Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LĨNH VỰC ĐỀ TÀI

LĨNH VỰC ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngày càng nhiều các nghiên cứu quan tâm đến vấn đề thể chế và chính sách

trong du lịch, tiếp nối Mowforth & Munt (1998) và Bossell (1999), Ko (2001) đề cập

tới chính sách quản lý mơi trường và coi đây là một khía cạnh quan trọng cần được lưu

tâm. García-Melon (2011) xác định quản lý và thể chế có tác động mạnh mẽ tới việc

phát triển du lịch bền vững, đồng tình với ý kiến này còn có Azizi (2011), Wang

(2013) và Uzun (2015).

Bên cạnh các khía cạnh căn bản và vốn đã được quan tâm ở trên, một số nhà

nghiên cứu còn đề cập tới khía cạnh về cách thức thực hiện du lịch và cộng đồng địa

phương. Ko (2001) đưa ra quan điểm về đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch,

cách thức thực hiện du lịch cũng được đánh giá qua các nghiên cứu của García-Melón

(2011), Castellani và Sala (2010), Lin và Lu (2012), đặc biệt nhấn mạnh vào tiêu chí

sự hài lòng về du lịch theo quan điểm của Uzun (2015). Lợi ích và năng lực của cộng

đồng ngày càng được coi trọng khi nguyên tắc về sự tham gia của cộng đồng trong

phát triển du lịch có được sự quan tâm đúng mực hơn, đặc biệt là trong các mơ hình du

lịch dựa vào cộng đồng (Community - Based Tourism), yếu tố phúc lợi cộng đồng

được coi là một khía cạnh đánh giá sự bền vững trong nghiên cứu của Uzun và cộng

sự (2015), các vấn đề về cộng đồng trong nghiên cứu của Lin và Lu (2012).

Tuy nhiên rất nhiều các nhà nghiên cứu vấn giữ nguyên quan điểm và sử dụng 3

tiêu chí bền vững căn bản để đánh giá mức độ bền vững của các mơ hình du lịch, điều

này có thể thấy ở các nghiên cứu của Mowforth & Munt (1998), Lozano-Oyola và

cộng sự (2012), Splanis và cộng sự (2005), Tsaur và cộng sự (2005), Blancas và cộng

sự (2010), D. Rio và cộng sự (2012), Huang và cộng sự (2016). Các nhà nghiên cứu

của Việt Nam cũng có chung quan điểm như vậy, điển hình phải kể đến nghiên cứu về

du lịch tỉnh Bình Thuận của La Nữ Ánh Vân (2012), các nghiên cứu đánh giá tính bền

vững của mơ hình du lịch làng nghề của Trịnh Kim Liên (2013) và Bạch Thị Lan Anh

(2011), nghiên cứu đánh giá mức độ bền vững du lịch vịnh Bái Tử Long của Châu

Quốc Tuấn và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014). Tuy nhiên tại Việt Nam việc đánh giá

phát triển du lịch bền vững thường được lồng ghép vào các nghiên cứu phân tích thực

trạng du lịch hay đề xuất giải pháp phát triển mà không được xác định là mục tiêu

nghiên cứu chính, khiến cho cách thức đánh giá chưa được bài bản, chủ yếu được thực

hiện dưới dạng đánh giá chủ quan của tác giả dựa trên số liệu thống kê thực trạng và ít

sử dụng các cơng cụ định lượng trong phương pháp tiến hành.

Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định nội dung đánh giá du

lịch bền vững giữa các tác giả nhưng các nhà khoa học đều đồng tình với việc phải dựa

trên các khía cạnh căn bản của phát triển bền vững, bên cạnh đó cần quan tâm các đặc

trưng của mỗi tình huống nghiên cứu cụ thể mà xác lập các tiêu chí đánh giá phù hợp.



1.1.2. Xác định phương pháp đánh giá và loại thang đo sử dụng

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả sẽ không đề cập tới cách thức đánh giá

phổ thông là đánh giá chủ quan dựa trên việc quan sát, cảm nhận và một cơ sở dữ liệu

thống kê mà tập trung vào cách thức đánh giá có sử dụng cơng cụ định lượng. Phương

pháp này chỉ được phát hiện ở một số ít các nghiên cứu tại Việt Nam điển hình là cơng

trình của La Nữ Ánh Vân (2012). Trong khi đó, các nhà khoa học trên thế giới đã phát

triển một số lượng đáng kể các cơng cụ đánh giá tính bền vững của du lịch nhưng để

áp dụng một cách bài bản các phương pháp này cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về

cơ sở lý luận và thực tiễn.

