Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Tải bản đầy đủ - 0trang

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI

1.1. Lý do chọn đề tài

Trong suốt các năm trở lại đây, vấn đề quản trị doanh nghiệp đang thu hút sự

chú ý của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản trị và các nhà đầu tư trên thế

giới. Quản trị doanh nghiệp là những cơ chế, quy định thông qua đó cơng ty được

điều hành và kiểm sốt một cách trực tiếp. Trong đó cấu trúc sở hữu được xem như

là cơ chế để các doanh nghiệp thực thi công tác quản trị và nó có tác động khơng

nhỏ đến hiệu quả các hoạt động của một công ty. Như Smith (1776) đã chỉ ra rằng

các công ty cổ phần thường hoạt động kém hiệu quả hơn so với các cơng ty tư nhân

bởi vì thơng thường những nhà quản trị ở các cơng ty cổ phần thì thường khơng

hoạt động vì lợi ích của các cổ đơng của cơng ty là tối đa hóa giá trị cơng ty mà hoạt

động theo ý muốn của bản thân của các nhà quản trị.

Từ đó có thể thấy được rằng tồn tại mâu thuẫn giữa cổ đông với các nhà quản

trị của cơng ty. Mâu thuẫn này còn được xem như là vấn đề người đại diện – người

chủ (Principal – Agent), nó xuất phát từ mâu thuẫn trong lợi ích giữa các nhà quản

trị (xây dựng đế chế riêng cho bản thân) và các cổ đơng (tối đa hóa giá trị cơng ty,

tối đa hóa sự giàu có của bản thân). Do đó, khi mâu thuẫn này tồn tại thì giữa các

nhà quản trị và các cổ đơng sẽ có thể phát sinh chi phí đại diện và chính chi phí đại

diện này sẽ trực tiếp làm giảm hiệu quả hoạt động của các công ty.

Mặt khác, khi chia theo loại hình sở hữu thì sở hữu nhà nước là một trong

những thành phần của cấu trúc sở hữu. Cho nên sẽ có những ảnh hưởng nhất định

tới doanh nghiệp bởi do có sự khác biệt trong mục tiêu của các cổ đơng sở hữu và

các cổ đơng khác. Có thể thấy rằng tối đa hóa giá trị cơng ty cũng như là tối đa hóa

sự giàu có của bản thân là mục tiêu mà các cổ đông thông thường muốn hướng tới.

Nhưng các cổ đông sở hữu nhà nước lại có mục tiêu khác so với các cổ đơng thơng

thường, bởi lẽ mục tiêu của các cổ đông này là vì các mục tiêu xã hội (số lượng

người lao động trong nền kinh tế tăng, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp của quốc gia, gia

tăng thu nhập cho người dân từ đó cải thiện mức độ phát triển của quốc gia), mục

tiêu chính trị (ngăn chặn sự gia nhập của các nhà đầu tư nước ngoài, bảo vệ thị



1



trường nội địa chống lại sự xâm chiếm của thị trường nước ngồi). Mà mục tiêu của

các cổ đơng sở hữu nhà nước này có thể khơng phù hợp với mục tiêu tối đa hóa giá

trị cơng ty. Cho nên, có thể hiệu quả hoạt động của các cơng ty có mức độ tập trung

sở hữu nhà nước cao sẽ kém so với các cơng ty khác. Ngun nhân có thể do các

công ty này sẽ phải đối mặt với các áp lực từ mục tiêu chính trị và mục tiêu xã hội,

cụ thể mở rộng quy mô để tuyển dụng thêm nhân sự cho công ty, sản xuất các mặt

hàng theo chỉ thị của nhà nước chứ không phải theo nguyên tắc thị trường (Shleifer

và Vishny, 1994).

Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam đã từng trải qua thời kỳ bao cấp nhưng vào

năm 1986, Nhà nước ta có đã nhiều chính sách cải cách, đổi mới kinh tế và đưa

nước ta từng bước trở thành đất nước theo cơ chế kinh tế thị trường. Theo đó, q

trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước hay còn gọi là cổ phần hóa bắt đầu

diễn ra từ năm 1992. Q trình cổ phần hóa giúp cho các doanh nghiệp có thể cải

thiện hiệu quả hoạt động bằng việc bán một phần cổ phần của nhà nước cho các nhà

đầu tư bên ngoài bao gồm cả các nhà đầu tư trong nước và ngồi nước. Đồng thời

theo Mishra (2011) thì q trình cổ phần hóa trong những năm 1990 – 2000 đã làm

gia tăng số lượng doanh nghiệp được thành lập tại Việt nam. Bên cạnh đó, Phung và

Mishra (2015) đã cho rằng sở hữu nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong việc

góp vào GDP của Việt Nam ở những năm 2000, 2006 và 2012. Do đó sở hữu nhà

nước đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.

Từ đây có thể thấy rằng sở hữu nhà nước có vai trò đối với nền kinh tế Việt

Nam và cũng có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các công ty. Tuy

nhiên số lượng những công trình nghiên cứu trong thời gian qua tại Việt Nam khi

xem xét về vấn đề sở hữu và hiệu quả hoạt động thì tương đối khan hiếm (Phung và

Mishra, 2015). Cho nên đó là lý do mà học viên chọn đề tài “Tác động của sở hữu

nhà nước đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE và

HNX” làm đề tài luận văn thạc sỹ.

1.2. Mục tiêu của đề tài

Luận văn hướng tới hai mục tiêu cơ bản:



2



-



Phân tích những tác động của sở hữu nhà nước đến hiệu quả hoạt động

của các doanh nghiệp.



-



Đề xuất, kiến nghị chính phủ, các nhà quản trị và các nhà đầu tư đối với

việc cải thiện hiệu quả hoạt động doanh nghiệp



1.3. Câu hỏi đặt ra của đề tài

Từ các mục tiêu đã đặt ra, luận văn đưa ra một số câu hỏi cụ thể như sau:

-



Tác động của sở hữu nhà nước đến hiệu quả hoạt động của các doanh

nghiệp là tuyến tính hay phi tuyến?



-



Nếu mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động của các

doanh nghiệp là phi tuyến thì mối quan hệ phi tuyến này là hình chữ U

hay chữ U ngược?



1.4. Điểm mới của đề tài

Trước hết, đối với nghiên cứu gốc của Phung và Mishra (2015), hai tác giả

chỉ xem xét đến vai trò của sở hữu nhà nước, đưa ra các luận cứ cho rằng quá trình

cổ phần hóa trong những năm 1990 – 2000 đã làm gia tăng số lượng doanh nghiệp

được thành lập tại Việt nam. Bên cạnh đó, các tác giả đã cho rằng sở hữu nhà nước

đóng một vai trò quan trọng trong việc góp vào GDP của Việt Nam ở những năm

2000, 2006 và 2012. Do đó cho thấy sở hữu nhà nước đóng vai trò quan trọng đối

với nền kinh tế Việt Nam.

Đối với các nghiên cứu trong nước, đã có các nghiên cứu về ảnh hưởng riêng

lẻ của các thành phần sở hữu như vốn nước ngoài, vốn sở hữu nhà nước, cơ cấu vốn

ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các

nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu mối liên hệ riêng lẻ của một thành phần sở hữu

đối với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Do đó, đề tài của học viên đã tiến

hành mở rộng phạm vi nghiên cứu, đưa ra điểm khác biệt là bên cạnh việc phân tích

các biến thì luận văn tiến hành phân tích tác động của sở hữu nhà nước đến hiệu quả

hoạt động là tuyến tính hay phi tuyến, và nếu mối quan hệ này là phi tuyến thì mối

quan hệ phi tuyến này là hình chữ U hay chữ U ngược.

1.5. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu



3



❖ Phạm vi nghiên cứu

Luận văn thực hiện thông qua việc tổng hợp dữ liệu của những cơng ty phi

tài chính được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM và TP.Hà Nội

trong giai đoạn nghiên cứu từ 2010 – 2016.

❖ Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên số liệu báo cáo tài chính (đã kiểm tốn) của

các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM

và TP. Hà Nội trong giai đoạn từ 2010 – 2016. Trong đó, hiệu quả hoạt động của

các doanh nghiệp là đối tượng nghiên cứu trực tiếp thông qua tỷ số lợi nhuận ròng

trên tổng tài sản và tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu; sở hữu nhà nước được

tính bởi tỷ lệ phần trăm vốn mà nhà nước sở hữu trên tổng số vốn cổ phần của cơng

ty và các yếu tố có tác động hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này.

