Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

sống của nhân dân, đảm bảo cân đối giữa lợi ích của người lao động và lợi ích tập thể,

nhờ đó kinh tế hộ gia đình tại bản ngày càng được nâng cao. Năm 2013 thu nhập bình

quân của người dân đã tăng lên mức 2,5 triệu đồng/người/tháng. Bên cạnh dịch vụ du

lịch, một số hộ trồng dâu, nuôi tằm, hàng năm thu bình quân 1,5 tấn kén, đồng thời

trồng bông làm nguyên liệu để dệt thổ cẩm, hàng năm tiêu thụ 100.000 mét vải cho

khách du lịch và bán ra thị trường. Ngồi ra, người dân trong bản còn sản xuất một số

sản phẩm nông nghiệp khác như: chăn nuôi gia súc, gia cầm, thả cá, trồng nấm…. Đặc

biệt từ nhiều năm nay, học tập các hộ đi đầu làm du lịch hiện nay số đơng các hộ gia

đình đã đăng ký kinh doanh du lịch, làm thêm nhà nghỉ, mua sắm thêm các tiện nghi

tốt hơn để phục vụ khách du lịch nghỉ ngơi, ăn uống, bán quà lưu niệm, hàng thổ cẩm,

mỹ nghệ... tạo nguồn thu đáng kể, góp phần nâng cao mức sống của nhân dân.

3.1.2. Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại Bản Lác

Vào những năm 1980, Bản Lác bắt đầu đón nhận khách du lịch, trong đó chủ

yếu là từ khối Xơ Viết, Đơng Âu, sau đó vào những năm 1990 là khách du lịch phương

Tây. Năm 1995, bản chính thức được cấp phép kinh doanh nhà nghỉ và trong vòng 20

năm kể từ khi bắt đầu làm du lịch Bản Lác đã khẳng định là một trong những địa điểm

du lịch trọng điểm của tỉnh Hòa Bình.

Về lượng khách và doanh thu

Tính trong năm 2015 Bản Lác thu hút hơn 380.000 lượt khách trong nước và

quốc tế với nguồn thu từ các hoạt động du lịch ước tính trên 60 tỷ đồng, tỷ lệ khách du

lịch so với năm 2014 tăng tới 25%.

Cơ sở vật chất kỹ thuật

Cơ sở lưu trú: Cả Bản có 112 hộ dân với trên 60 hộ đăng ký dịch vụ homestay.

Tất cả các hộ đều được trang bị đầy đủ các hạ tầng thiết yếu phục vụ du lịch như điện,

nước sạch, truyền hình, internet…. Giá nhà nghỉ trung bình khoảng 40.000

đồng/người/đêm.

Cơ sở ăn uống: Ở bản có 4 nhà hàng với số lượng 4-5 nhân viên/1 nhà hàng giá

dịch vụ trung bình từ 80 - 100.000 đồng/người/bữa. Ngồi ra hầu hết các gia đình làm

homestay đều cụng cấp dịch vụ ăn uống tại gia với giá 100.000 đồng/người/bữa.

Các điểm tham quan, dịch vụ vui chơi giải trí khác: hệ thống các điểm tham

quan đã được quan tâm đầu tư xây dựng, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của khách

du lịch. Các hoạt động chính của du khách là dựa vào cảnh quan thiên nhiên như: đi bộ

dạo phố, ngắm đồi núi, tham quan gian hàng, và tìm hiểu các nét văn hóa dân tộc.



Phương tiện vận chuyển, đưa đón khách: Ở bản có trên 20 xe điện từ 7-10 chỗ

chở du khách đi vòng quanh các bản trong khu vực để tham quan. Ngoài ra còn có

dịch vụ cho th xe đạp với khoảng 200 chiếc.

Nhìn chung với cơ sở vật chất hiện tại là đủ điều kiện phát triển về lượng của du

khách, từng bước đáp ứng các ăn nghỉ, vui chơi giải trí cao hơn.