Một trong những cơ sở đầu tiên cho việc đánh giá tính bền vững của du lịch là

sự ra đời của Thước đo sự bền vững (Barometer of Sustainability), được phát triển

bởi Prescott-Allen và IUCN (1996), thang đánh giá của công cụ này được sử dụng

rộng rãi trong các nghiên cứu của Ko (2001), Tsaur (2005), Lin & Lu (2012) và các

nghiên cứu đánh giá sự bền vững ở nhiều lĩnh vực khác. Các nhà nghiên cứu có các

phương pháp khác nhau để đánh giá, trong đó có phương pháp giản đơn như sự áp

dụng thang đo 5 điểm của D. Rio (2012) đến các lý thuyết và kỹ thuật khá phức tạp

như lý thuyết mờ (Lin, 2012), lý thuyết hệ thống xám (Wang, 2014), dấu chân sinh thái

(LI, 2011)… Mặc dù có áp dụng cách đánh giá nào thì nhìn chung các nghiên cứu đều

phải được thực hiện dựa trên một (hoặc nhiều) thang đo tính bền vững, được xác định

rõ ràng các tiêu chí và các biến đo lường (biến thang đo). Điều này lại làm nảy sinh

một vấn đề rằng nên chọn loại thang đo nào cho nghiên cứu. Thông thường, các biến

đo lường được chia làm hai dạng chính: Biến đo lường khách quan (Objective

indicator) và biến đo lường chủ quan (Subjective indicator). Thang đo khách quan sử

dụng dữ liệu định lượng và đa số được mô tả bằng các hàm tính tốn (Sanchis và cộng

sự, 2008; Hsu và cộng sự, 2009; Prusty và cộng sự, 2010). Trong khi đó thang đo chủ

quan lại dựa trên thái độ và cảm nhận cá nhân, thiên về định tính, thang đo khách quan

thường được áp dụng nhiều hơn vì tính chính xác và chặt chẽ của nó. Trong trường

hợp đánh giá du lịch bền vững, không chỉ cần sự đánh giá khách quan mà còn phải

xem xét trên nhiều phương diện khác nhau từ góc độ của nhà quản lý, chuyên gia khoa

học hay người dân địa phương,… Chứng minh cho luận điểm này, số lượng các nghiên

cứu sử dụng thang đo lường chủ quan và khách quan là khá tương đương, thậm chí với

trường hợp đánh giá sự bền vững điểm du lịch, thang đo chủ quan còn được sử dụng

rộng rãi hơn.



Bảng 1.1: Một số công cụ đánh giá và loại thang đo được sử dụng

ST

Tác giả

T

1 Tae Gyou Ko, 2003

2



Francisco Javier

Blancas và cộng sự



3



LI Huiqin và cộng

sự, 2011



4



Mónica GarcíaMelón và cộng sự,

2012

5 Hamid Azizi và

cộng sự, 2011

6 D. Rio và cộng sự,

2012

7 Sheng-Hshiung

Tsaur và cộng sự,

2005

8 Yuti Huang và cộng

sự, 2016

9 Zheng-Xin Wang và

cộng sự, 2014

10 Ling-Zhong Lin và

cộng sự, 2012

11 Funda Varnac Uzun

và cộng sự, 2015

12 La Nữ Ánh Vân,

2012

13 Trịnh Kim Liên,

2013



14 Bạch Thị Lan Anh,

2011

15 Châu Quốc Tuấn và

cộng sự, 2014



Cơ sở và công cụ đánh giá

Thước đo sự bền vững, bản đồ đánh giá, phương

pháp chung mô tả và đánh giá hệ sinh thái

(AMOEBA)

Phương pháp phân tích thành phần chính

(Principal component Analysis), hệ thống tiêu chí

đánh giá, xếp hạng tính bền vững giữa các vùng.

Sức tải môi trường du lịch (Tourism

Environmental Carrying Capacity), Dấu chân sinh

thái du lịch (Tourism Ecological Footprint), Sức

tải sinh thái du lịch (Tourism Ecological Capacity)

Kỹ thuật Delphi và Phương pháp phân tích mạng

(Analytic Network Process)

Bộ chỉ tiêu đo lường, mơ hình tuyến tính tích lũy

(the cumulative linear model)

Kỹ thuật Delphi, Thang đo 5 điểm, bộ chỉ tiêu

đánh giá.

