Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC ĐỀ TÀI

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Năm 1987, Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển xuất bản báo cáo

“Tương lai của chúng ta” mà ngày nay thường gọi là Brundtland. Bản báo cáo này lần

đầu tiên cơng bố chính thức thuật ngữ “Phát triển bền vững”, đưa ra sự định nghĩa

cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài. Bản

báo cáo đã góp phần tích cực vào việc phổ cập khái niệm phát triển bền vững trên quy

mơ tồn cầu, là điểm khởi đầu cho nhiều nghiên cứu tiếp theo nhằm làm sáng tỏ thêm

thuật ngữ phát triển bền vững.

Năm 1992, Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCED)

(Hay còn gọi là Hội nghị thượng đình về Trái đất) được tổ chức tại Rio de Janeiro

(Brazil). Tại hội nghị, “Phát triển bền vững” được định nghĩa một cách chính thức. Tại

đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một

chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21

(Agenda 21). Chương trình Nghị sự 21 về Phát triển bền vững đã trở thành chiến lược

phát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI, và “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”, với 8

nội dung (xóa đói, giảm nghèo; phổ cập giáo dục tiểu học; thúc đẩy bình đẳng giới,

đồng thời nâng cao quyền lợi của nữ giới; giảm tỷ lệ trẻ em tử vong; cải thiện và đảm

bảo sức khỏe sản phụ; đấu tranh với các bệnh tật như HIV, sốt xuất huyết; bảo vệ mơi

trường; thúc đẩy phát triển hợp tác tồn cầu) đã được tập trung thực hiện.

Từ năm 2002, nội dung “Phát triển bền vững” mang tính bao qt trên phạm vi

tồn cầu trở thành mục tiêu phấn đấu của toàn nhân loại, cũng như của từng quốc gia,

từng dân tộc và từng nhóm cộng đồng.

2.1.2. Khái niệm phát triển bền vững

Khái niệm “Phát triển bền vững” (PTBV) xuất hiện trong phong trào “Bảo vệ

môi trường” (BVMT) từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, từ đó đến

nay đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra, như:

– Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh, dựa trên việc

sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và BVMT, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng

không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau.

– Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ tăng trưởng

cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên

thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng

nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại

hậu quả về môi trường cho thế hệ tương lai.

– Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm

thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ.



Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our common future) của

Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “Phát

triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng

không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Định nghĩa này

được nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới thừa nhận và sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên

định nghĩa này thiên về đưa ra mục tiêu, yêu cầu cho sự PTBV, mà chưa nói đến bản

chất các quan hệ nội tại của quá trình phát triển bền vững.

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn, đó là:

“Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một q trình sản

xuất với bảo tồn tài ngun và nâng cao chất lượng môi trường. Phát triển bền vững

cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng

của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Định nghĩa này đã đề

cập cụ thể hơn về mối quan hệ ràng buộc giữa sự đáp ứng nhu cầu hiện tại với khả

năng đáp ứng nhu cầu tương lai, thơng qua lồng ghép q trình sản xuất với các biện

pháp bảo tồn tài ngun, nâng cao chất lượng mơi trường. Tuy vậy, định nghĩa này

vẫn chưa đề cập được tính bản chất của các quan hệ giữa các yếu tố của phát triển bền

vững và chưa đề cập đến các nhóm nhân tố cụ thể mà q trình phát triển bền vững

phải đáp ứng (tuân thủ) cùng một lúc, đó là nhóm nhân tố tạo ra tăng trưởng kinh tế,

nhóm nhân tố tác động thay đổi xã hội, bao gồm thay đổi cả văn hố và nhóm nhân tố

tác động làm thay đổi tài nguyên, môi trường tự nhiên.

Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Rio- 92 và

được bổ sung, hoàn chỉnh tại hội nghị Johnannesburg-2002: “Phát triển bền vững là

quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát

triển, đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ mơi trường.” Ngồi ba mặt

chủ yếu này, có nhiều người còn đề cập tới những khía cạnh khác của phát triển bền

vững như chính trị, văn hóa, tinh thần. dân tộc… và đòi hỏi phải tính tốn và cân đối

chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế- xã hội cho

từng quốc gia, từng địa phương cụ thể.