Bảng 3.1: Sự tham gia vào hoạt động du lịch ở Bản

ST

T

1

2

3

4



Loại hình

Sản xuất và bán hàng thổ cẩm

Dịch vụ nhà nghỉ Homestay

Dịch vụ nhà hàng

Dịch vụ tham quan và hướng

dẫn



Tỷ lệ hộ tham

gia

80%

60%

5%

20%

(Điều tra thực địa năm 2017)



Kinh doanh lữ hành

Người dân hầu như chịu trách nhiệm chính về các hoạt động trong bản Lác, các

cơng ty du lịch ở Hà Nội chỉ đảm nhiệm việc vận chuyển khách đến và đi từ bản. Đối

với khách nước ngồi các cơng ty sẽ cùng chia sẻ việc cung cấp hướng dẫn viên nói

tiếng Anh. Trong bản cử ra một người chịu trách nhiệm kiểm tra số khách đến và đi.

Cộng đồng sẽ chịu trách nhiệm trả lương cho nhân viên này.

Các dự án đầu tư

Từ những năm cuối thế kỷ 20, hầu hết phụ nữ trong bản đã từ bỏ các hoạt động

dệt vì họ quá bận rộn với việc đồng áng, mặt khác giá bán của các sản phẩm thổ cẩm

khơng đủ bù đắp chi phí lao động họ bỏ ra. Năm 2002, huyện Mai Châu được dự án

xây dựng cơ sở làng nghề đầu tư nhằm tạo cơ sở ban đầu cho phát triển du lịch làng

nghề, nhờ đó hoạt động dệt vải thổ cẩm được khôi phục ở Chiềng Châu. Tuy nhiên, do

đồng bào ở đây không trồng bông, trồng dâu để dệt vải nữa, nên những tấm vải thổ

cẩm truyền thống của các dân tộc Mai Châu lại được dệt từ những sợi tổng hợp qua xử

lý mang từ dưới xi lên. Đây chính là nguyên nhân làm cho dệt thổ cẩm ở Mai Châu

trở nên mai một, không giữ được sự tinh tuý như vốn có. Sản phẩm làm ra nhiều

nhưng du khách khơng thích.

Nhắm tới mục tiêu là thúc đẩy người dân sản xuất ra các đồ lưu niệm để phục

vụ khách du lịch đến thăm bản Lác, từ năm 2009 tổ chức JICA đã hỗ trợ đầu tư cho bà

con trồng dâu và trồng bông làm vải thổ cẩm và vải tơ tằm. với 35 thành viên được

thành lập. JICA đã tài trợ HTX Dệt thổ cẩm Chiềng Châu nhiều máy may công nghiệp,

tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng dệt thổ cẩm cho bà con, phục dựng bí quyết nhuộm

màu cổ truyền từ các loại lá cây, thiết kế tìm tòi đa dạng mẫu mã sản phẩm phù hợp

với thị hiếu du khách, liên kết giữa các HTX trong khuôn khổ dự án hỗ trợ về mặt mua

nguyên liệu thơ và bán sản phẩm. Các khóa đào tạo may và thêu đã được triển khai tại

HTX với nhiều nội dung: may cơ bản, cải tiến thêu, nâng cao hoàn thiện sản phẩm,

thêu theo các mẫu truyền thống, học về phối màu.

3.1.3. Văn hóa người Thái ở Bản Lác



Người ở Bản lác chủ yếu là người Thái, các dân tộc khác như Mường, Kinh…

chỉ có vài người, chuyển đến sinh sống dưới hình thức dâu rể. Văn hóa người Thái vẫn

được bảo tồn và có chút giao thoa với văn hóa các dân tộc khác.

Người Thái nói các thứ tiếng thuộc nhóm ngơn ngữ gốc Thái của hệ ngơn ngữ

Thái – Kadai. Trong nhóm này có tiếng Thái của người Thái (Thái Lan), tiếng Lào của

người Lào, tiếng Shan ở Myanmar và tiếng Choang ở miền nam Trung Quốc. Tại Việt

Nam, 8 sắc tộc ít người gồm Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái được

xếp vào nhóm ngôn ngữ Thái. Hiện tại ngôn ngữ Thái vẫn được dùng để giao tiếp giữa

những người dân trong bản. Trẻ con sinh ra được bố mẹ dạy nói tiếng Thái và tiếng

Kinh song song, tỷ lệ người Thái biết nói tiếng Thái ở bản là 100%, tuy nhiên số lượng

người viết được chữ là khơng nhiều.

