Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ưu, nhược điểm trong công tác kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam hiện nay

Ưu, nhược điểm trong công tác kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ - 0trang

tiêu chuẩn AUN-QA7 cấp chương trình đào tạo 8 và cấp cơ sở đào tạo 9 và triển khai áp

dụng bắt đầu từ năm 2017 dưới sự cho phép và đồng ý của Hội đồng Tín thác Mạng

lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN-BOT 10)… Các văn bản quy phạm pháp

luật và các văn bản hướng dẫn triển khai công tác kiểm định chất lượng giáo dục liên

đã được ban hành cho tất cả các cấp học, tạo hành lang pháp lý cho công tác kiểm định

chất lượng giáo dục phát triển bền vững ở Việt Nam.

Việc triển khai áp dụng và chuyển từ Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cấp

cơ sở đào tạo từ 10 tiêu chuẩn, 61 tiêu chí sang 25 tiêu chuẩn, 111 tiêu chí được xây

dựng trên Bộ tiêu chuẩn AUN-QA của các trường đại học tiên tiến khu vực ASEAN,

cũng như ban hành áp dụng Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cấp chương trình đào

tạo theo AUN-QA sẽ là cầu nối để các trường đại học của Việt Nam hòa vào chất

lượng chung của khu vực. Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Mạng lưới các

trường đại học Đông Nam Á (AUN) cũng giao thoa khá lớn với bộ tiêu chuẩn của

Châu Âu và của Bắc Mỹ nên bộ tiêu chuẩn mới này sẽ là một điểm để đưa giáo dục

đại học Việt Nam hòa nhập cùng thế giới.

Một điểm nổi bật nữa, đến nay đội ngũ đảm bảo cho hoạt động kiểm định chất

lượng từ bên ngoài đã được chuẩn bị tương đối đầy đủ. Cụ thể có hơn 700 người đã

hồn thành các khóa đào tạo kiểm định viên, trong đó có 240 người đã được cấp thẻ

kiểm định viên. Tính đến ngày 31/7/2018, cả nước hiện có 117 cơ sở giáo dục đại học;

03 trường cao đẳng sư phạm đã được kiểm định và đạt chuẩn quốc gia trong nước và

hiện có 6 cơ sở đào tạo đã được kiểm định cấp trường và đạt chuẩn quốc tế bởi AUN

và HCERES11 (xem Bảng 1).

Bảng 1. Danh sách các trường đại học được kiểm định đạt chuẩn quốc tế

7



từ viết tắt của “ASEAN Universiy Network − Quality Assurance” có nghĩa là “Mạng lưới

các trường đại học Đơng Nam Á − Đảm bảo chất lượng”

8

Thông tư số 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14/3/2016 về việc ban hành “Quy định về tiêu

chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học” của Bộ

GD&ĐT

9

AUN (2016). Hướng dẫn đánh giá cơ sở giáo dục của Mạng lưới đảm bảo chất lượng các

trường đại học ASEAN (phiên bản 2.0). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

10

The AUN Board of Trustees

11

Hội đồng cấp cao về đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp, là thành viên của Hiệp

hội Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học châu Âu (ENQA- European Association for

Quality Assurance in Higher Education) và Hệ thống Giáo dục đại học châu Âu (EHEAEuropean Higher Education Area), có giá trị tồn Châu Âu



5



TT



Tổ chức kiểm Thời điểm

định chất lượng đánh giá



Tên trường



1.



Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG-HCM)



3.

4.

5.

6.

7.



Trường ĐH Bách Khoa (ĐH Đà Nẵng)

Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội

Trường ĐH Xây dựng

Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG HN)

Trường ĐH Tôn Đức Thắng



HCERES

3/2017

AUN-QA

9/2017

HCERES

3/2017

HCERES

3/2017

HCERES

3/2017

AUN-QA

01/2017

HCERES

4/2018

Nguồn: Bộ GD&ĐT (2018)



