân và khách du lịch

(0,010)



Cộng

đồng và

phát

triển du

lịch

(0,010)



Hỗ trợ làm du lịch cho

người dân địa phương

0,219

(0,003)



Sức tải du lịch

(0,000)



0,318



0,362



0,32



Thái độ phản ứng khi

gặp khách du lịch

Khả năng sử dụng tiếng

Anh

Giao lưu văn hóa với

khách du lịch

Lợi ích nhận được từ

các khóa học du lịch

Hỗ trợ khác của nhà

nước

Tiếp thu ý kiến người

dân

Sự đáp ứng nhà ở

homestay khi quá đông

khách du lịch

Sự đáp ứng địa điểm tổ

chức các hoạt động giải

trí khi quá đông khách

du lịch



0,289

0,13

0,581

0,223

0,422

0,355

0,615



0,385



* Số trong ngoặc là kết quả tỷ lệ nhất quán CR



Nguồn: Xử lý số liệu bằng phần mềm Expert Choice

Đối với cấp tiêu chí nhỏ nhất là các biến thang đo, ngoài hai trường hợp đặc

biệt có trọng số bằng 1 là “Duy trì giao lưu văn hóa từ nguồn thu du lịch” và “Mức độ

thường xuyên xảy ra trộm cắp” do chỉ được đo lường bằng 1 biến thì ở các nhóm tiêu

chí khác mức độ quan trọng được thể hiện khá rõ ràng bởi sự chênh lệch trọng số đáng

kể. Kết quả tỷ số nhất quán CR cho biết tất cả các giá trị đều < 10%, như vậy đánh giá

của các chuyên gia là khá đồng nhất và độ tin cậy cao.

4.3. Điểm bền vững và thảo luận về tính bền vững của mơ hình du lịch bản Lác

Dựa vào cơng thức ở phần 2.4.4 điểm bền vững của mục tiêu (Goal) và các tiêu

chí lớn (Criteria) đã được tính tốn dựa trên kết quả đánh giá từ thang đo và trọng số

của các tiêu chí. Các tiêu chí thành phần và các chỉ số/thang đo cũng được đánh giá

mức độ đáp ứng u cầu.



Bảng 4.4: Điểm bền vững của mơ hình du lịch dựa vào cộng đồng tại bản Lác

Nội dung

đánh giá

Điểm bền

vững

Trạng thái

bền vững



Phát triển

du lịch bền

vững



Kinh tế



Văn hóa –

Xã hội



Môi trường



Cộng đồng

và phát triển

du lịch



66,26



73,02



73,59



58,25



58,38



Tiềm năng



Tiềm năng



Tiềm năng



Chưa bền

Chưa bền

vững

vững

Nguồn: Tổng hợp của tác giả



Kết quả tính tốn cho thấy tất cả các mức đểm sự bền vững đều nằm trong

khoảng 41-60 (Trung bình) và 61-80 (Bền vững tiềm năng), ngồi ra một số điểm đánh

giá các tiêu chí thành phần và thang đo ở dưới mức trung bình (20-40 điểm.) Cụ thể

điểm của các tiêu chí Kinh tế và Văn hóa – Xã hội lần lượt là 73,02 và 73,59 – đạt

trạng thái bền vững tiềm năng. Tiêu chí Mơi trường đạt điểm 58,25 và Cộng đồng và

phát triển du lịch là 58,38; hai tiêu chí này có điểm số nằm ở mức trung bình, tức là

chưa bền vững. Tuy nhiên nếu phân tích kỹ hơn ta có thể thấy điểm bền vững của hai

tiêu chí Mơi trường và Cộng đồng và phát triển du lịch gần đạt điểm tuyệt đối của

mức trung bình và nằm sát mức bền vững tiềm năng (61 điểm). Trong khi đó Kinh tế

và Văn hóa – Xã hội vượt qua mức bền vững tiềm năng cần thiết (70 điểm) và có thể

kết luận có khả năng duy trì ổn định trạng thái bền vững này. Biểu đồ 4.2 cho thấy sự

so sánh trực quan giữa mức độ bền vững của các khía cạnh này, các điểm bền vững

tiến càng sát về mốc 100 thì càng bền vững.