Về văn hóa ứng xử, xã hội người Thái là xã hội phù quyền, đề cao vai trò của

người đàn ơng trong gia đình và ngồi xã hội. Hơn nhân do trai gái tự nguyện. Rất

mến khách và có tính cộng đồng cao.

Về đời sống văn hóa, người Thái vẫn duy trì cuộc sống gắn với nhà sàn, có xây

dựng nhà bê tơng nhưng xây thấp và nằm sâu bên trong nhà để ít ảnh hưởng đến cảnh

quan truyền thống. Trang phục của phụ nữ Thái trắng gồm áo sửa cỏm và váy đen bó

sát người cùng với chiếc khăn piêu tạo nên vẻ thanh nhã, duyên dáng của người phụ

nữ Thái. Trang phục truyền thống giờ khơng còn được mặc nhiều nhưng vẫn khơng thể

thiếu trong các dịp lễ tết, các buổi biểu diễn văn nghệ truyền thống. Ở bản có thể dễ

dàng nhìn thấy hình ảnh những người phụ nữ ngồi bên khung cửi lớn dệt vải. Các cô

gái Thái trước khi về nhà chồng phải biết dệt thổ cẩm và thêu thùa. Bằng chứng là

trước khi về làm dâu họ phải tự tay làm tặng bố mẹ chồng một bộ chăn đệm, trong đó

có một chiếc khăn Piêu tặng mẹ chồng. Chính bởi vậy mà người Thái coi thổ cẩm là

đời sống vật chất và tinh thần của mình.

Về ẩm thực, người Thái có nhiều kỹ thuật chế biến món ăn độc đáo hấp dẫn du

khách, có thể kể đến như: cơm lam, xôi nếp Mai Châu, nhộng ong rừng rang măng

chua, rượu cần, thịt ướp chua, cá suối nướng…

Các lễ hội lớn của người Thái tại Bản Lác là Xên Bản Xên Mường, Chả Chiêng

tết Cơm Mới vẫn được tổ chức hàng năm và thu hút lượng lớn khách du lịch khi tổ

chức. Trong các lễ hội người dân các dân tộc không chỉ người Thái biểu diễn các bài

hát, điệu múa truyền thống của dân tộc mình, các trò chơi được tổ chức cho cả người

dân và khách du lịch cũng có thể tham gia.



3.2. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng

- Nghiên cứu tại bàn (Desk Study): Phương pháp này được sử dụng để thực

hiện tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài, tìm kiếm thơng tin về địa bàn

nghiên cứu, tìm hiểu kỹ thuật phân tích, thảo luận vấn đề nghiên cứu và trình bày báo

cáo nghiên cứu.

- Nghiên cứu định tính:

+ Tham vấn chuyên gia: Đây là phương pháp đóng vai trò quan trọng trong việc

thực hiện đề tài, được thực hiện trong nhiều công đoạn bao gồm tham vấn lựa chọn

phương pháp nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá và thực hiện thu thập đánh giá

của chuyên gia đối với mức độ quan trọng của các tiêu chí.

+ Phỏng vấn sâu: Phương pháp này được thực hiện đối với người đứng đầu

cộng đồng địa phương (trưởng bản) và người dân nhằm phát hiện các yếu tố đặc trưng,

tìm hiểu sâu các vấn đề trong phát triển du lịch tại địa phương, đặc biệt là các yếu tố

về văn hóa. Từ đó, nhóm nghiên cứu tiến hành xem xét, điều chỉnh bộ tiêu chí đánh

giá và bản khảo sát.

- Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng việc điều tra khảo sát một mẫu

đại diện trong phạm vi không gian nghiên cứu thơng qua một bảng hỏi trên cơ sở bộ

tiêu chí đa cấp đã được xây dựng, bao gồm các biến thang đo đo lường để thu thập kết

quả đánh giá từ phía người dân địa phương. Một phiếu khảo sát khác được thực hiện

đối với các chuyên gia có kinh nghiệm chuyên sâu trong lĩnh vực phát triển bền vững,

phát triển du lịch tại đại bàn nghiên cứu cũng dựa trên bộ tiêu chí ban đầu. Trên cơ sở

bộ tiêu chí đó, kỹ thuật xử lý định lượng được sử dụng để xác định trọng số cho từng

tiêu chí, xác định mức độ quan trọng và đóng góp của chúng vào mục tiêu phát triển

du lịch bền vững. Kết quả từ hai lần thu thập và phân tích dữ liệu rút ra mức độ bền

vững của phát triển du lịch bản Lác được thể hiện ở một điểm số duy nhất (được gọi là

điểm bền vững) dựa trên một thang đánh giá tiêu chuẩn.

