Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo tiêu thức này, VKD của doanh nghiệp được chia thành VKD đầu tư vào tài sản lưu động, tài sản cố định và tài sản tài chính của doanh nghiệp.

Theo tiêu thức này, VKD của doanh nghiệp được chia thành VKD đầu tư vào tài sản lưu động, tài sản cố định và tài sản tài chính của doanh nghiệp.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



định hữu hình và vơ hình, như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận

tải, phương tiện truyền dẫn, thiết bị, dụng cụ quản lý, các khoản chi phí mua

bằng phát minh, sáng chế, nhãn hiệu sản phẩm độc quyền, giá trị lợi thế về vị

trí địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp.

- Đầu tư vào tài sản tài chính là số vốn doanh nghiệp đầu tư vào các tài

sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ, kì

phiếu ngân hàng, chứng chỉ quỹ đầu tư và các giấy tờ có giá khác.

1.1.2.2. Phân loại theo đặc điểm luân chuyển vốn.

Theo đặc điểm luân chuyển VKD, VKD của doanh nghiệp được chia

thành vốn cố định và vốn lưu động.

 Vốn cố định:

VCĐ của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ

ra để đầu tư hình thành nên các TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp. Là số vốn tiền tệ ứng trước để xây dựng, mua sắm

TSCĐ nên quy mô của VCĐ sẽ quyết định quy mô, năng lực và trình độ kỹ

thuật của TSCĐ. Ngược lại, các đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật của TSCĐ lại

chi phối đặc điểm luân chuyển của VCĐ.

Đặc điểm chu chuyển của vốn cố định:

Một là, trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, VCĐ chu

chuyển dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu

hao tương ứng với phần hao mòn TSCĐ.

Hai là, VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Điều này

do đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ kinh doanh

quyết định.

Ba là, sau nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, VCĐ mới hồn thành một

vòng ln chuyển. Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn được luân chuyển vào

giá trị sản phẩm tăng dần lên, song phần giá trị còn lại giảm cho đến khi

SV: Trương Bảo Yến



14



Lớp: CQ51/11.13



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



TSCĐ hết thời hạn sử dụng, giá trị của nó được dịch chuyển hết vào giá trị

thành phẩm thì VCĐ mới hồn thành một vòng ln chuyển.

Những đặc điểm về VCĐ đòi hỏi nhà quản lý phải biết kết hợp giữa quản

lý theo giá trị và quản lý hình thái hiện vật của các TSCĐ của doanh nghiệp,

nhưng TSCĐ lại có rất nhiều loại mỗi loại lại có những đặc điểm riêng. Để

phục vụ cho nhu cầu quản lý TSCĐ cũng như quản lý tốt VCĐ, doanh nghiệp

cần tiến hành phân loại TSCĐ.

Vốn lưu động :

VLĐ của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ

ra để đầu tư hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như nguyên nhiên vật liệu dự trữ sản

xuất, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các khoản

vốn bằng tiền, vốn trong thanh tốn. Nói cách khác, VLĐ là biểu hiện bằng

tiền của các TSLĐ trong doanh nghiệp. VLĐ chu chuyển toàn bộ giá trị trong

1 lần và được bù đắp toàn bộ khi doanh nghiệp kết thúc chu kỳ kinh doanh.

VLĐ cũng hồn thành một vòng chu chuyển sau một chu kỳ kinh doanh.

Đặc điểm chu chuyển của VLĐ:

Một là, VLĐ trong q trình chu chuyển ln thay đổi hình thái biểu

hiện từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hóa sang hình thái vật tư dự trữ,

sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hóa và kết thúc q trình tiêu thụ trở về

hình thái ban đầu là tiền.

Thứ hai, VLĐ chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn

lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh.

Thứ ba, VLĐ hồn thành một vòng tuần hồn sau một chu kỳ kinh doanh.

VLĐ là điều kiện vất chất không thể thiếu được cảu quá trình tái sản

xuất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp cần quản lý tốt VLĐ, phải phân loại

VLĐ.

SV: Trương Bảo Yến



15



Lớp: CQ51/11.13



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



1.1.3. Nguồn hình thành vốn kinh doanh

Nguồn VKD của doanh nghiệp là tồn bộ các nguồn tài chính mà doanh

nghiệp có thể khai thác và sử dụng trong một thời kỳ nhất định đáp ứng nhu

cầu sản xuất kinh doanh của mình. Để tổ chức và lựa chọn hình thức huy

động VKD một cách thích hợp và có hiệu quả, theo một số tiêu thức người ta

chia nguồn VKD như sau:

a)Dựa vào quan hệ sở hữu vốn:

Dựa vào tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành 2

loại: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.