Bên cạnh công tác kiểm định chất lượng cấp cơ sở đào tạo, nhiều chương trình

đào tạo cũng được đánh giá, kiểm định theo chuẩn trong nước và quốc tế. Cụ thể, theo

số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT (2018), tính đến ngày 31/7/2018, đã có 10 chương

trình được đánh giá theo chuẩn trong nước và 106 chương trình được đánh giá và đạt

chuẩn quốc tế theo AUN, ABET12, ACBSP13, AMBA14, CTI15, ENAEE16, FIBAA17,

IACBE18 như đánh giá của Hội đồng Kiểm định Kỹ thuật và Công nghệ - Hoa Kỳ

(ABET): Một số trường đại học như Trường Đại học FPT, Trường Đại học Bách khoa

– ĐHQG-HCM đang có các chương trình phấn đấu đạt chuẩn của ABET. Tháng

11/2013, 02 chương trình của Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG-HCM đã được kiểm

định theo ABET; đánh giá của Ủy ban văn bằng kỹ sư Pháp – CTI: 14 ngành đào tạo

kỹ sư chất lượng cao của 04 trường đại học (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội,

Trường Đại học Xây dựng, Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng, Trường

Đại học Bách Khoa, ĐHQG-Hồ Chí Minh) đã được CTI tổ chức đánh giá vòng 2 vào

năm 2010 (vòng 1 đã được đánh giá vào năm 2004). Ngồi ra, có 04 trường đại học đã

đăng ký làm thành viên và tiếp cận với bộ tiêu chuẩn đánh giá của Hiệp hội phát triển



12



Accreditation Board for Engineering and Technology (Hội đồng Kiểm định Kỹ thuật và

Công nghệ, Hoa Kỳ)

13

Accreditation Council for Business Schools and Programs (Hội đồng Kiểm định các trường

và chương trình đào tạo về kinh doanh, Hoa Kỳ)

14

Association of MBAs (Hiệp hội MBA)

15

Commission des Titres d'Ingénieur (Uỷ ban Văn bằng Kỹ sư Pháp)

16

European Network for Accreditation of Engineering Education (Mạng lưới kiểm định đào

tạo kỹ thuật của châu Âu)

17

Foundation for International Business Administration Accreditation (Quỹ Kiểm định các

chương trình quản trị kinh doanh quốc tế)

18

International Assembly for Collegiate Business Education (Hiệp hội quốc tế các trường đại

học đào tạo ngành kinh doanh)



6



giảng dạy doanh thương bậc đại học - Hoa Kỳ (AACSB19) đó là: Trường Đại học Quốc

tế, ĐHQG-HCM, Trường Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam, Trường Đại học Quốc tế

Sài Gòn, Trường Đại học Kinh tế và Tài chính TP. Hồ Chí Minh. Đặc biệt là 03 trường

đại học thành viên chính thức của Việt Nam đã gia nhập Mạng lưới các trường đại học

Đông Nam Á (AUN) là ĐHQG-Hà Nội, ĐHQG-HCM và Đại học Cần Thơ; hiện đã có

2 cơ sở đào tạo được đánh giá chính thức cấp trường bởi AUN là Trường ĐH Khoa

học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội và Trường ĐH Bách Khoa, ĐHQG-HCM và đã có 49

chương trình đào tạo đã được đánh giá ngồi và đạt chuẩn AUN trong giai đoạn 20072016, Việt Nam đứng vị trí thứ 2 trong khu vực (xem Bảng 2).

Bảng 2. Số lượng chương trình đạt chuẩn AUN trong khu vực giai đoạn 2007-2016



Nguồn: AUN (2016)

Việc đạt chuẩn AUN-QA của các chương trình đào tạo Việt Nam là bước đầu

tạo điều kiện để các trường đại học Việt Nam tiến dần đến sự liên thơng, liên kết,

chuyển đổi tín chỉ (ACTS20) và được công nhận trong lĩnh vực học thuật trong khu

vực; sinh viên Việt Nam được hưởng lợi khi di chuyển giữa các trường đại học trong

khối ASEAN; đồng thời từ đó xây dựng được thương hiệu trường đại học, góp phần

thu hút sinh viên từ các trường đại học khác trong khu vực. Việc đạt chuẩn AUN-QA

của các chương trình đào tạo Việt Nam cũng thể hiện rõ trách nhiệm giải trình của các

trường đại học trước xã hội về chất lượng đào tạo theo nhu cầu của xã hội và yêu cầu

19

20



Association to Advance Collegiate Schools of Business

Asean Credit Transfer System



7



của thị trường lao động, đáp ứng được kỳ vọng của Nhà nước, Chính phủ trong việc

đầu tư lớn cho 2 Đại học Quốc gia của Việt Nam nhằm góp phần đẩy mạnh tiến trình

quốc tế hóa giáo dục đại học ở Việt Nam một cách toàn diện và sâu sắc hơn.