- Cơng cụ phân tích:

+ Phần mềm hỗ trợ: IBM SPSS Statistics 23 và Expert Choice v11

+ Kỹ thuật phân tích: Kiểm định độ tin cậy của các tiêu chí Cronbach’s Alpha,

Thống kê mơ tả, kỹ thuật đánh giá trọng số bằng phương pháp phân tích thứ bậc AHP.

Quá trình và các bước thực hiện nghiên cứu được trình bày chi tiết ở các phần sau.

3.3. Quy trình thực hiện đề tài

Quy trình nghiên cứu đánh giá phát triển du lịch bền vững tại bản Lác được

thực hiện trong khoảng thời gian ba tháng (từ giữa tháng 01/2017 đến giữa tháng

04/2017) qua các giai đoạn:



Xác định đề tài

nghiên cứu



Tổng quan nghiên cứu

và lựa chọn phương

pháp nghiên cứu



Hoàn thiện cơ sở lý luận

và xác định mơ hình

nghiên cứu



Hồn thiện kết

quả và trình bày

báo cáo NC



Phân tích dữ liệu



Thu thập và xử lý dữ

liệu (2 lần)



Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

3.4. Mơ hình đánh giá

Từ việc tổng quan các nghiên cứu và các thước đo tính bền vững của du lịch,

nhóm nghiên cứu lấy cơ sở của việc đánh giá tính bền vững của phát triển du lịch dựa

trên các tiêu chí phát triển du lịch bền vững và thang đánh giá mức độ bền vững

(Barometer of Sustainability), được đề xuất bởi Prescott-Allen và IUCN, 1996. Mức

độ bền vững được thể hiện qua một điểm số duy nhất là phương án rất trực quan và lý

tưởng cho phép dễ dàng đánh giá trạng thái bền vững không chỉ của mục tiêu bền

vững (Goal) mà còn của các tiêu chí bậc 1 (Criterias) thông qua một thang đánh giá

tiêu chuẩn. Giá trị điểm bền vững được xác định qua việc thu thập số liệu cho thang đo

tính bền vững, là một thang đo Likert 5 điểm với mức độ tích cực tăng dần từ 1 đến 5,

tương ứng với các mốc giá trị bền vững trên thang đánh giá mức độ bền vững

(Prescott-Allen, 1996) trên phương diện người dân địa phương. Bên cạnh đó, cách

thức đánh giá của đề tài này kế thừa một phần từ cơng trình đo lường sự bền vững của

du lịch sinh thái của Lin và Lu, 2012, với việc áp dụng phương pháp phân tích thức

bậc (Analytic Hierachy Process) để xác định trọng số cho các tiêu chí phát triển du lịch

bền vững. Về tổng thể, việc đánh giá được thực hiện bằng công cụ tích hợp các

phương pháp khác nhau, mơ hình đánh giá chi tiết được trình bày tại phần 3.4.1 đến

3.4.4.



Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá

và thang đo lường phát triển du

lịch bền vững tại bản Lác



Tiến hành khảo sát, kiểm định

độ tin cậy của thang đo và hiệu

chỉnh thang đo



Xác định trọng số của các tiêu

chí và nhóm tiêu chí bằng

phương pháp phân tích thứ bậc



Xác định điểm bền vững và kết

luận về tính bền vững của mơ

hình du lịch tại bản Lác

Hình 3.2: Mơ hình đánh giá phát triển du lịch bền vững tại bản Lác

3.4.1. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá và thang đo lường phát triển du lịch bền vững

tại bản Lác

Các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng ba trụ cột lớn của phát

triển bền vững là kinh tế, xã hội và môi trường. Trạng thái bền vững phải được tạo nên

từ sự phát triển đồng đều ở cả ba khía cạnh đó và đặc biệt chú trọng đến các vấn đề xã

hội và mơi trường, các tiêu chí về phát triển du lịch bền vững cũng được hình thành từ

cơ sở quan điểm trên. Tuy nhiên, đánh giá trạng thái phát triển bền vững của một điểm

du lịch cụ thể là khơng dễ dàng bởi chưa thực sự có một bộ tiêu chí nào được coi là

chuẩn mực trong việc đánh giá tính bền vững của du lịch, hơn nữa vấn đề phát triển ở

các điểm du lịch khác nhau là khơng giống nhau, thậm chí hồn tồn khác nhau do các