1.6. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp hồi quy để kiểm định sự tác động của sở hữu

nhà nước đến kết quả hoạt động và sản xuất kinh doanh của các cơng ty, từ đó có

những kết luận phù hợp trên cơ sở kiểm định mơ hình. Trong đó, luận văn tiếp cận

phương trình nghiên cứu theo phương pháp tiếp cận của Yu (2013) và Phung và

Mishra (2015) khi xem xét sự tác động của sở hữu nhà nước đến hiệu quả hoạt động

của các doanh nghiệp. Phương trình và các biến số được trình bày cụ thể như sau:

𝑃𝑒𝑟𝑓𝑜𝑟𝑚𝑎𝑛𝑐𝑒𝑖𝑡

= 𝛽0 + 𝛽1 ∗ 𝑃𝑒𝑟𝑓𝑜𝑟𝑚𝑎𝑛𝑐𝑒𝑖𝑡−1 + 𝛽2 ∗ 𝑆𝑡𝑎𝑡𝑒𝑖𝑡 + 𝛽3 ∗ 𝑆𝑡𝑎𝑡𝑒𝑖𝑡2 + 𝛽4

∗ 𝑆𝑖𝑧𝑒𝑖𝑡 + 𝛽5 ∗ 𝐿𝑒𝑣𝑖𝑡 + 𝛽6 ∗ 𝑇𝑎𝑛𝑔𝑖𝑡 + 𝛽7 ∗ 𝐴𝑔𝑒𝑖𝑡 + 𝛽8 ∗ 𝐿𝑖𝑞𝑢𝑖𝑑𝑖𝑡𝑦𝑖𝑡

+ 𝛽9 ∗ 𝐷𝑖𝑣𝑖𝑡 + 𝛽10 ∗ 𝐵𝑒𝑡𝑎𝑖𝑡 + 𝜀𝑖𝑡

Trong đó

𝑃𝑒𝑟𝑓𝑜𝑟𝑚𝑎𝑛𝑐𝑒𝑖𝑡 là hiệu quả hoạt động được đo lường bởi hai biến ROA (tỷ

số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản) và ROE (tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở

hữu)

𝑃𝑒𝑟𝑓𝑜𝑟𝑚𝑎𝑛𝑐𝑒𝑖𝑡−1 là hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ở năm trước

𝑆𝑡𝑎𝑡𝑒𝑖𝑡 là sở hữu nhà nước được tính bởi tỷ số vốn nhà nước nắm giữ trong



4



số cổ phần của doanh nghiệp

𝑆𝑡𝑎𝑡𝑒𝑖𝑡2 là giá trị bình phương của biến 𝑆𝑡𝑎𝑡𝑒𝑖𝑡 nhằm nắm bắt sự tác động phi

tuyến giữa sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động

𝑆𝑖𝑧𝑒𝑖𝑡 là quy mô của doanh nghiệp được đo lường bởi logarithm tự nhiên của

tổng tài sản

𝐿𝑒𝑣𝑖𝑡 là đòn bẩy của doanh nghiệp được đo lường bởi tổng nợ vay ngắn hạn

và nợ vay dài hạn trên tổng nghĩa vụ nợ.

𝑇𝑎𝑛𝑔𝑖𝑡 là tài sản hữu hình được đo lường bởi tỷ số tài sản hữu hình trên tổng

tài sản.

𝐴𝑔𝑒𝑖𝑡 là tuổi doanh nghiệp được đo lường bởi số năm doanh nghiệp lên sàn

𝐿𝑖𝑞𝑢𝑖𝑑𝑖𝑡𝑦𝑖𝑡 là thanh khoản của doanh nghiệp được đo lường bởi tỷ số tài sản

ngắn hạn trên nợ ngắn hạn

𝐷𝑖𝑣𝑖𝑡 là biến giả đại diện cho việc chi trả cổ tức với giá trị bằng 1 khi cơng ty

có chi trả cổ tức tiền mặt và ngược lại bằng 0.

𝐵𝑒𝑡𝑎𝑖𝑡 là hệ số beta của cổ phiếu.