Như vậy, có thể định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được

nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của

các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo

đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ mơi trưởng.”

2.1.3. Các mơ hình phát triển bền vững

Có nhiều lý thuyết, mơ hình mơ tả nội dung của phát triển bền vững. Theo

Jacobs và Sedlera, thì phát triển bển vững là kết quả của các tương tác qua lại và phụ

thuộc lẫn nhau của ba hệ thống chủ yếu của thế giới: Hệ thống kinh tế (hệ sản xuất và



phân phối sản phẩm; hệ thống xã hội (quan hệ của con người trong xã hội); hệ thống tự

nhiên (bao gồm các hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành phần mơi

trường của Trái Đất). Trong mơ hình này, sự phát triển bền vững khơng cho phép vì sự ưu

tiên của hệ này dễ gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với hệ khác, hay phát triển bển vững

là sự dung hoà các tương tác và thoả hiệp giữa ba hệ thống chủ yếu trên.

Hình 2.1: Mơ hình phát triển bền vững của Jacobs và Sadler



Hệ xã hội



Hệ kinh tế



Hệ tự nhiên

Nguồn: Jacobs và Sadler (1990)

Theo mơ hình của ngân hàng thế giới. phát triển bền vững được hiểu là sự phát

triển kinh tế xã hội để đạt được đồng thời các mục tiêu kinh tế (tăng trưởng kinh tế,

công bằng trong phân phối thu nhập, hiệu quả kinh tế của sản xuất cao), mục tiêu xã

hội (công bằng dân chủ trong quyền lợi và nghĩa vụ xã hội), mục tiêu sinh thái (báo

đảm cân bằng sinh thái và bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên nuôi dưỡng con người).

Hình 2.2: Mơ hình phát triển bền vững của ngân hàng thế giới

Mục tiêu kinh tế



Phát triển bền

vững



Mục tiêu sinh thái



Mục tiêu xã hội

Nguồn: Ngân hàng thế giới



Trong mô hình của Hội đồng về Mơi trường và phát triển bền vững thế giới

(WCED) 1987, thì tập trung trình bày quan niệm phát triển bền vững theo các lĩnh vực

như kinh tế, chính trị, hành chính, cơng nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội.

Còn trong mơ hình của Villen 1990 thì trình bày các nội dung cụ thể để duy trì

sự cân bằng của mối quan hệ kinh tế – sinh thái – xã hội trong quá trình phát triển kinh

tế xã hội của các quốc gia.

Hình 2.3: Mơ hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn



Kinh tế



Xã hội



Mơi trường



Nguồn: Villen 1990

Nội dung phát triển bền vững được xã định bao gồm ba trụ cột:

– Bền vững về kinh tế: Một hệ thống bến vững về kinh tế phải có thể tạo ra

hàng hố và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm sốt của chính phủ và

nợ nước ngồi, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến sản xuất nông

nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.

– Bền vững về xã hội: Một hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự

công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáo dục,

bình đẳng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị của mọi cơng dân.

– Bền vững về môi trường: Một hệ thống bền vững về môi trường phải duy trì

nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh

hay những vận động tiềm ẩn của môi trường và việc khai thác các nguồn lực không tái

tạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ. Điều này bao gồm

việc duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác

mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế.

Ba trụ cột của phát triển kinh tế nêu trên là mục tiêu cần đạt được trong quá

trình phát triển, đồng thời là ba nội dung hợp thành quá trình hát triển trong điều kiện

hiện đại. Sự phát triển hiện đại không chỉ là sự phát triển với nền kinh tế thị trường



hiện đại, với sự tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học và công nghệ, mở rộng hội

nhập kinh tế quốc tế mà còn bao hàm một nội dung mới- phát triển bền vững cũng có

nghĩa là khơng chỉ xác lập những cơ sở, điều kiện cần thiết đối với việc giải quyết

những mâu thuẫn vốn có của tiến trình kinh tế thị trường- công nghiệp trong sự phát

triển cổ điển, giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế- xã hội và mơi trường mà

còn phải bao gồm nội dung bền vững.