66,26 là điểm bền vững của cả mơ hình du lịch tại bản Lác, từ đó có thể kết luận

rằng mơ hình du lịch này đạt trạng thái bền vững tiềm năng. Bền vững tiềm năng

được hiểu là khả năng đạt được trạng thái bền vững trong tương lai và đang duy trì

một cách ổn định các yếu tố tạo nên sự bền vững, tuy nhiên điểm du lịch bản Lác vẫn

chưa chạm đến mức bền vững tiềm năng cần thiết (70 điểm). Phần dưới sẽ phân tích

kỹ hơn về các khía cạnh thiếu bền vững và một số vấn đề còn tồn tại của các khía cạnh

được đánh giá là bền vững.



Biểu đồ 4.2: Mức độ bền vững của của các tiêu chí lớn



Kinh tế

100

73.02

50

Cộng đồng và phát triển du lịch



66,26

58.38



0

58.25



Văn hóa - Xã hội

73.59



Mơi trường



Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả

4.3.1. Trạng thái bền vững của tiêu chí Kinh tế và Văn hóa – Xã hội (Bền

vững tiềm năng)

Như đã nói ở trên, hai khía cạnh Kinh tế và Văn hóa – Xã hội có mức độ bền

vững tiềm năng, điều này khẳng đinh du lịch bản Lác đã và đang cho thấy những tác

động thật sự tích cực đối với cộng đồng dân tộc sinh sống tại đây. Tất cả người dân địa

phương được khảo sát đều cho rằng du lịch giúp gia đình họ có thu nhập ổn định và tốt

hơn các nghề truyền thống trước đây như trồng lúa, dệt vải. Cuộc sống của họ trước

đây đều dựa chủ yếu vào các cơng việc đó, việc trồng lúa theo thời vụ chỉ có khả năng

đáp ứng đủ nhu cầu lương thực của gia đình, khơng sản xuất với sản lượng lớn nên gần

như không gia tăng được nguồn thu từ việc buôn bán lúa gạo. Công việc dệt vải và

nghề truyền thống và mang đậm bản sắc của người Thái tại đây, đây là nghề “có từ khi

sinh ra” và người Thái làm cơng việc này từ khi còn trẻ tuổi đến khi đã già, từ lúc còn

ít được biết đến, khách du lịch khơng nhiều và ít bán được hàng thì giờ thu nhập từ các

sản phẩm thủ cơng là khá tốt, bên cạnh việc dệt vải và các sản phẩm truyền thống

người dân địa phương còn cung cấp dịch vụ cho thuê đồ thổ cẩm và hợp tác với các

doanh nghiệp may mặc để cho ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu khách du lịch

hơn mà vẫn giữ được nét văn hóa đặc trưng. Cơng việc chủ yếu trong lĩnh vực du lịch

vẫn là cung cấp nhà ở homestay, rất nhiều nghề mới đã xuất hiện và giúp người dân

địa phương có thêm nhiều cơng ăn việc làm như lái xe, trồng hoa, cho thuê xe du lịch,

biểu diễn văn nghệ…



Bảng 4.5: Điểm bền vững và điểm đánh giá các tiêu chí về Kinh tế

Tiêu

chí



Kinh

tế



Điểm bền

vững



Tiêu chí

thành phần



Điểm

đánh giá



Ổn định thu

nhập



79,08



Phân phối

thu nhập



70,00



73,02



Thang đo



Điểm

đánh giá



Sự ổn định thu nhập hộ gia

76,21

đình từ khi làm du lịch

Thu nhập từ du lịch tốt hơn

79,66

nghề truyền thống

Người dân giữ lại được

73,45

phần lớn doanh thu du lịch

Chính sách thuế, phí về du

49,31

lịch hợp lý

Nguồn: Kết quả tính tốn của tác giả



Mặc dù lợi ích kinh tế của du lịch là khơng phải bàn cãi nhưng chính sách về

mặt kinh tế lại chưa có được sự đồng thuận của đa số người dân, sự hợp lý của chính

sách thuế và phí cho du lịch chỉ được đánh giá ở mức trung bình và chưa đáp ứng được

yêu cầu về mặt kinh tế, sự phàn nàn của họ tập trung vào hai ý kiến. Thứ nhất, chính

sách thuế phí khơng hợp lý và cân xứng với sự hỗ trợ của nhà nước cho việc làm du

lịch, điều này dễ hiểu bởi nhà nước bắt đầu thực hiện thu thuế chỉ khi du lịch tại đây đã

phát triển, trong khi hầu như toàn bộ việc tổ chức và thực hiện đều do người dân tự

