Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tây, đặc biệt là ở Anh. Trong những năm kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, các hiệp định

thương mại đa phương như GATT và WTO đã cố gắng xây dựng một cơ chế thương mại quốc tế có

sự thống nhất điều chỉnh trên phạm vi tồn cầu.

Hướng tới thương mại tự do, các hiệp định thương mại khơng chỉ đàm phán việc giảm thuế mà

còn đàm phán cả các biện pháp phi thuế như hạn chế số lượng nhập khẩu, cấp phép nhập khẩu, vệ

sinh kiểm dịch, đầu tư nước ngồi, mua sắm chính phủ và tạo thuận lợi cho thương mại bằng cách

đơn giản hóa các thủ tục hải quan.

Theo Luật Thương mại 2005, nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hố được đưa vào lãnh thổ Việt

Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải

quan riêng theo quy định của pháp luật.

Hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ được coi là hoạt động thương mại, nó bao gồm hoạt

động nội thương và hoạt động ngoại thương trong đó ngoại thương bao gồm xuất khẩu và nhập

khẩu.

Hoạt động nhập khẩu là việc mua hàng hoá, dịch vụ từ các tổ chức kinh tế hay các doanh

nghiệp nước ngoài theo các nguyên tắc thị trường quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước hoặc

tái xuất khẩu để tìm kiếm lợi nhuận.

Hoạt động nhập khẩu là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế, nó

thể hiện sự phụ thuộc gắn bó lẫn nhau giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới. Từ đó thấy

được lợi thế so sánh về vốn, lao động, tài ngun thiên nhiên, khoa học cơng nghệ,... để có chính

sách khai thác hợp lý và có lợi nhất.

Xu thế quốc tế hố, tồn cầu hố trên thế giới diễn ra khá mạnh mẽ, đó là sự hình thành các

khu vực mậu dịch, các liên minh kinh tế như AFTA, NAFTA,... đã cho thấy khối lượng giao dịch

giữa các quốc gia ngày càng lớn và rõ ràng vai trò nhập khẩu là khơng thể thiếu, nó khơng chỉ quan

trọng đối với một quốc gia mà còn đối với cả sự ổn định kinh tế chung của khu vực. Ở một giới hạn

nhất định nhập khẩu có thể quyết định tới sự sống còn của nền kinh tế nước đó đã thống nhất dưới

một mái nhà chung của nền kinh tế thế giới.

1.1.2.Vai trò của nhập khẩu hàng hóa

Một điều khẳng định rằng, trên thế giới nơi nào có hoạt động thương mại, đặc biệt là thương

mại quốc tế phát triển thì nơi đó có nền kinh tế phát triển. Trước đây một số nước như Trung Quốc,

Liên Xô (cũ), Việt Nam đã coi độc lập kinh tế là vấn đề trên hết và có ý thức xây dựng một nền kinh



tế tự cung tự cấp. Nhưng thực tế đã thất bại, sự khan hiếm hàng hoá trầm trọng đã ảnh hưởng đến

kinh tế cũng như xã hội. Bài học này cho thấy rằng hoạt động ngoại thương là vô cùng quan trọng,

phải biết kết hợp cả nội lực và ngoại lực, ngoại lực là yếu tố quan trọng còn nội lực là yếu tố quyết

định. Trong thực tế khơng có quốc gia nào là có lợi thế về tất cả các mặt hàng, các lĩnh vực, sự bổ

sung hàng hoá giữa các quốc gia đã đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu. Những quốc gia phát triển

thường xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu rất nhiều và ngược lại những nước kém phát triển thì kim

ngạch nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu. Nhận thức được vấn đề này, các quốc gia đã tích cực tham gia

vào các tổ chức thương mại quốc tế nơi thúc đẩy sự trao đổi buôn bán giữa các nước diễn ra một

cách mạnh mẽ và có hiệu quả hơn. Và thành phần khơng thể thiếu, đó là nhập khẩu đã đóng vai trò

quan trọng của nền kinh tế quốc gia cũng như đối với sự phát triển của thương mại quốc tế.