đặc điểm về tự nhiên – văn hóa – xã hội, loại hình du lịch, định hướng phát triển… Vì

vậy, các tiêu chí được xây dựng khơng chỉ dựa trên tổng hợp quan điểm lý luận, mà

còn phải quan tâm đến các yếu tố thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. Nhận thức được vấn

đề trên, nhóm nghiên cứu thực hiện xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phát triển du lịch

bền vững tại bản Lác qua ba bước: Tổng hợp các tiêu chí phù hợp từ các nghiên cứu

trước; điều tra địa bàn nghiên cứu để phát hiện và bổ sung; và tham vấn chuyên gia

xác định bộ tiêu chí chính thức. Cấu trúc của bộ tiêu chí đánh giá gồm 3 cấp bậc: Tiêu

chí lớn/Khía cạnh bền vững (Dimension/Criteria), tiêu chí thành phần (Sub-Criteria)



và biến thang đo (Indicators); việc xác định các tiêu chí được thực hiện từ cấp lớn nhất

(Criteria) đến các cấp nhỏ hơn.

Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm khác nhau về các khía cạnh phát triển

du lịch bền vững, các khía cạnh đó khơng chỉ còn bó gọn lại trong ba trụ cột lớn của

phát triển bền vững mà tùy thuộc vào trình độ phát triển và đặc trưng địa bàn nghiên

cứu mà phát triển và lựa chọn đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau, bảng 3.2 tổng

hợp các nghiên cứu nổi bật về đánh giá phát triển du lịch bền vững và các tiêu chí lớn

(Dimension/Criteria) được sử dụng.

Bảng 3.2: Các khía cạnh phát triển du lịch bền vững

Tác giả

Mowforth & Munt, 1998

Lozano-Oyola và cộng sự, 2012

Bossell, 1999; Mowforth &

Munt, 1998

Ko, 2001



Chris and Sirakaya, 2006

Spilanis và cộng sự, 2005

Tsaur và cộng sự, 2005

García-Melón và cộng sự, 2011



Castellani và Sala, 2010

Blancas và cộng sự, 2010

Lin và Lu, 2012

Azizi và cộng sự, 2011

D. Rio và cộng sự, 2012

Huang và cộng sự

Wang và cộng sự, 2013

Uzun và cộng sự, 2015

Châu và Nguyễn, 2014

La, 2012

Đinh, 2013

Bạch, 2011



Khía cạnh du lịch bền vững (Dimension)

Kinh tế, văn hóa-xã hội, mơi trường

Xã hội, kinh tế, mơi trường

Sinh thái, xã hội, kinh tế, thể chế/chính trị, văn

hóa, cơng nghệ

Thể chế, kinh tế, văn hóa-xã hội, chất lượng sản

phẩm và dịch vụ, tác động đến môi trường, chất

lượng hệ sinh thái, đa dạng sinh học, chính sách

quản lý mơi trường.

Kinh tế, Xã hội, văn hóa, sinh thái, công nghệ

Kinh tế, xã hội, môi trường

Kinh tế, xã hội, môi trường

Bảo vệ môi trường tự nhiên, các tác động đến

mơi trường địa phương, khía cạnh xã hội, du

lịch, quản lý và thể chế.