2.1.4. Bộ tiêu chí phát triển bền vững

Hiện nay, lý thuyết phát triển bền vững đang được các quốc gia, các tổ chức

quốc tế và khu vực quan tâm nghiên cứu, phát triển thành hệ thống lý luận vừa có tính

tồn cầu, tính quốc gia, vừa mang tính địa phương. Các chương trình phát triển bền

vững đã được thực hiện từ cấp độ cộng đồng ở hầu hết các nước đang phát triển trên

thế giới với những chỉ tiêu và mục tiêu định lượng để đánh giá chất lượng cuộc sống

và tiến bộ vươn tới cấp độ bền vững. Tuy nhiên việc đưa ra được bộ tiêu chí để “đo

lường” sự phát triển bền vững trên phạm vi cả nước cũng như tại các địa phương vẫn

chưa đạt được sự thống nhất và đang được nghiên cứu ở trong và ngoài nước.

Bộ tiêu chí phát triển bền vững có thể phản ánh các khía cạnh khác nhau như:

(1) Các chỉ tiêu trạng thái (phản ánh trạng thái của hệ thống kinh tế xã hội tại

một thời điểm nào đó);

(2) Các chỉ tiêu mục tiêu (bao gồm các chỉ tiêu phản ánh trạng thái mong muốn

trong tương lai);

(3) Các chỉ tiêu áp lực (bao gồm các chỉ tiêu phản ánh áp lực trực tiếp tới các

vấn đề môi trường như tiếng ồn, khí thải CO2);

(4) Các chỉ tiêu động lực (phản ánh các áp lực lên môi trường do phát triển

công nghiệp, tăng dân số,…)

(5) Các chỉ tiêu ảnh hưởng (phản ánh các tác động đến sự thay đổi trạng thái) và

các chỉ tiêu hưởng ứng (phản ánh nỗ lực của xã hội cũng giải quyết các vấn đề đặt ra).

Đến nay đã có nhiều hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu được đề xuất, bảo đảm phản ánh

tổng hòa nhiều tiêu chí thành phần. Xét về mặt nội dung, bộ tiêu chí cần bao gồm ít

nhất 5 khía cạnh kinh tế, xã hội, mơi trường, văn hóa (bao gồm cả các vấn đề phát

triển con người) và thể chế làm “thước đo” cho phát triển bền vững. Điều quan trọng

là các khía cạnh này phải liên kết với nhau như một thể thống nhất mới bảo đảm phát

triển bền vững. Khâu gắn kết đó được bảo đảm chính là hệ thống thể chế được xây

dựng mang tính hệ thống và thực thi nghiêm chỉnh, nhất là khi nhiều tác động đến phát

triển bền vững khó mà đánh giá trong một thời gian ngắn.



Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc xác định theo các chủ đề

trên bốn lĩnh vực, hình thành nên 58 chỉ tiêu cụ thể:

Bền vững về mặt xã hội: bao gồm 6 chủ đề về công bằng, y tế, giáo dục, nhà ở,

an ninh và dân số với 19 chỉ tiêu cụ thể: (1) Phần trăm dân số sống dưới ngưỡng

nghèo; (2) Chỉ số bất bình đẳng GINI; (3) Tỷ lệ thất nghiệp; (4) Tỷ lệ lương trung bình

của nữ so với nam giới; (5) Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em; (6) Tỷ lệ tử vong của trẻ

dưới 5 tuổi; (7) Tuổi thọ; (8) Phần trăm dân số có thiết bị vệ sinh phù hợp; (9) Phần

trăm dân số được sử dụng nước sạch; (10) Phần trăm dân số tiếp cận với các dịch vụ y

tế cơ bản; (11) Tiêm chủng phòng ngữa các bệnh lây nhiễm cho trẻ em; (12) Tỷ lệ phổ

biến về phòng tránh thai; (13) Phổ cập tiểu học đối với trẻ em; (14) Tỷ lệ người trưởng

thành học hết cấp hai; (15) Tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành; (16) Diện tích nhà ở

(sàn) bình qn đầu người; (17) Số tội phạm trên 100.000 dân; (18) Tốc độ tăng dân

số; (19) Dân số thành thị chính thức và cư trú khơng chính thức.