Kiểm định chất lượng giáo dục và việc công khai trong kiểm định chất lượng là

điều bắt buộc trong một quy trình đã được ghi trong Luật Giáo dục, do đó sẽ được

cơng khai. Đương nhiên kết quả đó sẽ tác động đến q trình phát triển của nhà trường

(cụ thể là tuyển sinh), việc tác động này sẽ theo hai phía; nếu như kết quả kiểm định là

tốt thì kết quả là tích cực và ngược lại. Chúng ta đang ở trong xã hội cởi mở và các

trường đại học phải dần dần tự chủ trên chính nội lực của mình, tự chủ đó phải gắn với

trách nhiệm xã hội và trách nhiệm giải trình. Việc công khai này để cho học sinh, phụ

huynh và xã hội giám sát, đặc biệt là các em học sinh chuẩn bị vào học biết được

trường mạnh chỗ nào, yếu chỗ nào và cảm thấy có phù hợp với nguyện vọng của mình

hay khơng. Chính vì vậy, việc cơng khai kiểm định chất lượng là có lợi cho trường chứ

khơng phải là khơng có lợi.

2.2. Nhược điểm trong cơng tác kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam

Về đội ngũ nhân sự: cán bộ chuyên trách làm công tác đảm bảo chất lượng và

kiểm định chất lượng tại các cơ sở đào tạo thực sự chưa có kinh nghiệm về lĩnh vực

cơng tác hồn tồn mới mẻ này, thực tế là tất cả cán bộ đều kiêm nhiệm, vừa làm việc

này, vừa phải đảm bảo hoạt động chuyên môn của trường.

Về nhận thức: nhận thức và mối quan tâm về vai trò của cơng tác đảm bảo và

kiểm định chất lượng giáo dục của lãnh đạo và tập thể cán bộ, giảng viên chưa cao,

chưa đồng đều; văn hóa chất lượng, văn hóa kiểm định chưa thực sự thấm nhuần tới

mọi thành viên trong tổ chức, vẫn còn hiện tượng làm đối phó với cơng tác đảm bảo

chất lượng và kiểm định chất lượng.

Về kinh phí: ngồi khó khăn về đội ngũ nhân sự, công tác kiểm định chất lượng

tại các trường còn gặp khó khăn về kinh phí, Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa có chính

sách, phân bổ kinh phí, hướng dẫn cụ thể dành riêng cho hoạt động triển khai hoạt

động đảm bảo chất lượng, dẫn đến chưa thật sự động viên các cán bộ, giảng viên tham

gia vào công tác tự đánh giá, đảm bảo và kiểm định chất lượng.

Về chế tài, khen thưởng: cho đến nay mặc dù hệ thống văn bản về kiểm định

chất lượng giáo dục đã khá hoàn chỉnh song các chế tài để khuyến khích các trường



8



làm tốt, đặc biệt là xử lý những trường làm chưa tốt, chưa thực sự chú trọng đến công

tác kiểm định chưa mạnh.

Về bộ công cụ đánh giá: các bộ công cụ đánh giá, đo lường trong công tác đảm

bảo chất lượng và kiểm định chất lượng hiện nay còn nhiều tranh cãi, ở chừng mực

nào đó chưa theo kịp được sự vận hành, phát triển rất nhanh của thực tế giáo dục đại

học, đặc biệt là theo chuẩn quốc tế.

3. Những đề xuất khuyến nghị hồn thiện cơng tác kiểm định chất lượng giáo dục

Việt Nam

Thứ nhất, nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm định viên, cán bộ chuyên trách

công tác đảm bảo chất lượng, cũng như nâng cao nhận thức và mối quan tâm về vai trò

của cơng tác đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục của lãnh đạo và tập thể cán bộ,

giảng viên tại các cơ sở đào tạo, trung tâm kiểm định, qua việc không ngừng tổ chức,

bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ chuyên trách này.