Thứ nhất, nhập khẩu góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội, cải thiện và nâng cao tính

cạnh tranh, giảm độc quyền.

Nhờ hoạt động này mà một quốc gia có thể tiêu dùng vượt khả năng sản xuất của mình. Cũng

nhờ có hoạt động nhập khẩu cơ cấu hàng hố lưu thơng trên thị trường trở nên phong phú hơn cả về

quy cách, chất lượng, chủng loại, mẫu mã thoả mãn được nhu cầu trong nước ở mức độ cao đặc biệt

đối với hàng hóa trong nước chưa sản xuất được. Bên cạnh đó nó cũng tạo ra sự cạnh tranh mạnh

mẽ giữa hàng sản xuất trong nước và hàng ngoại nhập, thanh lọc các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu

quả và khuyến khích các doanh nghiệp nội địa vươn lên. Nó xố bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ

triệt để nền kinh tế đóng, chế độ tự cung tự cấp. Mặt khác, hoạt động nhập khẩu còn góp phần cải

thiện điều kiện làm việc cho người lao động thông qua việc nhập khẩu các phương tiện, công cụ lao

động mới, tiên tiến và an toàn.

Việt Nam hiện nay vẫn đang trong quá trình đổi mới, do đó vẫn còn khá nhiều tàn dư mà thời

bao cấp để lại như là tình trạng độc quyền của một số tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước, tác

phong quản lý mệnh lệnh tập trung và quan liêu, hiệu quả sản xuất thấp. Hoạt động nhập khẩu sẽ

giúp cho hàng hóa dịch vụ ở thị trường trong nước trở lên phong phú hơn, làm cho các doanh

nghiệp muốn tồn tại thì phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình về chất lượng, giá cả, thái độ

phục vụ khách hàng.

Thứ hai, nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, chuyển

dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hố-Hiện đại hóa



Khơng phải tất cả các quốc gia trên thế giới đều có thể tự sản xuất được tất cả hàng hoá phục

vụ cho tiêu dùng hay xây dựng, để rồi tự trang bị cho mình, đặc biệt là các nước đang phát triển như

Việt Nam, nhu cầu về cải thiện cơ sở hạ tầng rất lớn và việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại

tất yếu phải thông qua con đường nhập khẩu.

Hoạt động nhập khẩu phát triển sẽ điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Nhờ có nhập khầu, hoạt động

thương mại phát triển hơn, ngân hàng, vận tải, bảo hiểm… cũng thêm được cơ hội để hướng ra thế

giới bên ngoài, mở rộng quy mô, tăng cường tiềm lực phát triển kinh tế đất nước. Sự phát triển của

nhập khẩu sẽ đẩy mạnh sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ do áp dụng những thành tựu

khoa học trên thế giới, qua đó tỉ trọng ngành dịch vụ và cơng nghiệp tăng còn tỉ trọng ngành nơng

nghiệp giảm dần.

Thứ ba, nhập khẩu giúp tận dụng năng lực sản xuất của quốc gia khác, làm cho thị trường hàng

hóa dịch vụ trong nước thêm phong phú.

Vì một lý do nào đó tác động đến cân bằng cung cầu và cung không đáp ứng đủ cầu trong

nước. Mục tiêu hiệu quả kinh tế làm cho các quốc gia tham gia vào phân công lao động quốc tế, tập

trung phát triển mặt hàng lợi thế. Hàng loạt các nhu cầu không thể đáp ứng bằng nguồn lực sản xuất

nội địa mà phát sinh nhu cầu nhập khẩu mang tính chu kỳ và khá ổn định. Tham gia hoạt động nhập

khẩu, sự mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa cung và cầu được khắc phục nghĩa là góp

phần làm cho q trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra thường xuyên và ổn định. Khơng chỉ nhập

khẩu trực tiếp hàng hố thiết yếu mà thị trường nội địa còn khan hiếm mà cả máy móc, ngun phụ

liệu, cơng nghệ giúp cho sản xuất trong nước phát triển, năng suất lao động cao hơn, hàng hố sản

xuất ra dồi dào và ngồi ra còn có tác dụng giữ giá ổn định trên thị trường, hạn chế sự leo thang của

giá cả bằng cách tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh-chất lượng và giá cả được quan tâm.