Bền vững về mơi trường: bao gồm 7 chủ đề về khơng khí, đất, đại dương biển

và bờ biển, nước sạch và đa dạng sinh học với 19 tiêu chí cụ thể: (20) Phát thải khí nhà

kính; (21) Mức độ tiêu thụ các chất gây hại ở tầng ozon; (22) Nồng độ các chất gây ô

nhiễm không khí ở khu vực đơ thị; (23) Đất canh tác và diện tích cây lâu năm; (24) Sử

dụng phân hóa học; (25) Sử dụng thuốc trừ sâu; (26) Tỷ lệ che phủ rừng; (27) Cường

độ khai thác gỗ; (28) Đất bị sa mạc hó; (29) Diện tích thành thị chính thức và khống

chính thức; (30) Mật độ tảo trong biển; (31) Phần trăm dân số sống ở vùng duyên hải;

(32) Sản lượng đánh bắt hàng năm; (33) Mức khai thác nguồn nước ngầm và nước mặt

trên tổng trữ lượng nước; (34) Hàm lượng BOD trong nước; (35) Nồng độ coliform

trong nước sạch; (36) Diện tích hệ sinh thái chủ yếu được lựa chọn; (37) Diện tích khu

bảo tồn so với tổng diện tích; (38) Sự đa dạng của giống lồi được lựa chọn.

Bền vững kinh tế bao gồm 2 chủ đề về tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, xu hướng

sản xuất và tiêu thụ với 14 chỉ tiêu cụ thể: (39) GDP bình quân đầu người; (40) Tỷ lệ

đầu tư trong GDP; (41) Cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ; (42) Tỷ lệ nợ trong

GNI; (43) Tổng viện trợ ODA hoặc nhận viện trợ ODA so với GNI; (44) Mức độ sử

dụng nguyên vật liệu; (45) Tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người hàng năm; (46)

Tỷ lệ tiêu dùng nguồn năng lượng có thể tái sinh; (47) Mức độ sử dụng năng lượng;

(48) Chất thải rắn của công nghiệp và đô thị; (49) Chất thải độc hại; (50) Chất thải

phóng xạ; (51) Chất thải tái sinh; (52) Khoảng cách đi lại tính trên đầu người theo

phương tiện vận tải.

Thể chế phát triển bền vững gồm 2 chủ đề khung thể chế và năng lực thể chế,

được cụ thể hóa thành 6 chỉ tiêu: (53) Chiến lược phát triển bền vững quốc gia; (54)

Thực thi các công ước quốc tế đã ký; (55) Số lượng người truy cập internet/1000 dân;



(56) Đường điện thoại chính/1000 dân; (57) Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển tinh

theo % GDP; (58) Thiệt hại về người và của do các thảm họa thiên nhiên.

2.2. Du lịch bền vững và Phát triển du lịch bền vững

2.2.1. Du lịch bền vững

2.2.1.1. Lịch sử ra đời thuật ngữ

Du lịch xuất hiện từ khi các hoạt động trao đổi, buôn bán, truyền giáo, thám

hiểm các vùng đất mới được hình thành. Từ trước Cơng ngun, du lịch đã xuất hiện,

xuất phát điểm từ Địa Trung Hải. Ban đầu việc cung ứng các dịch vụ nhằm thỏa mãn

nhu cầu của du khách còn mang tính sơ khai và chỉ chú trọng đến lợi nhuận mà không

quan tâm đến sự tác động xấu của du lịch đến mơi trường. Từ đó xuất hiện hình thức

du lịch đầu tiên trong lịch sử và còn tồn tại cho tới ngày nay “du lịch thương mại” hay

“du lịch ồ ạt” (mass tourism).

Đầu 1980, xuất hiện thuật ngữ “các loại hình du lịch thay thế” (alternative

tourism) (alternative tourism), để chỉ các loại hình du lịch có quan tâm đến mơi trường

bao gồm “du lịch xanh”, “du lịch mềm”, “du lịch có trách nhiệm”. Từ năm 1975 đến

năm 1980, Krippendorf và Jungk là những nhà khoa học đầu tiên cảnh báo về những

suy thoái sinh thái do hoạt động du lịch gây ra. Họ đã đưa ra khái niệm “du lịch rắn”