Kỹ thuật Delphi, Thước đo sự bền vững

(Barometer of Sustainability),…



Loại

thang đo

Khách

quan

Khách

quan

Khách

quan

Chủ quan

Khách

quan

Chủ quan

Chủ quan



Mơ hình phi tham số (Data Envelopment Analysis) Khách

quan

Hệ thống chỉ số, Lý thuyết hệ thống xám (grey

Khách

system analysis theory)

quan

Lý thuyết mờ (Fuzzy theory), kỹ thuật Delphi,

Chủ quan

Phương pháp phân tích mạng (ANP), phương pháp

phân tích thứ bậc (AHP)

Bộ tiêu chí đánh giá du lịch bền vững, phương

Chủ quan

pháp phân tích thứ bậc (AHP)

Bộ tiêu chí đánh giá, thang điểm đánh giá các tiêu Khách

chí

quan

Bộ tiêu chí đánh giá

Thang đo

khơng

được đo

lường cụ

thể.

Các khía cạnh bền vững về kinh tế, xã hội, mơi

Khơng có

trường

thang đo

rõ ràng

Các khía cạnh bền vững về kinh tế, xã hội, mơi

Khơng có

trường

thang đo

rõ ràng.

Nguồn: Tổng hợp của tác giả



Tuy nhiên vấn đề sử dụng loại đo lường nào cũng gắn với phương pháp đánh

giá, phổ biến hơn cả, các thang đo lường chủ quan thường được sử dụng trong các

nghiên cứu kết hợp sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierachy

Process-AHP) hay phân tích mạng (Analytic Network Process-ANP), thực chất

phương pháp phân tích mạng là phương pháp tổng quan của AHP, một công cụ hỗ trợ

ra quyết định đa tiêu chuẩn được giới thiệu bởi Saaty (1980, 1996) để phân chia một

vấn đề phức tạp thành một mạng lưới có hệ thống. Bộ cơng cụ thang đo tính bền vững

– AHP đã được sử dụng trong các nghiên cứu của García-Melón (2012), Lin (2012),

Uzun (2015). Bên cạnh đó các nghiên cứu sử dụng thang đo chủ quan cũng thường

được kết hợp một phương pháp tranh luận là Delphi, sự thảo luận có bài bản này diễn

ra giữa các chuyên gia nhằm lựa chọn các tiêu chí cho việc đánh giá sự bền vững.

Trong khi đó, các nghiên cứu sử dụng thang đo khách quan lại sử dụng dữ liệu là các

chỉ số khách quan và sử dụng một số công cụ khác khá phức tạp như AMOEBA (Ko,

2001), phương pháp phân tích thành phần chính (Blancas, 2009), dấu chân sinh thái

(LI, 2011), mơ hình tuyến tính tích lũy (Azizi, 2011),…

Các nghiên cứu của Việt Nam thường không sử dụng thang đo rõ ràng để đo

lường mức độ bền vững mà chỉ dừng lại ở phân tích mơ tả và đưa ra đánh giá dựa trên

một số tiêu chí để kết luận về tính bền vững (Bạch Thị Lan Anh, 2011; Trịnh Kim

Liên, 2013; Châu Quốc Tuấn, 2014). Trong nghiên cứu của La Nữ Ánh Tuyết (2011),

tác giả đã xác định được bộ tiêu chí đánh giá có cơ sở và sử dụng thang đo khách

quan, tuy nhiên chỉ áp dụng thang đánh giá cho từng tiêu chí và kết luận được tính bền

vững cho từng tiêu chí đó.



1.2. Hạn chế của các nghiên cứu trước và điểm mới của nghiên cứu này

Thứ nhất, về địa bàn nghiên cứu, bản Lác (Mai Châu) được nhìn nhận là một

trong những mơ hình du lịch dựa vào cộng đồng thành công tại Việt Nam, không chỉ là

điểm đến du lịch hấp dẫn mà còn đáp ứng được các tiêu chí du lịch bền vững và vận

hành hiệu quả (Nguyễn Thị Hường, 2011; Đào Ngọc Anh, 2016). Tuy nhiên, chưa có

nghiên cứu nào được thực hiện để đánh giá mơ hình du lịch bản Lác một cách bài bản

và căn cứ vào các phương pháp định lượng để rút ra kết luận về tính bền vững tại đây.