Vốn chủ sở hữu : là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh

nghiệp, bao gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh

doanh. Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định bằng công

thức sau:

Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả



Nợ phải trả : là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có

trách nhiệm phải thanh tốn cho các tác nhân kinh tế như nợ vay, các khoản

phải trả cho người bán, phải trả phải nộp cho Nhà nước, phải trả người lao

động trong doanh nghiệp…

Để đảm bảo hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, thông thường một

doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn VSCH và nợ phải trả, sự kết hợp

giữa hai nguồn này tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp và

quyết định của người quản lý trong doanh nghiệp.

b)Dựa vào thời gian huy động và sử dụng vốn:

Căn cứ vào tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành:

nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.

Nguồn vốn thường xun: Là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn

SV: Trương Bảo Yến



16



Lớp: CQ51/11.13



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn

này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành TSCĐ và một bộ phận

TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể được xác

định bằng cơng thức:

Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn



Hoặc:

Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp–

Nợ ngắn hạn



Nguồn vốn tạm thời : là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một

năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các u cầu có tính chất

tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn

tạm thời thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng,

các khoản nợ ngắn hạn khác.

c) Dựa vào phạm vi huy động vốn:

Căn cứ vào phạm vi huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp có thể

chia thành: nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài.

Nguồn vốn bên trong : là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư

từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra. Nguồn vốn bên trong

thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm lợi

nhuận giữ lại để tái đầu tư, đây là nguồn tăng thêm tài sản và nguồn vốn của

doanh nghiệp.

Nguồn vốn bên ngoài : là nguồn vốn được huy động từ bên ngoài doanh

nghiệp để tăng thêm nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn

bên ngồi bao gồm một số nguồn vốn chủ yếu sau: Vay người thân (đối với

doanh nghiệp tư nhân), vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính

khác, gọi góp vốn liên doanh liên kết, tín dụng thương mại của nhà cung cấp,

SV: Trương Bảo Yến



17



Lớp: CQ51/11.13



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



thuê tài sản, huy động vốn bằng phát hành chứng khốn (đối với các loại hình

doanh nghiệp được pháp luật cho phép).

Việc phân loại nguồn vốn theo phạm vi huy động vốn sẽ giúp doanh

nghiệp điều chỉnh được cơ cấu tài trợ một cách hợp lý, dựa trên ngun tắc:

huy động trước các nguồn có chi phí sử dụng vốn thấp, sau đó mới huy động

đến nguồn tài trợ có chi phí sử dụng vốn cao hơn. Mỗi nguồn đều có ưu,

nhược điểm riêng, vì vậy nên huy động vốn dưới hình thức nào đòi hỏi doanh

nghiệp phải tính tốn một cách kỹ lưỡng, chặt chẽ và chính xác. Qua đó, xác

định được cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu, đảm bảo an tồn tài chính, tối thiểu hóa

chi phí sử dụng vốn mà vẫn cho lợi nhuận kinh tế cao.

1.2. Quản trị sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.1. Khái niệm và mục tiêu quản trị sử dụng VKD của doanh nghiệp.

1.2.1.1.Khái niệm quản trị sử dụng vốn kinh doanh.

Quản trị VKD là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và

kiểm soát quá trình tạo lập, phân bổ và sử dụng VKD của doanh nghiệp nhằm

đạt được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tốt đa hóa giá trị doanh nghiệp.

Quản trị VKD là một bộ phận, một nội dung quan trọng trong quản trị tài

chính doanh nghiệp, có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng tới tất cả các hoạt

động quản trị tài chính của doanh nghiệp.

1.2.1.2.Mục tiêu quản trị sử dụngvốn kinh doanh.

Quản trị VKD trước hết và quan trọng nhất là nhằm đạt dược mục tiêu

hoạt động của doanh nghiệp đó là lợi nhuận trong kinh doanh và tối đa hóa

giá trị của doanh nghiệp.

Hoạt động quản trị VKD phải làm cho VKD được sử dụng tiết kiệm và

hiệu quả nhất để VKD mang lại lợi ích lớn nhất cho doanh nghiệp. Trong

quản trị VKD, các nhà quản trị luôn phải chú ý đến đặc điểm luân chuyển của

từng loại vốn để xác định đúng đắn nhu cầu cần thiết phù hợp với quy mô,

SV: Trương Bảo Yến



18



Lớp: CQ51/11.13



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có biện pháp quản lý, sử

dụng chúng có hiệu quả nhất.