(hard tourism) để chỉ loại hình du lịch ồ ạt và “du lịch mềm” (soft tourism) để chỉ một

chiến lược mới tôn trọng môi trường. Đến năm 1995, Becker tổng kết và đưa ra đặc

trưng của hai loại hình du lịch rắn và mềm như sau:

Bảng 2.1: Du lịch rắn và du lịch mềm

Du lịch rắn (hard tourism)



Du lịch mềm (soft tourism)



1. Phát triển khơng có qui hoạch

2. Mỗi cộng đồng du lịch tự qui hoạch

cho họ

3. Xây dựng tràn lan và manh mún

4. Xây dựng cho một nhu cầu riêng biệt

5. Du lịch nằm trong tay các nhà kinh

doanh du lịch bên ngoài

6. Phát triển tất cả các phương cách để

khai thác tối đa khả năng của đối tượng

du lịch



1. Trước hết phải qui hoạch sau đó mới

phát triển

2. Qui hoạch tổng thể

3. Xây dựng tập trung để tiết kiệm

không gian

4. Xác định các giới hạn cho sự mở rộng

5. Cộng đồng bản địa tham gia và lập

quyết định

6. Phát triển tất cả các phương cách

(loại hình) nhưng chỉ ở mức độ vừa

phải, không khai thác tối đa đối tượng

du lịch

Nguồn: Becker (1995)



Năm 1996, xuất hiện một khái niệm mới là “du lịch bền vững” (sustainable

tourism), ủng hộ và chủ trương phát triển du lịch mà ít ảnh hưởng xấu tới môi trường

trên cơ sở cải tiến và nâng cấp từ khái niệm “du lịch mềm” của Krippedorf và Jungk.

2.2.1.2. Khái niệm du lịch bền vững

Theo giáo sư Berneker- một chuyên gia hàng đầu về du lịch thế giới đã nhận

định: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa.”

Theo “Luật Du lịch Việt Nam (2006): “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch

đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu

cầu về du lịch của tương lai”.

Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế (1996): “Du lịch bền vững là việc

đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả

năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”.

Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển Quốc tế (1987): “Du lịch bền vững là

một quá trình nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả

năng của những thế hệ mai sau”.

Từ những khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu: “Du lịch bền vững là sự phát triển

du lịch có sự quan tâm đến việc bảo tồn các giá trị của tài nguyên du lịch đồng thời

giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác hại xấu đến mơi trường, kinh tế, văn hóa- xã

hội nhằm phục vụ nhu cầu hiện tại của du khách và điểm du lịch mà không làm

phương hại đến nhu cầu của tương lai”.

Du lịch bền vững là phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng những nhu

cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc

bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển các hoạt động du lịch trong

tương lai…(Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, Du lịch bền vững, 2001). Du lịch bền

vững hướng đến việc quản lý các nguồn tài nguyên sao cho các nhu cầu kinh tế xã hội

đều được thỏa mãn trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các đặc điểm sinh thái,

sự đa dạng sinh học và hệ thống hỗ trợ đời sống.

Như vậy, du lịch bền vững là phát triển du lịch trong điều kiện bảo tồn và cải

thiện các mặt mơi trường, kinh tế, văn hóa và xã hội. Vì vậy, du lịch bền vững cần:

- Sử dụng tài nguyên môi trường một cách tối ưu để những tài nguyên này hình

thành một yếu tố quan trọng trong phát triển du lịch, duy trì những quá trình sinh thái

thiết yếu và hỗ trợ cho việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học.



- Tơn trọng bản sắc văn hóa- xã hội của các cộng đồng ở cấc điểm đến, bảo tồn

di sản văn hóa và những giá trị truyền thống trong cuộc sống của họ và tham gia vào

quá trình hiểu biết và chấp thuận các nền văn hóa khác.

- Bảo đảm những hoạt động kinh tế sống động lâu dài, đem lại lợi ích kinh tế,

xã hội cho tất cả mọi thành viên bao gồm những cơng nhân viên chức có thu nhập cao

hay những người có thu nhập và góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo.