𝜀𝑖𝑡 là sai số của mơ hình

1.6. Nội dung đề tài

Luận văn bao gồm 05 chương như sau:

Chương 1. Giới thiệu chung về đề tài

Chương 2. Cơ sở lý thuyết vả tổng quan nghiên cứu trước đây

Chương 3. Phương pháp nghiên cứu

Chương 4. Kết quả nghiên cứu

Chương 5. Kết luận



5



CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1. Tổng quan lý thuyết

2.1.1. Lý thuyết cổ đông (Shareholder Theory)

Theo lý thuyết cổ đông, được đưa ra bởi Milton Friedman (1962), mục đích

của các doanh nghiệp, tổ chức là tối đa hóa sự giàu có của các cổ đơng thơng qua

hiệu quả năng suất, phân bổ và năng động. Trong góc độ hẹp này, công ty chịu trách

nhiệm đối với cổ đông của mình và tìm cách tối đa hóa lợi nhuận để trả lại các nhà

cung cấp tài chính. Về vấn đề này, hiệu suất của cơng ty có thể được đo lường một

cách đơn giản bằng cách đo lường giá trị thị trường và sự gia tăng của cải mà nó

mang lại cho các cổ đơng với lợi nhuận cho hoạt động đầu tư chịu rủi ro của cổ

đơng.

Vì mục đích của các doanh nghiệp, tổ chức được đặt rõ ràng theo quan điểm

này và có cơ sở vững chắc để đánh giá hiệu suất của các tập đồn, mơ hình này

cung cấp một mục tiêu cụ thể và rõ ràng cho hoạt động ra quyết định của ban quản

lý. Do đó, các giám đốc và cán bộ có nghĩa vụ điều hành công ty tập trung vào lợi

nhuận, đồng thời tôn trọng các ràng buộc mà pháp luật quy định. Đổi lại, lợi nhuận

được tạo ra bởi công ty được giao cho các cổ đông tương ứng với cổ phần của họ.

Lý thuyết này, được định hướng rõ ràng hướng tới việc bảo vệ của các nhà

đầu tư, đã nổi lên sau sự ra đời của mơ hình tập đoàn kinh doanh hiện đại trong thế

kỷ hai mươi (Maher và Andersson 2000). Quyền sở hữu của các công ty trở nên

phân tán hơn khi vốn được huy động từ các ngân hàng, cổ đông và các tổ chức

khác. Thật vậy, việc quản lý của công ty đã trở nên tách biệt với quyền sở hữu của

công ty. Mối quan hệ liên kết giữa người quản lý và cổ đông được đặc trưng bởi

nhu cầu chung, vì chủ sở hữu cần nguồn nhân lực chuyên trách để điều hành công

ty thay mặt họ và người quản lý cần cổ đông để huy động vốn mà họ không thể tự

cung cấp.

Sự phân chia quyền lực đặc trưng cho hình thức tập đồn hiện đại, mặc dù nó

cho phép các bên đối tác có quyền truy cập vào các nguồn lực mà họ thiếu để hoạt

động (tương ứng, nguồn nhân lực cho cổ đông và quỹ cho người quản lý), làm dấy



6



lên vấn đề vì nó là tiền đề cho sự bất cập giữa ơng chủ và người đại diện, hay còn

gọi là vấn đề người đại diện (agency problem), tồn tại giữa cổ đông và người quản

lý (Berle và Means, 1932). Việc tách quyền sở hữu của chủ đầu tư có lợi ích và khối

ra quyết định điều hành có thể dẫn đến hành vi đi chệch mục tiêu lý tưởng tối đa

hóa lợi nhuận của phía quản lý xa khỏi quan điểm hoạt động cơng ty của phía cổ

đơng. Điều này xảy ra vì lợi ích và mục tiêu của người làm chủ (các cổ đông) và

người đại diện (người quản lý) có thể khác nhau khi có sự phân chia quyền sở hữu

và kiểm sốt. Người quản lý, khơng phải là chủ sở hữu, không trực tiếp chịu ảnh

hưởng bởi chi phí và lợi ích phát sinh từ hành động của họ. Do đó, mặc dù các cổ

đơng quan tâm đến việc tối đa hóa tài sản của họ, các nhà quản lý có thể có các mục

tiêu khác như tối đa hóa tiền lương, tăng trưởng thị phần hoặc gắn bó với các dự án

đầu tư cụ thể (Maher, và Andersson, 2000).