1.2.2. Nội dung quản trị sử dụng vốn kinh doanh

1.2.2.1.Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp

Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp là quản trị về tiền mặt, các

khoản phải thu và hàng tồn kho nhằm đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra bình

thường, liên tục.

a) Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

Hoạt động SXKD của doanh nghiệp diễn ra thường xun, liên tục.

Trong q trình đó ln đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng VLĐ cần

thiết để đáp ứng nhu cầu mua sắm vật tư dự trữ, bù đắp chênh lệch các khoản

phải thu, phải trả giữa doanh nghiệp với các khách hàng, đảm bảo cho quá

trình SXKD của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục.

Như vậy: Nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết là số VLĐ tối thiểu

cần thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp được

tiến hành bình thường, liên tục.

Nhu cầu VLĐ được xác định theo công thức:

Nhu cầu VLĐ = Vốn hàng tồn kho + Nợ phải thu - Nợ phải trả nhà cung cấp



Dưới mức này hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp

nhiều khó khăn, thậm chí có thể bị đình trệ, gián đoạn. Nhưng trên mức cần

thiết lại gây ra tình trạng ứ đọng và lãng phí vốn , sử dụng vốn kém hiệu quả.

Vì vậy trong quản trị VLĐ , việc xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ

thường xuyên cần thiết, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh cụ thể

của doanh nghiệp cần được chú trọng.

Nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như:

đặc điểm, tính chất của ngành nghề kinh doanh; quy mơ kinh doanh của

doanh nghiệp; trình độ tổ chức, quản lý sử dụng VLĐ của doanh nghiệp; sự

SV: Trương Bảo Yến



19



Lớp: CQ51/11.13



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



biến động giá cả vật tư, hàng hóa… để quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả thì

doanh nghiệp cần xác định đúng đắn các yếu tố ảnh hưởng để xác định đúng

nhu cầu VLĐ.

Có rất nhiều các xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp nhưng gộp lại

làm 2 nhóm phương pháp là: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.

*Phương pháp trực tiếp

Phương pháp này căn cứ vào nhữn gyếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến

lượng VLĐ ứng ra để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết

bao gồm các nội dung :

+ Xác định nhu cầu vốn HTK trong khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông.

+ Xác định nhu cầu vốn thành phẩm: số vốn tối thiểu dùng để hình thành

lượng dự trữ thành phẩm tồn kho chờ tiêu thụ.

+ Xác định nhu cầu vốn nợ phải thu.

+ Xác định nhu cầu vốn nợ phải trả nhà cung cấp.

Nhu cầu VLĐ xác định theo phương pháp này có ưu điểm là phản ánh rõ

nhu cầu VLĐ cho từng loại vật tư hàng hóa và từng khâu kinh doanh , do vậy

tương đơi sát với nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Tuy vậy, nó vẫn còn bộc lộ

nhiều hạn chế như: việc tính tốn tương đối phức tạp, khối lượng tính tốn nhiều

và mất nhiều thời gian trong việc xác định nhu cầu VLĐ cảu doanh nghiệp.

*Phương pháp gián tiếp

Phương pháp này dựa vào phân tích tình hình thực tế sử dụng VLĐ của

doanh nghiệp năm báo cáo, sự thay đổi về quy mô kinh doanh và tốc độ luân

chuyển VLĐ năm kế hoạch hoặc sự biến động nhu cầu VLĐ theo doanh thu

thực hiện năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ năm kế hoạch.

Các phương pháp cụ thể như sau;

+ Phương pháp điều chỉnh tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với năm báo

cáo: Thực chất phương pháp này là dựa vào thực tế nhu cầu VLĐ năm báo

SV: Trương Bảo Yến



20



Lớp: CQ51/11.13



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



cáo và điều chỉnh nhu cầu theo quy mô kinh doanh và tốc độ luân chuyên

VLĐ năm kế hoạch.

+Phương pháp dựa vào tổng mức luân chuyển vốn và tốc độ luân

chuyển vốn năm kế hoạch : Theo phương pháp này, nhu cầu VLĐ được xác

định căn cứ vào tổng mức luân chuyển VLĐ ( hay doanh thu thuần) và tốc độ

luân chuyển VLĐ dự tính của năm kế hoạch.