Thứ tư, nhập khẩu thúc đẩy sự đổi mới về thiết bị và công nghệ

Nhập khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh vì nó cung cấp ngun phụ liệu để

sản xuất hàng hoá trong nước, tỷ lệ nguyên phụ liệu này tuỳ thuộc vào từng quốc gia với nhu cầu

của họ, đem lại nhiều trình độ cơng nghệ khác nhau phù hợp với từng vùng, địa phương với quy mô

và khả năng sản xuất được nâng cao, năng suất lao động tăng. Q trình nhập khẩu hàng hóa cũng

tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp nội địa được tiếp cận với quy trình sản xuất và trang

thiết bị hiện đại thơng qua q trình chuyển giao khoa học kỹ thuật và công nghệ từ nước xuất khẩu



sang nước nhập khẩu. Từ đó tạo điều kiện cho q trình đổi mới công nghệ sản xuất của doanh

nghiệp nhập khẩu và của cả quốc gia.

Với các quốc gia đang phát triển, hoạt động nhập khẩu đem lại sự chuyển giao khoa học cơng

nghệ, máy móc thiết bị. Nhờ đó góp phần đẩy mạnh q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nền

kinh tế và thu hẹp khoảng cách về trình độ khoa học công nghệ giữa các quốc gia trên thế giới.

Thứ năm, nhập khẩu giúp cân bằng cán cân thanh toán

Một quốc gia khơng thể chỉ có xuất khẩu mà khơng nhập khẩu. Thơng qua xuất nhập khẩu có

thể làm tăng ngoại tệ thu được, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu cho ngân sách nhà nước. Nhập

khẩu là một trong hai hoạt động chính của hoạt động ngoại thương, nó một mặt làm cân bằng cán

cân thanh tốn quốc tế, một mặt thúc đẩy xuất khẩu phát triển, đây là hai hoạt động không thể tách

rời nhau của một nền kinh tế.

Nhập khẩu và xuất khẩu có mối quan hệ khăng khít với nhau. Hiện nay trên thế giới, các nước

đều nhấn mạnh đến hoạt động xuất khẩu nhưng khơng vì thế mà nhập khẩu bị coi nhẹ. Có những

mặt hàng nguyên phụ liệu phải nhập khẩu từ nước ngồi, cá biệt có thể là 100%, mà lợi thế so sánh

chỉ là giá nhân công rẻ hoặc được hưởng ưu đãi nào đó. Đối với những nước kém về cơng nghệ thì

việc nhập khẩu cơng nghệ, máy móc thiết bị giúp cho hàng hoá sản xuất chất lượng cạnh tranh trên

thị trường quốc tế. Ngược lại, nhập khẩu phải có lượng dự trữ ngoại tệ, khoản này khơng thể chỉ

trông mong từ hoạt động đi vay từ các tổ chức quốc tế mà nó cần thiết phải được lấy ra từ hoạt động

xuất khẩu và các nước đều cân đối để cán cân thương mại được cân bằng.

1.1.3. Các phương thức nhập khẩu hàng hóa

Nhập khẩu đơn thuần chỉ là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá qua biên giới nhưng trong

thực tế có nhiều phương thức nhập khẩu, mỗi loại có những điều kiện nhất định, ưu điểm, nhược

điểm riêng.Để phù hợp với đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp và phân tán rủi ro, hiện nay, trong

thương mại quốc tế tồn tại rất nhiều phương thức nhập khẩu khác nhau. Mỗi doanh nghiệp thực hiện

kinh doanh nhập khẩu theo một hay một số phương thức xác định phù hợp với điều kiện và mục tiêu

cụ thể của mình. Dưới dây, là các phương thức nhập khẩu chủ yếu sau

1.1.3.1. Nhập khẩu trực tiếp

Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu mà người mua và người bán hàng háo

trực tiếp giao dịch với nhau, q trình mua và bán khơng hề rang buộc lẫn nhau. Bên mua có thể

mua và bên bán có thể bán và ngược lại. Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu độc



lập của một doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong và ngồi nước,

tính tốn đầy đủ các chi phí đảm bảo kinh doanh có lãi, đúng phương hướng, chính sách luật pháp

của Nhà nước cũng như quốc tế.