vận động và tranh thủ sự giúp đỡ của làng xóm từ đầu, sự hỗ trợ của nhà nước cho

người dân phát triển du lịch là rất hạn chế. Thứ hai, có quan điểm cho rằng du lịch tại

bản Lác là du lịch homestay, khách du lịch trực tiếp ăn ngủ và trải nghiệm cuộc sống

cộng đồng địa phương vì vậy chỉ có thể coi như khách trong nhà, việc thu thuế là bất

hợp lý. Mặt khác, nhóm phát hiện ra rằng thuế du lịch tại đây là không cao và khá có

lợi cho phía cộng đồng, cụ thể một hộ gia đình làm du lịch homestay chỉ phải đóng

thuế mơn bài khoảng 300 nghìn đồng/năm và sự phàn nàn của người dân địa phương

không nhằm vào lượng thuế phải đóng. Vấn đề này yêu cầu cần phải có cách giải

quyết hợp cả lý và tình.



Bảng 4.6: Điểm bền vững và điểm đánh giá các tiêu chí về Văn hóa – Xã hội

Tiêu chí



Điểm

bền

vững



Tiêu chí thành phần



Mức độ bảo tồn đặc

trưng văn hóa địa

phương



Tác động bên ngồi

đến văn hóa



Văn hóa

– Xã

hội



73,59



Ý thức lưu giữ văn

hóa dân tộc



Điểm

đánh

giá



75,11



84,05



66,21



Đóng góp kinh tế

cho bảo tồn tài

nguyên nhân văn



47,24



Cơ hội giáo dục



84,64



Đời sống dân cư



71,72



An ninh trật tự



87,24



Chỉ số/Thang đo

Trang phục

Nhà sàn

Điệu múa, bài hát dân

tộc

Tiếng dân tộc

Lễ hội truyền thống

Sự mâu thuẫn văn hóa

giữa các dân tộc tại

địa phương

Sự xuất hiện của văn

hóa khác

Truyền tải văn hóa địa

phương cho khách du

lịch

Lưu giữ văn hóa của

người trẻ

Duy trì giao lưu văn

hóa từ nguồn thu du

lịch

Nói và viết chữ quốc

ngữ

Đi học thuận tiện

Cải tạo nhà cửa

Nước sạch

Dịch vụ y tế

Điện

Mua hàng tiêu dùng

Mức độ thường xun

xảy ra trộm cắp



Điểm

đánh

giá

76,21

73,45

53,45

86,55

85,17

84,48

81,03

67,24

65,86

47,24

86,55

82,41

81,72

83,79

72,76

54,14

67,24

87,24



Nguồn: Kết quả tính tốn của tác giả

Văn hóa là điểm sáng trong phát triển du lịch tại bản Lác, mơ hình du lịch dựa

vào cộng đồng tại đây còn được gọi là du lịch văn hóa. Các yếu tố về văn hóa được

người dân bảo vệ và lưu giữ một cách có ý thức, các tác động bên ngồi gần như

khơng gây ảnh hưởng đến các giá trị nhân văn tại địa phương. Tại bản Lác có nhiều

dân tộc cùng sinh sống và kết quả đánh giá cho thấy khơng hề có sự mâu thuẫn giữa

các dân tộc tại đây, theo cộng đồng địa phương các dân tộc tại bản có sự đồn kết cao



và hỗ trợ nhau trong mọi hoạt động, điều này có thể thấy trong các dịp lễ hội hay mỗi

khi một gia đình trong bản có việc lớn như xây nhà, cưới hỏi,… Ngồi ra dân của các

bản khác khơng được phép mua đất xây nhà trong Bản Lác, không phải dân bản địa sẽ

khơng được phép đầu tư, tồn bộ đất trong bản được truyền từ đời này sang đời khác.