Hầu hết việc đề cập đến tính bền vững của mơ hình này đều nằm trong các nghiên cứu

đánh giá chung phát triển du lịch cộng đồng đã được thực hiện từ khá lâu (Bùi Thanh

Hương và cộng sự, 2007). Trong nghiên cứu này mặc dù có sự tìm hiểu qua nhiều khía

cạnh khác nhau nhưng tác giả chỉ nhìn nhận một cách chủ quan và thiếu cơ sở đánh giá

chặt chẽ và và không kết luận được về mức độ bền vững tại đây. Nghiên cứu này sẽ áp

dụng một cách thức đánh giá có bài bản và căn cứ để kết luận về tính bền vững, đồng

thời chỉ ra các khía cạnh thiếu bền vững của mơ hình du lịch vốn được coi là thành

công này.

Thứ hai, về phương pháp đánh giá, nghiên cứu kế thừa bộ công cụ đánh giá

thang đo tính bền vững – AHP đã được dùng trong các nghiên cứu của García-Melón

(2012), Lin (2012) và Uzun (2015) nhưng được đơn giản hóa giúp cho việc đánh giá

trở nên ít phức tạp hơn. Như trong nghiên cứu của Lin (2012) để xác định mức độ bền

vững qua một giá trị số (điểm bền vững) cần phải sử dụng kết hợp lý thuyết mờ (Fuzzy

Theory) nhưng lý thuyết này khá phức tạp về mặt toán học. Vì vậy nhóm nghiên cứu

sử dụng thang đánh giá 5 điểm (đã được ứng dụng trong nghiên cứu của D. Rio và

cộng sự, 2012) kết hợp với việc đánh trọng số cho các tiêu chí bằng AHP để xác định

điểm bền vững cho cả mơ hình, cách làm này cũng dựa trên cách tính giá trị bền vững

của thước đo sự bền vững (Barometer of Sustainability) của IUCN (1996). Thêm vào

đó, tại Việt Nam phương pháp AHP đã được sử dụng khá rộng rãi trong các nghiên cứu

và thực hành để xác định phương án ra quyết định tối ưu trong rất nhiều lĩnh vực kinh

tế, xã hội, quản lý,.. nhưng rất khó tìm được nghiên cứu nào áp dụng phương pháp này

để đánh giá tính bền vững của du lịch, trong khi đó nó đã được ứng dụng ở nhiều quốc

gia khác.

Thứ ba, về thang đo đánh giá tính bền vững, nghiên cứu này lần đầu đưa ra một

hệ thống chỉ số (biến đo lường) chủ quan dựa trên tổng hợp có chọn lọc từ các nghiên

cứu trước, kết hợp nghiên cứu thực địa để đánh giá mức độ bền vững của du lịch bản

Lác về phương diện cộng đồng địa phương, kết quả nghiên cứu cho thấy thang đo có

độ tin cậy cao và phát hiện được những vấn đề đặc trưng tại địa bàn nghiên cứu. Thang

đo này có thể được sử dụng để tiếp tục đánh giá tính bền vững của địa phương trong

tương lai.



CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC ĐỀ TÀI

2.1. Phát triển bền vững

2.1.1. Sự hoàn thiện quan niệm phát triển bền vững

Quan niệm phát triển bền vững ra đời và hoàn thiện trong một khoảng thời gian

tương đối dài, mà điểm xuất phát ban đầu là sự quan tâm đến mối quan hệ giữa phát

triển kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái. Ngay từ đầu những năm 60 của thế kỷ

XX, khi việc sử dụng thuốc trừ sâu DDT ở Mỹ gây nên những hiểm họa đối với môi

trường tự nhiên bị tiết lộ qua cuốn sách “Mùa xuân câm lặng” của nữ văn sĩ Rachel

Carson (Mỹ - 1962) thì nhận thức của người dân Mỹ về môi trường đã thay đổi, làm

khởi động các phong trào bảo vệ mơi trường và góp phần thúc đẩy các chính sách về

mơi trường của đất nước này.