+Phương pháp dựa vào tỷ lệ phần trăm trên doanh thu: Nội dung

phương pháp này dựa vào sự biến động theo tỷ lệ trên doanh thu của các yesu

tố cấu thành VLĐ của doanh nghiệp năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ

thep doanh thu năm kế hoạch.

b) Tổ chức phân bổ vốn lưu động.

Tổ chức phân bổ vốn lưu động hay kết cấu vốn lưu động phản ánh quan hệ

tỷ lệ giữa các thành phần VLĐ trong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp.

Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng khác nhau.

Việc phân tich kết cấu vốn lưu động theo nhiều tiêu thức khác nhau sẽ giúp

cho doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà

mình đang quản lý, sử dụng, từ đó xác định các biện pháp quản lý vốn lưu

động có hiệu quả hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.

Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động:

+ Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư: Khoảng cách giữa doanh nghiệp

và nhà cung cấp, khả năng cung cấp của thị trường, , kỹ thuật giao hàng và

khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng, đặc điểm thời vụ của

chúng loại vật tư cung cấp.

+ Các nhân tố về mặt sản xuất: Đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất

của doanh nghiệp, mức độ phức tạp của sản phẩm, độ dài của chu kỳ sản xuất,

trình độ tổ chức quá trình sản xuất.

+ Các nhân tố về mặt thanh toán: phương thức thanh toán , thủ tục thanh

SV: Trương Bảo Yến



21



Lớp: CQ51/11.13



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



toán, việc chấp hành kỷ luật thanh toán giữa các doanh nghiệp.

c) Quản trị vốn bằng tiền

Vốn bằng tiền (gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) là

một bộ phận cấu thành TSNH của doanh nghiệp. Đây là loại tài sản có tính

thanh khoản cao nhất, tuy nhiên nó cần được sử dụng vào mục đích nhất định

thì mới có thể sinh lời. Đồng thời, do có tính thanh khoản cao nên vốn bằng

tiền dễ bị thất thoát, gian lận, lợi dụng.

Quản trị vốn bằng tiền cần đáp ứng ba yêu cầu cơ bản là: đảm bảo sự an

toàn tuyệt đối, đem lại khả năng sinh lời cao và đáp ứng kịp thời các nhu cầu

thanh toán tiền mặt của doanh nghiệp.

Trong các doanh nghiệp thường có 3 lý do để lưu giữ vốn bằng tiền:

nhằm đáp ứng các nhu cầu giao dịch, thanh toán hàng ngày (trả tiền mua

hàng, trả tiền lương, tiền cơng, thanh tốn cổ tức, nộp thuế…); đầu tư sinh lời

hoặc kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận, và dự phòng khắc phục rủi ro bất

ngờ có thể sảy ra.

Nội dung quản trị vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm:

- Xác định đúng đắn mức dự trữ tiền mặt hợp lý, tối thiểu để đáp ứng

các nhu cầu chi tiêu bằng tiền mặt của doanh nghiệp trong kỳ. Cách đơn giản

nhất để xác định mức tiền mặt hợp lý của doanh nghiệp là căn cứ vào số liệu

thống kê nhu cầu chi dùng tiền mặt bình quân 1 ngày và số ngày dự trữ tiền

mặt hợp lý. Quyết định tồn quỹ tiền mặt mục tiêu của doanh nghiệp được dựa

trên cơ sở xem xét sự đánh đổi giữa chi phí cơ hội của việc giữ quá nhiều tiền

mặt với chi phí giao dịch do giữ quá ít tiền mặt.

- Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt: doanh nghiệp cần quản lý

chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt để tránh bị mất mát, lợi dụng. Thực hiện

nguyên tắc các khoản thu chi tiền mặt đều phải qua quỹ. Phân định rõ ràng

trách nhiệm quản lý vốn bằng tiền giữa kế toán và thủ quỹ. Phải thực hiện đối

SV: Trương Bảo Yến



22



Lớp: CQ51/11.13



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



chiếu, kiểm tra tồn quỹ tiền mặt với sổ quỹ hàng ngày. Theo dõi,quản lý chặt

chẽ các khoản tạm ứng, tiền đang chuyển,…

- Chủ động lập và thực hiện kế hoạch lưu chuyển tiền tệ hàng năm, có

biện pháp phù hợp đảm bảo cân đối thu chi tiền mặt và sử dụng có hiệu quả

nguồn tiền mặt tạm thời nhàn rỗi. Dự báo và quản lý có hiệu quả các dòng

xuất nhập ngân quỹ trong từng thời kỳ để thanh toán đúng hạn.

d) Quản trị các khoản phải thu

Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng

hóa hoặc dịch vụ, hầu hết các doanh nghiệp đều có khoản này nhưng với quy

mơ, mức độ khác nhau. Nếu các khoản phải thu quá lớn, tức số vốn của doanh

nghiệp bị chiếm dụng cao, hoặc khơng kiểm sốt nổi sẽ ảnh hưởng xấu đến

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, quản trị khoản phải

thu là một nội dung rất quan trọng.