Trong hoạt động nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, doanh nghiệp hoàn toàn nắm quyền chủ động,

doanh nghiệp nhập khẩu tự tìm hiểu thị trường, tìm kiếm và lựa chọn nhà cung cấp, lựa chọn

phương thức giao dịch, đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng. Đây là điểm khác biệt nhất so với

các hình thức nhập khẩu khác. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm bắt được chất lượng hàng

hố của đối tác cũng như những thơng tin về đối tác để đảm bảo không bị gian lận thương mại.

Trong hình thức này, doanh nghiệp nhập khẩu sẽ phải tự bỏ vốn để chi trả toàn bộ các chi phí phát

sinh trong q trình hoạt động kinh doanh và chịu toàn bộ những rủi ro xảy ra nhưng được hưởng

lợi tồn bộ. Các doanh nghiệp sẽ có sự tự chủ trong việc mua hàng hoá hơn so với các hình thức

khác.

1.1.3.2. Nhập khẩu liên doanh

Đây là một hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kỹ thuật một cách tự nguyện giữa

các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ

năng, kỹ thuật để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập

khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên, cùng chia lãi nếu lỗ

thì cùng phải chịu.

Trong hình thức này, các doanh nghiệp nhập khẩu liên doanh ít chịu rủi ro bởi mỗi doanh

nghiệp liên doanh nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của

các bên cũng tăng theo số vốn góp, việc phân chia chi phí, thuế doanh thu theo tỷ lệ vốn góp, lãi lỗ

hai bên phân chia tuỳ theo thoả thuận dựa trên vốn góp cộng với phần trách nhiệm mà mỗi bên gánh

vác.

Tại Việt Nam, hoạt động nhập khẩu liên doanh vẫn đang được áp dụng tại nhiều doanh nghiệp

do một mặt thiếu vốn, năng lực cần thiết; mặt khác do khơng thể tìm được đối tác có nhu cầu tương

tự.

Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp trong liên doanh phải ký hai loại hợp đồng, một

hợp đồng với đối tác bán hàng nước ngoài và hợp đồng liên doanh với các doanh nghiệp khác.



1.1.3.3. Nhập khẩu uỷ thác

Hoạt động nhập nhẩu uỷ thác được hiểu là hoạt động dịch vụ thương mại, được hình thành

giữa một doanh nghiệp có vốn, ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu một loại hàng hố nào đó

nhưng lại khơng có khả năng nhập khẩu trực tiếp, do đó doanh nghiệp này sẽ uỷ thác cho một doanh

nghiệp khác có khả năng nhập khẩu trực tiếp hàng hố theo u cầu của mình, còn doanh nghiệp

nhận uỷ thác sẽ thu được lệ phí trong hoạt động nhập khẩu uỷ thác. Quan hệ giữa doanh nghiệp uỷ

thác và doanh nghiệp nhận uỷ thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng uỷ thác.

Trước khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác, hai bên sẽ ký kết hợp đồng mà theo đó bên uỷ thác

nhận được hàng hố theo đúng yêu cầu của mình và phải trả cho bên nhận uỷ thác một khoản tiền

gọi là lệ phí uỷ thác. Bên nhận uỷ thác sẽ thay mặt bên uỷ thác tự tìm kiếm đối tác và thực hiện tất

cả các khâu trong hoạt động nhập khẩu hàng hố đó. Bên cạnh đó, bên nhận uỷ thác khơng phải

chịu rủi ro về vốn hay về hoạt động bán hàng vì sau khi nhận được lệ phí uỷ thác, bên nhận uỷ thác

sẽ giao hàng cho bên uỷ thác. Trên thực tế, bên nhận uỷ thác thường là các công ty lớn có khả năng

về vốn, nghiệp vụ và có uy tín trên thị trường.