2.2.2. Phát triển du lịch bền vững

Các vấn đề về phát triển bền vững được đưa ra từ những năm 1980, tiến hành

nghiên cứu về vấn đề này, nhiều nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm đưa ra các

khía cạnh liên quan đến phát triển bền vững. Từ những năm 1990, các nhà khoa học

trên thế giới đã đề cập nhiều đến việc phát triển du lịch với mục đích đơn thuần về

kinh tế đang đe dọa hủy hoại môi trường sinh thái, đến nền văn hóa bản địa. Hậu

quả của các tác động ấy sẽ lại ảnh hưởng đến bản thân sự phát triển lâu dài của

ngành du lịch. Nhưng định nghĩa phát triển du lịch bền vững không chỉ tập trung

vào việc bảo vệ mơi trường mà còn tập trung vào việc duy trì những văn hóa của

địa phương và đảm bảo việc phát triển kinh tế, mang lại lợi ích cơng bằng cho các

nhóm đối tượng tham gia. Phát triển du lịch bền vững được coi là một nhánh của

Phát triển bền vững, có nhiều định nghĩa đã được đưa ra và nhóm nghiên cứu đưa

ra một số khái niệm đã đưa ra:

Theo Hội nghị ủy ban Thế giới về Phát triển và Môi trường (hay Ủy ban

Brundtland) xác định năm 1987: “Hoạt động phát triển du lịch bền vững là hoạt động

phát triển ở một khu vực cụ thể sao cho nội dung, hình thức và quy mơ là thích hợp và

bền vững theo thời gian, khơng làm suy thối môi trường, làm ảnh hưởng đến khả

năng hỗ trợ.”

Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO): “Phát triển du lịch bền vững là việc phát

triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu về hiện tại của du khách và người

dân bản địa, trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên

cho phát triển du lịch trong tương lai”. Phát triển du lịch bền vững là đáp ứng đầy đủ

nhất, tiện nghi nhất các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút du khách đến các vùng,

điểm du lịch ngày nay đồng thời bảo vệ và nâng cao chất lượng cho tương lai.

Cho đến nay đa số ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực

liên quan khác ở Việt Nam đều cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững là hoạt động

khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa

dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm

bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự tồn

vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ



mơi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”. Đây cũng là

khái niệm mà nhóm tác giả sử dụng để làm căn cứ thực hiện nghiên cứu.

2.2.3. Vai trò và ý nghĩa của phát triển du lịch bền vững

Du lịch là một trong những công nghệ tạo nhiều lợi tức nhất cho đất nước. Du

lich có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta đạt các Mục Tiêu Phát

triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) mà Liên Hợp Quốc đã đề ra từ

năm 2000, đặc biệt là các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới tính, bền vững

mơi trường và liên doanh quốc tế để phát triển.

Chính vì vậy mà du lịch bền vững (sustainable tourism) là một phần quan trọng

của phát triển bền vững (sustainable development) của Liên Hợp Quốc và của Định

hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Bộ

Kế hoạch và Đầu tư).

Phát triển du lịch bền vững là một chủ đề được thảo luận rất nhiều ở các hội

nghị và diễn đàn lớn nhỏ trên toàn thế giới. Mục đích chính của phát triển bền vững là

để 3 trụ cột của du lịch bền vững - Mơi trường, Văn hóa xã hội và Kinh tế - được phát

triển một cách đồng đều và hài hòa.

Những lí do đi sâu vào chi tiết để giải thích tại sao lại cần phát triển du lịch bền

vững thì có nhiều, nhưng có thể thấy rất rõ ở 3 yếu tố từ định nghĩa trên:

Thứ nhất: Phát triển du lịch bền vững giúp bảo vệ mơi trường sống. Vì bảo vệ

môi trường sống không chỉ đơn giản là bảo vệ các lồi động thực vật q hiếm sống

trong mơi trường đó, mà nhờ có việc bảo vệ mơi trường sống mà con người được

hưởng lợi từ đó: Khơng bị nhiễm độc nguồn nước, khơng khí và đất. Đảm bảo sự hài

hòa về mơi trường sinh sống cho các lồi động thực vật trong vùng cũng là giúp cho

môi trường sống của con người được đảm bảo.