Dân số, Chỗ ở, Kinh tế và lao động, môi trường,

du lịch

Xã hội, kinh tế, môi trường

Du lịch, các nguồn lực, cộng đồng, kinh tế, xã

hội

Môi trường, xã hội, kinh tế, sự hấp dẫn du lịch,

thể chế, cơ sở hạ tầng

Kinh tế, xã hội, môi trường

Kinh tế, xã hội, môi trường

Nguồn lực, xã hội và kinh tế, môi trường, quản



Phúc lợi cộng đồng, giá trị tự nhiên và văn hóa,

sự hài lòng về du lịch, giám sát và quản lý

Kinh tế, xã hội, môi trường

Kinh tế, xã hội, môi trường

Kinh tế, xã hội, tài nguyên – môi trường

Kinh tế, xã hội, môi trường

Nguồn: Tổng hợp của tác giả



Từ việc thực hiện tổng quan, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng phần lớn các

nghiên cứu đều thực hiện phương pháp thảo luận và tham khảo chuyên gia để lựa chọn

các tiêu chí phát triển du lịch bền vững, trong đó một phương pháp nổi bật được sử

dụng là phương pháp Delphi, được sử dụng trong nghiên cứu của Lin và Lu, 2012.

Delphi là một quá trình thảo luận có bài bản để các nhóm chun gia tích lũy thông tin

và thể hiện tri thức, thông qua các bảng câu hỏi trong hai hoặc nhiều vòng, sau mỗi

vòng người hỗ trợ cung cấp một bản tóm tắt bất kỳ các dự đốn của các chun gia từ

vòng trước cũng như lý do tại sao họ đưa ra để hỗ trợ cho lựa chọn của mình, mục đích

là để các chuyên gia cân nhắc sự lựa chọn của người khác và tiến tới một quan điểm

chung cuối cùng. Việc sử dụng phương pháp này của các nghiên cứu trước giúp nhóm

nghiên cứu lựa chọn các tiêu chí đánh giá có sự đồng thuận cao và mang tính chắc

chắn hơn. Nhóm đã tiến hành thảo luận và tham khảo các chuyên gia để xác định các

khía cạnh chính trong sự phát triển du lịch bền vững của bản Lác sao cho các tiêu chí

đó là phù hợp với lý luận chung và địa bàn nghiên cứu và bốn tiêu chí lớn đã được lựa

chọn: Kinh tế, Văn hóa – Xã hội, Môi trường và Cộng đồng & phát triển du lịch.

Trong đó Cộng đồng & phát triển du lịch đề cập tới các vấn đề và thực hiện phát triển

du lịch và đáp ứng các nguyên tắc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, là mơ hình du

lịch được thực hiện tại bản Lác. Các tiêu chí thành phần và các biến đo lường được

tiếp tục tổng hợp có chọn từ các tác giả trên, ngồi ra còn có Priskin (2000), Miller

(2001), WTO (1997) và McCool (2001). Đồng thời nhóm nghiên cứu tiếp tục tham

khảo chuyên gia và thực hiện điều tra địa phương lần 1, thực hiện nghiên cứu định tính

chủ yếu là quan sát, phỏng vấn sâu người đứng đầu cộng đồng địa phương (trưởng

bản) và người dân địa phương nhằm phát hiện các vấn đề trong phát triển du lịch và

các biến đo lường đặc trưng. Cuối cùng, bộ tiêu chí và thang đo hồn chỉnh được tham

khảo chuyên gia lần cuối và được sử dụng để thực hiện các bước nghiên cứu tiếp theo.



Bảng 3.3: Bộ tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững tại bản Lác

Mục

tiêu

(Goal)

Phát

triển

du lịch

bền

vững



Tiêu chí

(Criterias)



Tiêu chí thành

phần

(Sub-Criterias)

Ổn định thu nhập



Kinh tế

Phân phối thu

nhập

Mức độ bảo tồn

đặc trưng văn hóa

địa phương

Tác động bên

ngồi đến văn hóa



Văn hóa –

Xã hội



Ý thức lưu giữ văn

hóa dân tộc

Đóng góp kinh tế

cho bảo tồn tài

nguyên nhân văn

Cơ hội giáo dục



Đời sống dân cư

An ninh trật tự

Môi

trường



Bảo vệ tài nguyên

tự nhiên và môi

trường

Ý thức bảo vệ môi

trường



Biến đo lường

(Indicators)