Thứ hai, Bộ GD&ĐT cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn tổ chức kiểm định

giữa kỳ, đánh giá chương trình đào tạo và văn bản hướng dẫn sử dụng kết quả đánh giá

trong việc xét thi đua hằng năm. Đặc biệt, cần có kế hoạch rõ ràng, hướng dẫn các đơn

vị thực hiện nhiệm vụ hằng năm. Cần có biện pháp chế tài các đơn vị thực hiện không

nghiêm trong kiểm định chất lượng bởi có một số cán bộ, giảng viên khơng nhận thấy

lợi ích của cơng tác này.

Thứ ba, Bộ GD&ĐT cần xây dựng một bộ thông tư mới, bộ công cụ mới như

một thang thước để đạt được chuẩn của khu vực để các trường lấy đó đánh giá để xem

mạnh ở đâu, chỗ nào chưa được để từng bước tiếp tục duy trì điểm mạnh, khắc phục

những hạn chế, từng bước theo chiến lược cụ thể để nâng cao chất lượng giáo dục theo

hướng tiếp cận với khu vực. Bằng cách này, trong một thời gian chúng ta sẽ có được

bước chuyển biến rõ nét về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực.

Thứ tư, xem xét nếu đáp ứng các yêu cầu có thể thành lập thêm một số trung

tâm kiểm định mới phù hợp với nhu cầu đánh giá, nhu cầu của các hoạt động trong hệ

thống giáo dục đại học Việt Nam, đặc biệt là thành lập các trung tâm kiểm định nghề

nghiệp hay kiểm định chương trình hay kiểm định chun mơn được hiểu là q trình

cơng nhận chính thức của một tổ chức kiểm định chuyên mơn đối với một chương

trình mà chất lượng của nó thể hiện sự đáp ứng những yêu cầu đầu tiên của việc thực



9



hành một nghề trong thực tiễn bởi các tổ chức nghề nghiệp đối với các chương trình

đào tạo chuyên môn, đặc thù. Kiểm định chuyên môn ở đây có thể thực hiện ở một

phạm vi rộng như một trường đại học thành viên hay là một phạm vi hẹp như một

chương trình của một chuyên ngành.

Thứ năm, khuyến khích các cơ sở giáo dục ở trong nước đăng ký đánh giá,

kiểm định bởi các tổ chức đánh giá và kiểm định chất lượng của khu vực và quốc tế

như AUN, AACSB, ABET, ACBSP, AMBA, CTI, ENAEE, FIBAA, IACBE… cũng

như tham gia vào các tổ chức xếp hạng trên thế giới như QS Asia Ranking và có cơ

chế, chính sách khen thưởng, đặc thù riêng cho các chương trình đào tạo, cơ sở đào tạo

đạt chuẩn khu vực và quốc tế này.

Thứ sáu, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ công tác

đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng, như việc xây dựng và hình thành cơ sở

dữ liệu dùng chung về chỉ số thực hiện, chỉ số cốt lõi (KPIs 21) đối với các cơ sở giáo

dục, qua đó xây dựng bảng đối sánh về một số chỉ tiêu cho các trường để làm cơ sở so

sánh, đối sánh, xếp hạng sau này giữa các trường trong cả nước và đối với từng khu

vực, cũng như làm cơ sở dữ liệu cho việc viết báo cáo tự đánh giá và đánh giá ngoài…

Kết luận

Đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục ln có vai trò quan trọng và là

một trong những mối quan tâm hàng đầu của mọi cá nhân, tổ chức và tồn xã hội. Do

đó, việc nhìn nhận thực trạng, các ưu, nhược điểm trong kiểm định chất lượng giáo

dục Việt Nam hiện nay sẽ giúp cho ta có cái nhìn tổng quan, tồn cảnh về chất lượng

giáo dục, qua đó, giúp cho các nhà quản lý giáo dục xây dựng, đưa ra quyết định,

những chính sách, đề xuất, giải pháp, biện pháp hợp lý, hiệu quả nhằm không ngừng

nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý trong công tác đảm bảo chất lượng và kiểm định

chất lượng giáo dục.



21



Key Performance Indicators



10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ưu, nhược điểm trong công tác kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×