Xung đột với các nhà quản lý không phải là mối đe dọa duy nhất liên quan

đến các cổ đông. Như luận văn đã đề cập, lý thuyết cổ đông liên quan đến việc tạo

ra sự giàu có cho các chủ sở hữu của cơng ty. Đầu tư càng lớn thì càng có nhiều rủi

ro do cổ đông cá nhân sinh ra, những người yêu cầu được hoàn trả tương ứng. Cơ

cấu vốn của một doanh nghiệp có thể được đặc trưng bởi sự có mặt của một cổ đơng

mạnh, người có thể tạo ra một áp lực liên quan đến việc quản lý thay cho mức độ

đầu tư của họ. Các cổ đông lớn, hoặc các chủ sở hữu khối, được trao với một lợi thế

bắt nguồn từ sự kiểm soát của họ (Demsetz, 1986). Một cổ phần lớn tương ứng với

một quyền biểu quyết lớn, trong đó đặt các chủ sở hữu khối ở vị trí để ảnh hưởng

trực tiếp đến quản lý. Hơn nữa, do chi phí giám sát giảm khi quyền sở hữu tăng lên,

các chủ sở hữu khối có động cơ tuyệt vời để tiến hành giám sát các hành vi của nhà

quản lý, điều này có thể trở thành lợi thế cho chủ sở hữu phần còn lại. Chủ nghĩa cơ

hội quản lý có khả năng giảm đi khi xuất hiện cơ cấu sở hữu tập trung, do việc giám

sát chặt chẽ được thực hiện bởi các chủ thể sẽ giảm thiểu một cách hợp lý quyền tự

do và quyền lực của quản lý. Tuy nhiên, các cổ đơng kiểm sốt “cũng có động lực

để sử dụng quyền biểu quyết của họ để tiêu thụ tài nguyên doanh nghiệp hoặc

hưởng lợi ích của công ty mà không được chia sẻ với các cổ đông thiểu số”



7



(Holderness, 2003). Nếu sự khác biệt giữa mục tiêu của cổ đông lớn và cổ đông

thiểu số tồn tại, các chủ thể có thể có khuynh hướng đưa ra các ưu tiên cá nhân của

họ áp lên các hành động của tổ chức, ngay cả khi những mục tiêu này là chống lại

toàn bộ các mục tiêu của công ty (Holderness và Sheehan, 1998).

Quyền lực mà đến từ cổ phần kiểm sốt có thể cho phép chủ sở hữu khối

nắm giữ lợi nhuận mà không thuộc về anh ta với chi phí mà các cổ đơng thiểu số

phải gánh chịu. Theo đó, nếu mục tiêu của cơng ty là tạo ra sự giàu có cho tồn bộ

chủ sở hữu thì đó là cách trả lại cho mỗi người trong số họ tương ứng với tỷ lệ sở

hữu của mình, và tương tự phần rủi ro mà cổ đông chịu, quản trị doanh nghiệp phải

bao gồm các cơ chế bảo vệ các cổ đông thiểu số chống lại chi phí đền bù tiềm ẩn

cho các khoản thuê của các cổ đơng lớn.

Bên cạnh đó, sự thiếu vắng của các cơ chế bảo vệ cổ đông chống lại hành

động của các nhà quản lý hoặc kiểm soát cổ đơng có thể làm chùn bước các nhà đầu

tư tiềm năng cung cấp tài nguyên cho công ty, một vấn đề được gọi là hold-up

(Grossman và Hart, 1986). Khả năng tiền thuê nhà sẽ bị các nhà quản lý hoặc cổ

đơng lớn gặt hái có thể dẫn đến mức đầu tư dưới chuẩn tối ưu, vì vậy có ảnh hưởng

xấu đối với sự thịnh vượng của công ty. Trong mô hình cổ đơng, quản trị doanh

nghiệp chủ yếu quan tâm đến việc điều chỉnh lợi ích giữa cổ đơng và người quản lý,

để đảm bảo rằng công ty nhận được nguồn vốn từ bên ngoài và các nhà tài trợ nhận

được lợi tức hợp lý.