Thứ hai: Phát triển du lịch bền vững còn giúp phát triển kinh tế, ví dụ, từ việc

khai thác các đặc sản văn hóa của vùng, người dân trong vùng có thể nâng cao đời

sống nhờ khách du lịch đến thăm quan, sử dụng những dịch vụ du lịch và sản phẩm

đặc trưng của vùng miền, của vùng. Phát triển du lịch bền vững cũng giúp người làm

du lịch, cơ quan địa phương, chính quyền và người tổ chức du lịch được hưởng lợi, và

người dân địa phương có cơng ăn việc làm.

Thứ ba: Phát triển du lịch bền vững còn đảm bảo các vấn đề về xã hội, như việc

giảm bớt các tệ nạn xã hội bằng việc cung cấp công ăn việc làm cho người dân trong

vùng. Ở một cái nhìn sâu và xa hơn, du lịch bền vững giúp khai thác nguồn tài nguyên

một cách có ý thức và khoa học, đảm bào cho các nguồn tài nguyên này sinh sôi và

phát triển để thế hệ sau, thế hệ tương lai có thể được tiếp nối và tận dụng.



Với ba lí do được đề cập đến ở bên trên, ta có thể thấy rõ vai trò và tầm quan

trọng của phát triển du lịch bền vững trong chính sách phát triển bền vững ở Việt

Nam cũng như trên thế giới. Phát triển du lịch bền vững để có thể đạt được 3 yếu tố

đó đòi hỏi rất nhiều cơng sức và sự làm việc nghiêm chỉnh trong lúc thực hiện, đặc

biệt đối với một nước nền kinh tế còn nghèo và còn nhiều phụ thuộc như Việt Nam,

cùng với việc phát triển dân số, hệ thống luật lệ chồng chéo, và hệ thống hành

chánh còn nhiều yếu kếm.

2.2.4. Các tiêu chuẩn đánh giá du lịch bền vững toàn cầu

Tiêu chuẩn du lịch bền vững tồn cầu hướng tới 4 mục tiêu chính: hoạch định

phát triển bền vững và hiệu quả, nâng cao lợi ích kinh tế xã hội cho cộng đồng địa

phương, gìn giữ di sản văn hóa và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đối với môi

trường. Những tiêu chuẩn này là một phần trong các nỗ lực của cộng đồng kinh doanh

du lịch trước những thách thức toàn cầu hướng đến mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.

Xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường – bao gồm cả vấn đề biến đổi khí hậu – là

những vấn đề chính được đề cập trong bộ tiêu chuẩn này.

Bắt đầu từ năm 2007, Hiệp hội Tiêu chuẩn toàn cầu về du lịch bền vững – một

liên minh với 27 tổ chức thành viên, đã nhóm họp các nhà lãnh đạo để cùng nhau phát

triển bộ tiêu chuẩn du lịch bền vững. Trong vòng 15 tháng Hiệp hội này đã trao đổi,

thảo luận với các chuyên gia về tính bền vững của ngành du lịch và phân tích 4.500

tiêu chí của hơn 60 chứng chỉ hiện hành với sự tham gia của hơn 80.000 người bao

gồm những nhà bảo tồn, các nhà lãnh đạo ngành, các cơ quan chức năng của chính phủ

và Liên hợp quốc.

Theo các chuyên gia, những tiêu chuẩn này chỉ là bước khởi đầu trong tiến trình

hướng đến một tiêu chuẩn chung áp dụng trong tất cả các hình thức hoạt động của du

lịch. Bộ tiêu chuẩn này chỉ đưa ra những việc nên làm, song khơng chỉ ra cách thức

thực hiện hay xác định tính khả thi của mục tiêu. Vì vậy, vai trò bổ sung của việc quản

lý giám sát cùng với công cụ giáo dục truyền thông và các cách tiếp cận sẽ là những

yếu tố khơng thể thiếu để góp phần hồn thiện.

(1) Quản lý hiệu quả và bền vững

- Các công ty du lịch cần thực thi một hệ thống quản lý bền vững, phù hợp với

quy mô và thực lực của mình để bao qt các vấn đề về mơi trường, văn hóa xã hội,

chất lượng, sức khỏe và an tồn.

- Tn thủ các điều luật và quy định có liên quan trong khu vực và quốc tế.

- Tất cả nhân viên được đào tạo định kỳ về vai trò của họ trong quản lý mơi

trường, văn hóa xã hội, sức khỏe và các thói quen an tồn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×