Quản trị khoản phải thu cũng liên quan đến sự đánh đổi giữa lợi nhuận

và rủi ro trong bán chịu hàng hóa, dịch vụ. Nếu doanh nghiệp bán chịu hàng

hóa dịch vụ nhiều thì sẽ làm tăng chi phí quản trị các khoản phải thu, tăng

nguy cơ nợ khó đòi hoặc rủi ro khơng thu hồi được nợ. Nhưng nếu doanh

nghiệp không bán chịu hàng hóa, dịch vụ thì mất đi cơ hội tiêu thụ hàng hóa,

dịch vụ, do đó cũng mất đi cơ hội thu lợi nhuận.

Để quản trị các khoản phải thu, các doanh nghiệp cần chú trọng thực

hiện các biện pháp sau đây:

- Xác định chính sách bán chịu hợp lý đối với từng khách hàng. Nội

dung chính sách bán chịu trước hết là xác định đúng đắn các tiêu chuẩn hay

giới hạn tối thiểu về mặt uy tín của khách hàng để doanh nghiệp có thể chấp

nhận bán chịu. Ngồi ra, cũng cần xác định đúng đắn các điều khoản bán chịu

hàng hóa, dịch vụ.

- Phân tích uy tín tài chính của khách hàng mua chịu. Nội dung chủ yếu

SV: Trương Bảo Yến



23



Lớp: CQ51/11.13



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



là đánh giá khả năng tài chính và mức độ đáp ứng yêu cầu thanh toán của

khách hàng khi khoản nợ đến hạn thanh toán để tránh các tổn thất do các

khoản nợ khơng có khả năng thu hồi.

- Áp dụng các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả thu hồi nợ. Tùy

theo điều kiện cụ thể có thể áp dụng các biện pháp như: Sử dụng kế toán

thu hồi nợ chun nghiệp (thơng qua bộ phận kế tốn theo dõi khách hàng

vay nợ, kiểm soát chặt các khoản phải thu với từng khách hàng, xác định hệ

số nợ phải thu trên doanh thu bán hàng tối đa…); xác định trọng tâm quản

lý và thu hồi nợ trong từng thời kỳ để có chính sách thu hồi nợ thích hợp.

Ngồi ra doanh nghiệp cũng cần trích lập các khoản dự phòng để ngăn

ngừa rủi ro bán chịu.

e) Quản trị vốn tồn kho dự trữ

Tồn kho dự trữ là những tài sản mà doanh nghiệp dự trữ để đưa vào sản

xuất hoặc bán ra sau này.Việc hình thành lượng hàng tồn kho đòi hỏi phải ứng

trước một lượng tiền nhất định gọi là vốn tồn kho dự trữ. Việc quản lý vốn tồn

kho dự trữ là rất quan trọng giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng vật tư

hàng hóa ứ đọng, chậm luân chuyển, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường, góp phần đẩy nhanh tốc độ luân

chuyển VLĐ.

Vốn tồn kho dự trữ là một bộ phận của VLĐ, vốn tồn kho bao gồm vốn

tồn kho nguyên vật liệu, vốn tồn kho sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, vốn

tồn kho thành phẩm, hàng hóa, …Tùy thuộc đặc điểm và lựa chọn chính sách

tồn kho của mỗi doanh nghiệp mà quy mơ và tỷ trọng các loại vốn trong tổng

vốn tồn kho dự trữ là khác nhau.

Quy mô vốn tồn kho dự trữ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi mức tồn kho dự

trữ của doanh nghiệp. Mức tồn kho dự trữ của từng loại vốn tồn kho lại chịu

ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Đối với tồn kho dự trữ nguyên vật liệu

SV: Trương Bảo Yến



24



Lớp: CQ51/11.13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo tiêu thức này, VKD của doanh nghiệp được chia thành VKD đầu tư vào tài sản lưu động, tài sản cố định và tài sản tài chính của doanh nghiệp.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×