Hoạt động nhập khẩu sẽ đem lại lợi ích cho cả bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác. Trong khi bên

nhận uỷ thác kiếm được một khoản lệ phí uỷ thác, còn bên uỷ thác vẫn có những hàng hố mà mình

mong muốn mặc dù điều kiện để nhập khẩu trực tiếp không cho phép. Bên uỷ thác cũng sẽ tiết kiệm

được thời gian khi không phải làm các thủ tục để có thể nhập khẩu hàng hoá. Tuy nhiên, về lâu dài

các doanh nghiệp uỷ thác sẽ mất lợi thế về chi phí trong hoạt động bán hàng và đơi khi hàng hố

khơng đảm bảo đúng yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật như trong hợp đồng uỷ thác.

Hoạt động nhập khẩu hàng hố có nhiều hình thức, các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập

khẩu cần xác định chính xác tiềm lực của mình khơng chỉ về tài chính mà bên cạnh đó là các nghiệp

vụ trong hoạt động nhập khẩu hàng hoá sao cho lợi ích đem lại là tối ưu.

1.1.3.4. Nhập khẩu tái xuất

Là hình thức mà doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu hàng hố từ một nước khác, sau đó xuất

khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam sang một nước thứ ba mà không qua các khâu gia công,

chế biến hay sản xuất.

Đặc điểm đặc trưng của hình thức nhập khẩu này là có ba chủ thể kinh tế ở ba quốc gia khác

nhau: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu. Giao dịch này bao gồm cả nhập khẩu và



xuất khẩu với mục đích thu lại lượng ngoại tệ lớn hơn số vốn ban đầu đã bỏ ra. Khi tiến hành tạm

nhập tái xuất, doanh nghiệp cần tiến hành đồng thời hai hợp đồng riêng biệt, gồm: hợp đồng mua

hàng ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng ký với thương nhân nước nhập

khẩu.

Để áp dụng hình thức này, doanh nghiệp cần có sự nghiên cứu thị trường của các nước để đảm

bảo nguồn cung ứng và đầu ra cho hoạt động kinh doanh không chỉ là về giá cả, mặt hàng mà còn là

luật pháp, tập quán từng nước.

1.1.3.5. Nhập khẩu hàng đổi hàng

Đây là phương thức giao dịch trao đổi hàng hố, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập

khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương xứng với số lượng

hàng nhận về.

Trong nghiệp vụ này, các bên trao đổi với nhau những hàng hoá tương đương và việc giao

nhận hàng diễn ra gần như đồng thời, có thể thanh tốn bằng tiền. Các bên trao đổi hàng hoá với

nhau trên cơ sở ghi sổ giá trị hàng giao. Đến cuối kì hạn, hai bên mới so và đối chiếu giá trị hàng đã

giao và trị giá đã nhận, nếu sau khi thực hiện nghiệp vụ bù trừ, tiền hàng còn dư thì số tiền đó được

giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ hoặc có thể được ghi vào sổ nghiệp vụ bù trừ năm

sau.

Hình thức này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm rõ được thị trường nước ngoài về giá cả, mặt

hàng cũng như biến động khác để có được sự chính xác, chặt chẽ trong các hợp đồng mua bán quốc

tế.

Hoạt động nhập khẩu khá đa dạng về hình thức, mỗi loại có những ưu, nhược điểm riêng,

doanh nghiệp nhập khẩu cần phải chọn những phương thức giao dịch phù hợp với mình về khả năng

tài chính, về nghiệp vụ ngoại thương, về mối quan hệ với khách hàng sao cho lợi ích thu được là tối

ưu.

1.2.Quy trình của hoạt động nhập khẩu hàng hóa

Nhập khẩu là việc mua hàng hố của nước ngoài nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và đời

sống, là những hoạt động rất phức tạp, hàm chứa nhiều rủi ro đòi hỏi người thực hiện phải có trình

độ nghiệp vụ, năng lực chuyên môn. Hoạt động nhập khẩu được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp

vụ nhiều khâu từ điều tra nghiên cứu thị trường nhập khẩu, lựa chọn hàng hoá, đối tác nhập khẩu,



tiến hành giao dịch đàm phán, ký két hợp đồng và tổ chức thực hiện hợp đồng. Mỗi khâu, mỗi

nghiệp vụ phải được nghiên cứu thực hiện đầy đủ, kỹ lưỡng và đặt trong mối quan hệ lẫn nhau,

tranh thủ nắm bắt được những lợi thế đảm bảo cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu đạt hiệu quả

cao nhất. Như vậy cho dù nhập khẩu hình thức nào đi nữa thì các bước tiến hành nhập khẩu ở các

doanh nghiệp xuất khẩu đều bao gồm các trình tự sau:



Đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu

Nghiên cứu thị trường nhập khẩu.