Do đó, tính tiếp nối các thế hệ làm du lịch là rất rõ ràng. Mặc dù cuộc sống hiện nay

mang theo nhiều nền văn hóa mới lạ và hiện đại, người trẻ ở bản Lác vẫn có ý thức gìn

giữ văn hóa truyền thống khá tốt, được đánh giá ở mức 65,86/100 điểm. Điểm trừ về

mặt bảo tồn đặc trưng văn hóa là việc tiếp nối các điệu múa, bài hát truyền thống của

người dân địa phương. Thực tế cho thấy, các điệu múa hay lời hát nguyên bản dân tộc

Thái ngun bản chỉ còn lại rất ít trong nội dung biểu diễn văn hóa cho khách du lịch

xem, các tiết mục biểu diễn thường bị pha tạp từ các dân tộc khác nhau và có sự “cách

tân” trong giai điệu và lời hát. Bên cạnh đó, chỉ còn một số ít người dân cao tuổi là còn

lưu giữ được các bài hát nguyên bản, theo cộng đồng tại đây một phần các làn điệu

này khá khó học và ít hấp dẫn hơn phong cách nhạc hiện đại. Ngoài ra, dù vẫn gìn giữ

được các nét đẹp truyền thống của trang phục dân tộc Thái nhưng người dân trong bản

đã khơng còn thường xun mặc các trang phục này mà chỉ mặc trong các dịp lễ hội,

thông thường họ chuyển sang sử dụng đồ của người Kinh. Điều này phần nào đó khiến

khách du lịch ít có thiện cảm hơn và khơng hài lòng theo mong muốn của họ. Các vấn

đề khác về mặt văn hóa – xã hội tại đây theo điều tra bao gồm sự đóng góp kinh tế vào

văn hóa và thiếu ổn định của mạng lưới điện. Theo ý kiến thu thập từ cộng đồng địa

phương, mạng lưới điện thường không ổn định vào các ngày đông khách du lịch,

thường xuyên xảy ra hiện tượng mất điện vì quá tải. Nguồn thu từ các hoạt động du

lịch dành cho văn hóa chỉ là thù lao từ các buổi biểu diễn văn nghệ, khơng có bất kỳ

hoạt động bảo tồn hay truyền dạy văn hóa nào nhận được sự hỗ trợ về mặt kinh tế.

4.3.2. Trạng thái bền vững của hai tiêu chí Mơi trường và Cộng đồng & phát triển

du lịch (Chưa bền vững)

Mặc dù hai tiêu chí này có điểm bền vững xấp xỉ đạt mức bền vững tiềm năng

(61-80 điểm) nhưng kết quả đánh giá khơng thể làm hài lòng khi số lượng các biến

thang đo và tiêu chí có điểm đánh giá ở mức trung bình lại chiếm ưu thế. 3 trên 4 biến

thang đo cho tiêu chí Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và môi trường được đánh giá < 60

điểm, trong đó thấp nhất là Ảnh hưởng của bê tơng hóa đến cảnh quan và mơi trường

với 24,48 - ở mức dưới trung bình. Thực tế cho thấy, rất nhiều ao hồ đã bị chuyển

thành bãi đỗ xe cho du khách và các cơng trình bê tơng xuất hiện ngày càng nhiều làm

ảnh hưởng lớn tới cảnh quan của bản. Kiến trúc truyền thống nhà sàn bên cạnh ao nhỏ

đã bị mai một đi rất nhiều, theo quan sát của nhóm gần như khơng còn ao hồ gắn với

nhà sàn tại khu vực bản, ngoài ra số lượng cây xanh giảm nhiều khiến hình ảnh Bản

Lác khơng còn đẹp như trước đây. Việc xây dựng nhà cửa bằng bê tông không chỉ gây



ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan tự nhiên mà còn ảnh hưởng đến yếu tố văn hóa.

Nhà sàn tại bản Lác vốn được dựng từ 100% các nguyên vật liệu từ tự nhiên như gỗ,

nứa,… gắn với ao hồ đã tạo nên một nét đặc trưng văn hóa riêng biệt, các cơng trình

bê tơng khơng được thiết kế bài bản khiến phần nào làm mất đi nét đẹp của các ngôi

nhà sàn truyền thống của người dân tộc tại đây. Bên cạnh đó, việc xây dựng các con