Sự ổn định thu nhập hộ gia đình từ

khi làm du lịch

Thu nhập từ du lịch tốt hơn nghề

truyền thống

Người dân giữ lại được phần lớn

doanh thu du lịch

Chính sách thuế, phí về du lịch hợp lý

Trang phục

Nhà sàn

Điệu múa, bài hát dân tộc

Tiếng dân tộc

Lễ hội truyền thống

Sự mâu thuẫn văn hóa giữa các dân

tộc tại địa phương

Sự xuất hiện của văn hóa khác

Truyền tải văn hóa địa phương cho

khách du lịch

Lưu giữ văn hóa của người trẻ

Duy trì giao lưu văn hóa từ nguồn thu

du lịch

Nói và viết chữ quốc ngữ

Đi học thuận tiện

Cải tạo nhà cửa

Nước sạch

Điện

Dịch vụ y tế

Mua hàng tiêu dùng

Mức độ thường xuyên xảy ra trộm cắp

Bảo vệ rừng

Bảo vệ đất nơng nghiệp

Ảnh hưởng của bê tơng hóa đến cảnh

quan

Xử lý rác thải

Tun truyền bảo vệ mơi trường của

chính quyền địa phương

Ý thức của khách du lịch

Hành động của cộng đồng địa

phương



Tương tác giữa

người dân và

khách du lịch



Thái độ phản ứng khi gặp khách du lịch

Khả năng sử dụng tiếng Anh

Giao lưu văn hóa với khách du lịch

Hỗ trợ làm du lịch Lợi ích nhận được từ các khóa học du

Cộng đồng

cho người dân địa lịch

& phát

Hỗ trợ khác của nhà nước

phương

Tiếp thu ý kiến người dân

triển du

Sự đáp ứng nhà ở homestay khi quá

lịch

đông khách du lịch

Sự đáp ứng địa điểm tổ chức các hoạt

Sức tải du lịch

động giải trí khi quá đông khách du

lịch

Nguồn: Tổng hợp và đề xuất của tác giả

3.4.2. Tiến hành khảo sát, kiểm định độ tin cậy của thang đo và hiệu chỉnh bộ tiêu chí.

Một bảng hỏi đã được xây dựng để thu thập sự đánh giá của người dân địa

phương về mức độ bền vững của phát triển du lịch bản Lác dựa trên bộ tiêu chí đánh

giá. Các câu hỏi là các biến đo lường được biên tập lại dưới một số dạng khác nhau để

người được hỏi dễ dàng trả lời và đạt được mục đích thu thập dữ liệu, giúp thơng tin

thu nhận được chính xác hơn tuy nhiên vẫn phục vụ cho một thang đo Likert 5 điểm

với mức độ tích cực tăng dần từ 1 đến 5. Bảng hỏi được thiết kế với 45 câu hỏi/mệnh

đề đánh giá, với 4 câu hỏi về thông tin cá nhân và 41 câu hỏi/mệnh đề phục vụ nội

dung đánh giá phát triển du lịch bền vững. Sau khi hoàn thành bảng hỏi được khảo sát

thử nghiệm đồng thời tham khảo chuyên gia để chỉnh sửa lần cuối trước khi thực hiện

điều tra chính thức.

Việc tiến hành khảo sát được thực hiện trong khoảng thời gian từ 31/03/2017 01/04/2017 trên địa bàn bản Lác 1, Pom Coọng, xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu,

tỉnh Hòa Bình. Đối tượng khảo sát là các hộ gia đình tại bản, gần 100% số hộ gia đình

ở đây đều làm du lịch, số lượng hộ được khảo sát là 30 hộ. Với mỗi hộ gia đình, nhóm

lựa chọn 01 người để tham gia trả lời khảo sát là chủ hộ hoặc người trong gia đình

thường xuyên tham gia các cơng việc du lịch, hình thức trả lời là tự điền dưới sự giải

thích và trình bày của người hỏi. Kết quả thu thập cho thấy trong 30 phiếu được phát

ra và thu về đầy đủ, có một phiếu khơng hợp lệ vì khơng trả lời đầy đủ thơng tin, số

phiếu còn lại đều được cung cấp đầy đủ số câu trả lời cần thiết.

Sau khi tiến hành khảo sát, nhóm nghiên cứu kiểm định độ tin cậy của thang đo

được sử dụng bằng phân tích hệ số Cronbach’s Alpha qua phần mềm IBM SPSS

Statistic 23. Mục đích của kiểm định này là tìm hiểu xem các biến trong thang đo có

cùng đo lường cho một khái niệm cần đo hay khơng. Giá trị đóng góp nhiều hay ít

được phản ánh qua hệ số tương quan biến tổng Corrected Item – Total Correlation.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×