Tổ chức vàTổthực

chức

hiện

khiếu

hợpnại

đồng

và giải quyết tranh chấp (nếu có)



Hình 1.1: Sơ đồ quy trình hoạt đơng nhập khẩu hàng hóa

1.2.1.Nghiên cứu thị trường nhập khẩu

Khác với mua bán trong nước, hoạt động nhập khẩu diễn ra trên thị trường thế giới, các daonh

nghiệp thường ở các nước khác nhau, hàng hố bn bán được chuyển qua biên giới của mỗi

nước,mỗi nước lại có một chính sách, thể lệ và tập quán thương mại khác nhau. Do đó, nghiên cứu

thị trường là nghiệp vụ đầu tiên đặt ra cho bất kỳ một doanh nghiệp nào nhằm giúp họ nắm vững

đặc điểm của từng thị trường như thị hiếu, phương thức tiêu dùng và các phong tục tập quán của thị

trường đó để có những điều chỉnh phù hợp. Đây là quá trình phức tạp đòi hỏi sự chính xác để đưa ra

các kết luận và các phương án đúng đắn nhằm giảm thiểu rủi ro và tiết kiệm chi phí.

Khi tiến hành nghiên cứu thị trường, điều quan trọng mà doanh nghiệp cần quan tâm đến đó là

khả năng sản xuất và tiêu dùng hàng hoá của thị trường. Điều này thể hiện ở số lượng hàng hố,

chất lượng của hàng hố đó, thị hiếu của thị trường đối với hàng hoá hay các phong tục tập quán

ảnh hưởng đến việc sản xuất và tiêu dùng hàng hố đó. Bên cạnh đó, chu kỳ sống của sản phẩm

cũng là vấn đề mà doanh nghiệp cần quan tâm để có thể biết được hàng hố đó đang nằm trong giai

đoạn nào của chu kỳ sống. Với những hàng hoá đang nằm ở giai đoạn bão hồ, doanh nghiệp cần

xem xét và dự đốn xu thế sử dụng hàng hố trong thời gian tới để có thể đáp ứng nhu cầu của thị

trường một cách kịp thời. Còn với những hàng hố đang trong thời kì đầu của chu kỳ sống, giai



đoạn giới thiệu và phát triển, doanh nghiệp cần nghiên cứu thời gian hàng hoá đó đứng vững trên thị

trường. Nếu đó là thời gian dài thì cần có những phương án nhập khẩu những hàng hố có cùng tính

năng nhưng có khả năng cạnh tranh về chất lượng, mẫu mã và phong phú về chủng loại trong cùng

một mặt hàng.

Dựa vào kết quả nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ có những thơng tin về thị trường, về

nhà cung cấp và những hàng hoá cần nhập khẩu. Doanh nghiệp sẽ có cơ sở để xây dựng chiến lược,

kế hoạch và phương án nhập khẩu hàng hố tránh tình trạng nhập khẩu ồ ạt một loại hàng hoá mà

mẫu mã kém phong phú gây lãng phí nguồn lực.

Lập một phương án kinh doanh là việc chỉ rõ những đặc điểm của hàng hoá cần nhập, đặc điểm

của đối tác, những lợi ích mà doanh nghiệp đạt được,… và trong phương án kinh doanh cũng cần

phải có những chỉ tiêu đã dự tính: doanh thu, lợi nhuận, hiệu quả của phương án,… Cuối cùng là

những lời kết luận và kiến nghị để phương án được thực thi một cách có hiệu quả nhất.