đường nội thôn và liên thôn trong thời gian dài làm sinh ra nhiều bụi, ảnh hưởng tới

khơng khí tại bản. Ý thức của khách du lịch tại bản Lác được đánh giá chưa cao, hầu

hết các ý kiến đều cho rằng khách du lịch nước ngồi có ý thức hơn trong việc giữ gìn

vệ sinh chung so với khách du lịch trong nước. Trong khi đó nhận thức về việc bảo vệ

mơi trường từ phía chính quyền và cộng đồng địa phương là khá tốt, người dân thường

xuyên được nhắc nhở về vấn đề môi trường trong các cuộc họp thơn, xã; có một số

lượng đáng kể poster tun truyền về bảo vệ môi trường tại điểm du lịch và đặc biệt

ln có các buổi dọn vệ sinh chung do Đoàn thanh niên xã thực hiện đều đặn vào chủ

nhật hàng tuần trong một vài năm trở lại đây. Vấn đề đáng lưu tâm nữa là xử lý rác

thải, theo đánh giá của người dân địa phương rác thải tại đây vẫn được xử lý một cách

thô sơ, dù có bãi rác tập trung nhưng thơng thường rác thải sinh hoạt vẫn được xử lý

bằng cách đốt, dễ gây ô nhiễm đất trồng trọt nếu nơi xử lý ở gần ruộng nương và còn

ảnh hưởng đến các vùng đất thấp hơn. Chính quyền địa phương chưa có quy hoạch xử

lý rác thải cho bản Lác và các bản hoạt động du lịch xung quanh khiến gây ra lo ngại

về mặt môi trường trong tương lai.



Bảng 4.7: Điểm bền vững và điểm đánh giá các tiêu chí về Mơi trường

Tiêu

chí



Điểm

bền

vững



Tiêu chí thành

phần



Bảo vệ tài

ngun tự nhiên

và mơi trường

Mơi

trường



58.25

Ý thức bảo vệ

môi trường



Điểm

đánh

giá



Chỉ số/Thang đo



Điểm

đánh

giá

72.07

58.97



Bảo vệ rừng

Bảo vệ đất nông nghiệp

Ảnh hưởng của bê tơng

48.86

hóa đến cảnh quan và

24.48

mơi trường

Xử lý rác thải

58.28

Tun truyền bảo vệ mơi

trường của chính quyền

81.72

địa phương

67.64

Ý thức của khách du lịch

47.24

Hành động của cộng

81.03

đồng địa phương

Nguồn: Kết quả tính tốn của tác giả



Vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch đã trở thành một tiêu chuẩn được

chấp nhận rộng rãi đối với mục tiêu bền vững (Uzun, 2015; Lin & Lu, 2012), sự tham

gia của cộng đồng địa phương quyết định sự duy trì ổn định các hoạt động du lịch,

nhất là với mô hình du lịch dựa vào cộng đồng. Khía cạnh bền vững cuối cùng được

đưa ra đánh giá nhằm vào năng lực thực hiện các hoạt động du lịch của cộng đồng và

sự hỗ trợ cộng đồng địa phương từ phía chính quyền. Kết quả đánh giá cho thấy còn

nhiều vấn đề cần phải cải thiện để giúp cho mơ hình bản Lác bền vững từ khía cạnh

này. Trong 3 biến thang đo của tiêu chí Tương tác giữa người dân và khách du lịch thì

2 biến được đánh giá ở mức trung bình (40-60 điểm) là Thái độ phản ứng khi gặp

khách du lịch và Khả năng sử dụng tiếng Anh, Giao lưu văn hóa là kém nhất với 37,59

điểm. Cụ thể cho tình trạng này, nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn một số khách du lịch,

theo đánh giá của họ người dân bản Lác thường không chủ động trong việc tương tác

với khách du lịch và không thể hiện được sự niềm nở cần thiết. Theo quan sát của tác

giả, các quầy hàng lưu niệm, sản phẩm du lịch thường hay khơng có người trơng hàng

vào khoảng thời gian 10h-13h, khoảng thời gian gia đình họ chuẩn bị bữa trưa, rất bất

tiện cho hoạt động thăm quan và nhu cầu mua đồ của khách. Bên cạnh đó các sản

phẩm được bày sẵn và thường thiếu sự tư vấn hay giải thích của người bán hàng về ý

nghĩa và giá trị của chúng làm cho khách du lịch khá khó khăn khi lựa chọn. Một vấn

đề khác về tương tác giữa người dân và khách du lịch là tiếp cận các buổi giao lưu văn

hóa chưa thực sự dễ dàng, các buổi văn nghệ này chỉ biểu diễn khi có yêu cầu của

khách, chi phí cho một buổi văn nghệ khoảng 700 nghìn đồng/một buổi, khơng phải là

vấn đề với các đồn khách đơng người nhưng lại là trở ngại với đoàn du lịch số lượng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ VÀ THẢO LUẬN VỀ MỨC ĐỘ BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH DU LỊCH BẢN LÁC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×