Tiếp đến năm 1968, Câu lạc bộ Rome- một tổ chức phi chính phủ ra đời với

mục đích hỗ trợ cho việc nghiên cứu “Những vấn đề các thế giới” bao gồm các lĩnh

vực chính trị, văn hóa, xã hội, mơi trường và cơng nghệ trên tồn cầu với tầm nhìn dài

hạn. Tổ chức này đã tập hợp những nhà lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới. Trong

nhiều năm, câu lạc bộ Rome đã công bố, một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả

bản báo cáo Giới hạn của sư tăng trưởng- được xuất bản năm 1972- đề cập tới hậu quả

của việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên… Có thể nói

thập niên 70 của thế kỷ XX là thập niên diễn ra nhiều hoạt động của Liên hợp quốc

hướng vào vấn đề bảo vệ mơi trường trong q trình phát triển. Năm 1970, UNESCO

thành lập Chương trình Con người và Sinh quyển, với mục tiêu là phát triển cơ sở

khoa học cho việc sử dụng hợp lý và bảo tồn các môi trường. Đến năm 1972, Hội nghị

của Liên hợp quốc (LHQ) về Con người và Môi trường được tổ chức tại Stockholm

(Thụy Điển) được đánh giá là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn

thể nhân loại, nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường.

Năm 1980, tiếp theo Hội nghị Stockholm, các tổ chức bảo tồn như Hiệp hội

Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Chương Môi trường đưa ra “Chiến lược bảo tồn

thế giới”. Chiến lược này thúc giục các nước soạn thảo các chiến lược bảo tồn quốc

gia của mình. Từ khi Chiến lược bảo tồn thế giới được công bố tới nay, đã có trên 60

chiến lược bảo tồn quốc gia được phê duyệt. Trong chiến lược này, thuật ngữ “Phát

triển bền vững” lần đầu tiên được nhắc tới, tuy nhiên mới chỉ nhấn mạnh ở góc độ bền

vững sinh thái. Tiếp theo Chiến lược này, một cơng trình khoa học có tiêu đề “Cứu lấy

Trái Đất- Chiến lược cho cuộc sống bền vững “ đã được IUCN, UNEP và WWF soạn

thảo và công bố (1991)



Năm 1987, Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển xuất bản báo cáo

“Tương lai của chúng ta” mà ngày nay thường gọi là Brundtland. Bản báo cáo này lần

đầu tiên cơng bố chính thức thuật ngữ “Phát triển bền vững”, đưa ra sự định nghĩa

cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài. Bản

báo cáo đã góp phần tích cực vào việc phổ cập khái niệm phát triển bền vững trên quy

mơ tồn cầu, là điểm khởi đầu cho nhiều nghiên cứu tiếp theo nhằm làm sáng tỏ thêm

thuật ngữ phát triển bền vững.

Năm 1992, Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCED)

(Hay còn gọi là Hội nghị thượng đình về Trái đất) được tổ chức tại Rio de Janeiro

(Brazil). Tại hội nghị, “Phát triển bền vững” được định nghĩa một cách chính thức. Tại

đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một

chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21

(Agenda 21). Chương trình Nghị sự 21 về Phát triển bền vững đã trở thành chiến lược

phát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI, và “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”, với 8

nội dung (xóa đói, giảm nghèo; phổ cập giáo dục tiểu học; thúc đẩy bình đẳng giới,

đồng thời nâng cao quyền lợi của nữ giới; giảm tỷ lệ trẻ em tử vong; cải thiện và đảm

bảo sức khỏe sản phụ; đấu tranh với các bệnh tật như HIV, sốt xuất huyết; bảo vệ môi

trường; thúc đẩy phát triển hợp tác toàn cầu) đã được tập trung thực hiện.

Từ năm 2002, nội dung “Phát triển bền vững” mang tính bao quát trên phạm vi

toàn cầu trở thành mục tiêu phấn đấu của toàn nhân loại, cũng như của từng quốc gia,

từng dân tộc và từng nhóm cộng đồng.

2.1.2. Khái niệm phát triển bền vững

Khái niệm “Phát triển bền vững” (PTBV) xuất hiện trong phong trào “Bảo vệ

môi trường” (BVMT) từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, từ đó đến

nay đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra, như:

– Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh, dựa trên việc

sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và BVMT, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng

không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau.

– Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ tăng trưởng

cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên

thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng

nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại

hậu quả về môi trường cho thế hệ tương lai.

– Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm

thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LĨNH VỰC ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×