Doanh nghiệp khơng chỉ xây dựng một phương án nhập khẩu mà còn phải xây dựng những

phương án nhập khẩu khác nhằm duy trì liên tục hoạt động nhập khẩu và đưa hàng nhập khẩu vào

thị trường mà doanh nghiệp đã hướng tới.

1.2.2.Đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu

Đàm phán là một q trình trong đó các bên tiến hành thương lượng, thảo luận về các mối

quan tâm chung và những điểm bất đồng, để đi đến một thỏa thuận thống nhất. Mục đích của cuộc

đàm phán là tìm ra các giải pháp nhằm giải quyết các mâu thuẫn còn tồn tại giữa các bên tham gia

đàm phán. Vì vậy, đàm phán thương mại quốc tế là quá trình đàm phán trong đó có ít nhất hai bên

chủ thể có trụ sở thương mại ở những nước khác nhau tham gia đàm phán để xác lập hợp đồng

thương mại quốc tế

Đàm phán bắt đấu từ một cuộc nói chuyện, tuy nhiên là một cuộc nói chuyện có chủ đích. Đó

là q trình các bên đưa ra ý định muốn ký kết hợp đồng và thăm dò ý kiến của đối tác. Nếu quá

trình này thất bại các bên sẽ phải tốn một số chi phí đàm phán và khơng chỉ vậy mà còn bỏ lỡ các cơ

hội làm ăn khác mà lẽ ra họ đã nắm được nếu không tốn thời gian theo đuổi cuộc đàm phán. Do đó

đòi hỏi các bên phải chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt, xác định rõ mục tiêu đàm phán một cách khoa

học, kết hợp hài hòa giữa bảo vệ lợi ích của phía mình với việc duy trì và phát triển mối quan hệ với

các đối tác và phải đảm bảo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, các bên phải lấy luật pháp thương mại

quốc tế làm chuẩn và lấy tập quán thương mại quốc tế làm cơ sở.



Có ba hình thức đàm phán thương mại quốc tế được sử dụng là:

-



Đàm phán bằng cách gặp trực tiếp: Các bên sẽ gặp gỡ trực tiếp với nhau, để trao đổi về

mọi điểu kiện giao dịch, về mọi vấn đề liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán, và

là hình thức đàm phán đặc biệt quan trọng. Hình thức này sẽ đẩy nhanh tốc độ giaiar quyết mọi vấn

đề giữa hai bên và nhiều khi là lối thoát cho những đàm phán bằng thư tín hoặc điện thoại đã kéo

dài q lâu mà khơng có kết quả. Hình thức này có thể làm tốn kém về chi phí, thời gian đối với

những nước có vị trí địa lý cách xa nhau nhưng hiệu quả thường rất cao, giúp giảm thiểu rủi ro. Do

đó, nó thường được sử dụng trong những trường hợp đặc biệt khi có nhiều điều kiện phải giải thích

cặn kẽ để thuyết phục nhau hoặc những hợp đồng với số lượng hàng hóa lớn, giá trị cao, phức tạp.



-



Đàm phán qua thư tín vẫn còn là một hình thức chủ yếu để giao dịch giữa các nhà kinh doanh xuất

nhập khẩu. So với việc gặp trực tiếp thì giao dịch qua thư tín tiết kiệm được nhiều chi phí, trong

cùng một lúc có thể giao dịch được với nhiều đối tác ở các nước khác nhau. Người viết thư có điều

kiện tham khảo ý kiến của nhiều người, dấu kín ý định thực sự của mình. Nhưng hình thức này đòi

hỏi phải có thời gian chờ đợi, thư tín bị thất lạc khơng đến được tay đối tác.



