Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan chung về kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam

Tổng quan chung về kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

phạm vi cả nước và đối với từng cơ sở giáo dục. Kết quả kiểm định chất lượng giáo

dục được công bố công khai để xã hội biết và giám sát”2.

Theo định nghĩa của Hội đồng chất lượng đại học Anh Quốc 3, “kiểm định chất lượng

giáo dục là sự xem xét có hệ thống và độc lập nhằm xác định các hoạt động quản lý

chất lượng và các kết quả liên quan có phù hợp với kế hoạch đặt ra từ trước hay khơng

và những kế hoạch này có được triển khai hiệu quả, phù hợp để đặt mục tiêu hay

khơng?”. (Webb, 1994: 48)

Còn ở Hoa Kỳ, cho rằng kiểm định chất lượng giáo dục là hình thức “chứng nhận cơ

sở giáo dục, chương trình đào tạo đạt được những tiêu chuẩn cơ bản về nguồn lực và

các chỉ số thực hiện để củng cố chất lượng, khuyến khích tự đánh giá, tăng cường tự

quản và đảm bảo với cơng chúng rằng cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo đạt được

những chuẩn mực chất lượng cơ bản”. (Stanly & Patrick, 1998: 49)

Tóm lại, ta có thể hiểu, kiểm định chất lượng giáo dục là một trong những hoạt động

đảm bảo chất lượng bên ngoài cơ sở đào tạo. Quá trình kiểm định chất lượng giáo dục

nhằm mục tiêu đưa ra các quyết định công nhận về mức độ tiến bộ và đảm bảo chất

lượng giáo dục tại các cơ sở đào tạo.

1.2. Đặc trưng của kiểm định chất lượng giáo dục

-



Kiểm định chất lượng giáo dục có thể được tiến hành ở phạm vi cấp cơ sở đào

tạo hoặc cấp chương trình đào tạo;



-



Kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động hoàn toàn tự nguyện;



-



Kiểm định chất lượng giáo dục không thể tách rời công tác tự đánh giá;



-



Tất cả các quy trình kiểm định chất lượng giáo dục ln gắn liền với đánh giá

ngồi;



-



Các chuẩn mực đánh giá rất linh hoạt và được biến đổi cho phù hợp với mục

tiêu hoạt động của từng cơ sở đào tạo.



1.3. Mục đích của kiểm định chất lượng giáo dục

Kiểm định có mục đích kép là đánh giá chất lượng và cải tiến chất lượng giáo dục, do

đó mục đích chính của kiểm định chất lượng giáo dục là nhằm đảm bảo đạt được

những chuẩn mực nhất định trong giáo dục đào tạo và không ngừng cải tiến, nâng cao

2

3



Điều 17, Luật Giáo dục Việt Nam

tên tiếng Anh là Quality Assurance Agency for Higher Education – QAA



2



chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng nguồn nhân lực và đảm bảo

quyền lợi cho người học.

Kiểm định chất lượng giáo dục còn nhằm mục đích giải trình với xã hội, với các cơ

quan nhà nước hay các cơ quan, tổ chức tài trợ, liên kết, cấp kinh phí hỗ trợ. Hiện nay,

khơng ít các cơ quan, tổ chức, cũng như người học, cha mẹ học sinh quan tâm đến việc

cơ sở đào tạo, chương trình đào tạo đã được kiểm định chất lượng giáo dục hay chưa

trước khi đưa ra quyết định tài trợ hay không tài trợ hay theo học tại cơ sở đào tạo,

chương trình đào tạo đó.

1.4. Vai trò của kiểm định chất lượng giáo dục

Kiểm định chất lượng giáo dục có vai trò giúp cho các nhà quản lý giáo dục nhìn lại

tồn bộ hoạt động của nhà trường một cách có hệ thống để từ đó điều chỉnh các hoạt

động giáo dục của nhà trường theo một chuẩn mực nhất định.

Thông qua hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục, bao gồm hoạt động tự đánh giá

và hoạt động đánh giá ngoài, lãnh đạo nhà trường sẽ xác định được mức độ đáp ứng

các mục tiêu giáo dục theo các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trong từng giai

đoạn.

Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục phản ánh chất lượng đào tạo của nhà trường,

nhờ đó lãnh đạo trường nắm được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức

của đơn vị mình, từ đó làm căn cứ để xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục,

không ngừng nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục.

1.5. Các loại kiểm định chất lượng giáo dục

Có 2 loại kiểm định chất lượng tại Việt Nam hiện nay, đó là kiểm định chất lượng cấp

cơ sở đào tạo và cấp chương trình đào tạo.

Kiểm định chất lượng cấp cơ sở đào tạo (tức kiểm định cấp trường) nhằm đánh giá về

các điều kiện đảm bảo chất lượng cho toàn bộ mọi lĩnh vực hoạt động của nhà trường,

liên quan đến tất cả các đơn vị và cá nhân của trường.

Kiểm định chất lượng cấp chương trình đào tạo nhằm đánh giá về các điều kiện đảm

bảo chất lượng cho một chương trình đào tạo, và chỉ liên quan đến các đơn vị và cá

nhân có liên quan đến chương trình đào tạo.

1.6. Nội dung của kiểm định chất lượng giáo dục

-



Đánh giá chất lượng về cơ cấu tổ chức, sứ mạng, mục tiêu của tổ chức;



3



-



Đánh giá về chất lượng các thủ tục, cơ chế, chính sách và quá trình;



-



Đánh giá về chất lượng các nguồn lực: tài chính, cơ sở vật chất và con người.



2. Ưu, nhược điểm trong công tác kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam hiện

nay

2.1. Ưu điểm trong công tác kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam

Hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục của Việt Nam đã từng bước được hình

thành từ năm 2003, với sự thành lập của Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo

dục, nay được đổi tên thành Cục Quản lý chất lượng 4 (thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo),

được giao nhiệm vụ xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và giúp Bộ

trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo công tác kiểm định chất lượng giáo dục trong

cả nước, cùng với 04 trung tâm kiểm định chất lượng được thành lập và đã đi vào hoạt

động: Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục ĐHQG Hà Nội (2013), Trung tâm

Kiểm định chất lượng giáo dục ĐHQG-HCM (2014), Trung tâm Kiểm định chất lượng

giáo dục ĐH Đà Nẵng (2016), và Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Hiệp hội

Đại học Cao đẳng Việt Nam (2016), với chỉ tiêu mỗi năm phấn đấu đánh giá 50-60

trường.

Đến nay hệ thống văn bản để đảm bảo cho kiểm định chất lượng giáo dục trong

mỗi nhà trường và hoạt động đánh giá ngoài về cơ bản đã đầy đủ. Thể hiện từ Nghị

định của Chính phủ, Luật Giáo dục Đại học, thơng qua các thông tư, các văn bản

hướng dẫn… cụ thể như Nghị định số 75/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày

02/08/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục

năm 20055 đã dành toàn bộ Chương VII để hướng dẫn về công tác kiểm định chất

lượng giáo dục, trong đó nêu rõ (1) nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác kiểm định

chất lượng giáo dục, (2) các tổ chức quản lý và tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục,

(3) công bố công khai kết quả kiểm định chương trình và cơ sở giáo dục; Mục 6, Điều

28, Chương 3 của Luật Giáo dục đại học năm 20126 cũng yêu cầu các trường đại học

“tự đánh giá chất lượng đào tạo và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục.” Hiện nay,

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trương kiểm định chất lượng giáo dục đại học theo Bộ



4



Quyết định số 2077/QĐ-BGDĐT ngày 19/6/2017 của Bộ trưởng Bộ GD&DT

trong Luật số 38/2005/QH11 ngày 14/06/2005 của Quốc hội

6

trong Luật số 08/2012/QH13 ngày 18/06/2012 của Quốc hội

5



4



tiêu chuẩn AUN-QA7 cấp chương trình đào tạo 8 và cấp cơ sở đào tạo 9 và triển khai áp

dụng bắt đầu từ năm 2017 dưới sự cho phép và đồng ý của Hội đồng Tín thác Mạng

lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN-BOT 10)… Các văn bản quy phạm pháp

luật và các văn bản hướng dẫn triển khai công tác kiểm định chất lượng giáo dục liên

đã được ban hành cho tất cả các cấp học, tạo hành lang pháp lý cho công tác kiểm định

chất lượng giáo dục phát triển bền vững ở Việt Nam.

Việc triển khai áp dụng và chuyển từ Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cấp

cơ sở đào tạo từ 10 tiêu chuẩn, 61 tiêu chí sang 25 tiêu chuẩn, 111 tiêu chí được xây

dựng trên Bộ tiêu chuẩn AUN-QA của các trường đại học tiên tiến khu vực ASEAN,

cũng như ban hành áp dụng Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cấp chương trình đào

tạo theo AUN-QA sẽ là cầu nối để các trường đại học của Việt Nam hòa vào chất

lượng chung của khu vực. Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Mạng lưới các

trường đại học Đông Nam Á (AUN) cũng giao thoa khá lớn với bộ tiêu chuẩn của

Châu Âu và của Bắc Mỹ nên bộ tiêu chuẩn mới này sẽ là một điểm để đưa giáo dục

đại học Việt Nam hòa nhập cùng thế giới.

Một điểm nổi bật nữa, đến nay đội ngũ đảm bảo cho hoạt động kiểm định chất

lượng từ bên ngoài đã được chuẩn bị tương đối đầy đủ. Cụ thể có hơn 700 người đã

hồn thành các khóa đào tạo kiểm định viên, trong đó có 240 người đã được cấp thẻ

kiểm định viên. Tính đến ngày 31/7/2018, cả nước hiện có 117 cơ sở giáo dục đại học;

03 trường cao đẳng sư phạm đã được kiểm định và đạt chuẩn quốc gia trong nước và

hiện có 6 cơ sở đào tạo đã được kiểm định cấp trường và đạt chuẩn quốc tế bởi AUN

và HCERES11 (xem Bảng 1).

Bảng 1. Danh sách các trường đại học được kiểm định đạt chuẩn quốc tế

7



từ viết tắt của “ASEAN Universiy Network − Quality Assurance” có nghĩa là “Mạng lưới

các trường đại học Đơng Nam Á − Đảm bảo chất lượng”

8

Thông tư số 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14/3/2016 về việc ban hành “Quy định về tiêu

chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học” của Bộ

GD&ĐT

9

AUN (2016). Hướng dẫn đánh giá cơ sở giáo dục của Mạng lưới đảm bảo chất lượng các

trường đại học ASEAN (phiên bản 2.0). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

10

The AUN Board of Trustees

11

Hội đồng cấp cao về đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp, là thành viên của Hiệp

hội Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học châu Âu (ENQA- European Association for

Quality Assurance in Higher Education) và Hệ thống Giáo dục đại học châu Âu (EHEAEuropean Higher Education Area), có giá trị tồn Châu Âu



5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan chung về kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×