-



Đàm phán qua điện thoại:việc đàm phán qua điện thoại nhanh chóng giúp các bên tiến hành đàm

phán một cách khẩn trương đúng vào thời điểm cần thiết . Nhưng cước điện thoại giữa các nước sẽ

rất cao, do đó hình thức này thường bị hạn chế về mặt thời gian các bên khơng thể trình bày chi tiết,

và trao đổi bằng điện thoại là hình thức trao đổi bằng miệng, khơng có gì làm bằng chứng những

thỏa thuận và quyết định trao đổi. Hình thức này chỉ được dung trong những trường hợp cần thiết,

khẩn trương, sợ lỡ thồi cơ hoặc trong trường hợp chỉ cần chờ xác nhận một vài chi tiết…

Mỗi hình thức đều có những ưu, nhược điểm riêng, tuỳ từng trường hợp giao dịch và điều kiện

cụ thể của doanh nghiệp mà sẽ lựa chọn hình thức đàm phán riêng. Thơng thường một cuộc đàm

phán có thể chia thành 3 giai đoạn:



 Giai đoạn chuẩn bị: các bên đàm phán cần xác định rõ mục tiêu của mình trên cơ sở phân biệt



những gì mình muốn và những gì mình thực sự cần, sau đó các bên sẽ thu thập những thơng tin cần

thiết để đưa ra đề xuất của mình và tìm hiểu vị thế của đối tác đàm phán. Cuối cùng các bên sẽ

thành lập đoàn đàm phán, lựa chọn chiến lược và chiến thuật đàm phán phù hợp, xác định địa điểm

thời giàn, lịch trình làm việc, chuẩn bị kỹ năng và tài liệu đàm phán.

 Giai đoạn thương lượng: bao gồm các hoạt động cụ thể:



-



Trao đổi thông tin liên quan đến tình huống đàm phán, xây dựng sự hiểu biết lẫn nhau, thăm dò xem



-



đối tác quan tâm đến điều gì và dự đốn kết quả đàm phán

Đưa ra đề nghị: để thăm dò phản ứng của đối tác, sẽ đặt câu hỏi để làm rõ đề nghị của đối tác, tóm



-



tắt những thơng tin đã nhận được và giải đáp bằng một đề nghị phù hợp với nhu cầu của đối tác.

Thương lượng: các bên xem xét lý lẽ và kết quả mà đối tác mong muốn trong quan và kết quả mà



mình mong muốn.

 Giai đoạn kết thúc: các bên sẽ tổng hợp lại toàn bộ kết quả đã đạt được và tìm cách giải quyết một

số vấn đề còn vướng mắc. Sau đó, một bên đàm phán sẽ đưa ra đề nghị cuối cùng



1



Chuẩn bị đàm

phán



2



Xây dụng chiến

lược



3



Tổ chức đàm

phán



4



Kết thúc



Hình 1.2: Quy trình đàm phán thương mại quốc tế

Quá trình đàm phán bao gồm các bước sau:

- Hỏi giá: là việc người mua yêu cầu người bán cung cấp cho mình các thồng tin liên quan

đến hàng hóa và các điều kiện giao dịch. Nội dung của hỏi giá có thể bao gồm: tên hàng, quy cách,

phẩm chất, số lượng, thời gian giao hàng mong muốn. Hỏi giá không ràng buộc trách nhiệm của

người hỏi giá. Người hỏi giá thường hỏi nhiều nơi nhằm nhận được nhiều bản chào hàng cạnh tranh

để so sánh lựa chọn bản chào hàng thích hợp nhất.

- Phát giá: là lời đề nghị ký kết hợp đồng được gửi cho môt hay nhiều người xác định. Một đề

nghị gửi cho những người không xác định chỉ được coi là một lời chào hàng. Trong đơn chào hàng

bao gồm tên hàng, số lượng, phẩm chất, giá cả hàng hóa, phương thức thanh tốn, phương thức giao

nhận hàng hóa… Một đơn chào hàng được coi là có giá trị pháp lý khi chủ thể của đơn chào hàng

đó có đủ tư cách pháp lý, đối tượng của đơn chào hàng phải được phép mua bán, nội dung của đơn

chào hàng phải hợp pháp (bằng văn bản).

- Hoàn giá: là sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng

những điểm bổ sung, bớt đi hay sửa đổi khác.

- Chấp nhận: Là thông báo của bên được chào hàng chuyển cho bên chào hàng về việc chấp

thuận toàn bộ nội dung đã nêu ra trong đơn chào hàng. Việc chấp thuận phải trong thời hạn hiệu lực

của đơn chào hàng và đơn chấp thuận phải được chuyển đến tay của người chào hàng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×