Với đặc thù sở hữu nhà nước tại các quốc gia có sự can thiệp lớn của nhà

nước vào các hoạt động kinh tế, sở hữu nhà nước có tác động ngược chiều đến hiệu

quả hoạt động của công ty khi người đại diện cho phần vốn góp của nhà nước trong

cơng ty lại khơng thật sự là cổ đông của công ty. Lý thuyết người đại diện và các

chi phí đại diện phát sinh do các cổ đông nhà nước là các cá nhân đại diện, cổ đơng

đại diện có thể hoạt động khơng vì mục tiêu hiệu quả và lợi ích của cơng ty dẫn đến

sở hữu nhà nước cao lại có tác động tiêu cực đến kết quả hoạt động của công ty.

Ngược lại, sở hữu nước ngoài được hiểu là sở hữu của các nhà đầu tư tư

nhân nước ngoài. Khi các nhà đầu tư nước ngoài được phép sở hữu vốn cổ phần của



8



các công ty trong nước, hiệu quả hoạt động của công ty sẽ được cải thiện khi các

nhà đầu tư nước ngồi tham gia và có trách nhiệm hơn trong các hoạt động của

công ty. Hiệu quả hoạt động của cơng ty cũng chính là lợi ích của các cổ đơng nước

ngồi đang góp vốn trong cơng ty

2.1.2. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory)

Quan điểm của các bên liên quan đối với công ty là tương đối gần đây nếu so

sánh với lý thuyết cổ đông, vốn đã được giới thiệu bởi tác phẩm của Edward R.

Freeman vào năm 1984. Theo quan điểm của vị này, các tập đồn khơng nên chỉ

chạy theo lợi ích tốt nhất dành cho những người cung cấp tài chính cho doanh

nghiệp; ngược lại, doanh nghiệp chịu trách nhiệm về phúc lợi của một số nhóm các

bên liên quan.

Khái niệm các bên liên quan mở rộng sự hiểu biết của công ty về việc gắn

kết ranh giới không chỉ với các nhà cung cấp tài chính, những người có lợi ích rõ

ràng về số phận của một cơng ty, mà còn tất cả các bên khác "mà khơng có sự hỗ

trợ của tổ chức sẽ ngừng tồn tại" (Freeman, 1983). Thực tế hơn, các bên liên quan

bao gồm tất cả các đối tượng có liên quan với một tổ chức và những người bị ảnh

hưởng bởi sự thành công hay thất bại của nó. Tiền lãi giữ lại trong một cơng ty

khơng chỉ lấy từ khoản đầu tư trực tiếp. Nhóm này bao gồm các nhà đầu tư và các

đối tác hợp đồng như nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, mà còn cả chính phủ,

các nhóm chính trị, hiệp hội thương mại và cộng đồng, có thể gián tiếp bị ảnh

hưởng bởi hồn cảnh của cơng ty chứ khơng chỉ về mặt kinh tế mà còn về xã hội và

mơi trường (Donaldson và Prestonm 1995). Theo quan điểm này, tập đồn là một tổ

chức "có trách nhiệm xã hội" hoạt động phục vụ cho nhu cầu phúc lợi là trên hết

của các bên có liên quan. Lý thuyết của các bên liên quan đặt trọng tâm hơn vào

những giá trị đạo đức hơn là chỉ trên nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận, như lý thuyết

cổ đơng từng khẳng định. Phạm vi của doanh nghiệp không giới hạn trong việc triển

khai tài nguyên để tăng sự giàu có của những người đã tài trợ, mà còn chú trọng vào

việc tạo sự gắn kết lâu dài với tất cả các bên liên quan đến doanh nghiệp nhằm

mang lại lợi ích cho tất cả chúng.



9



Ở đây vấn đề nảy sinh liên quan đến việc thực hiện các mục tiêu xã hội của

công ty. Trên thực tế, khó thiết lập các cơ chế có thể đảm bảo đạt được mục tiêu của

tất cả các bên liên quan cùng một lúc. Hầu hết các khía cạnh này là khơng thể đo

lường hoặc chỉ bị ảnh hưởng không trực tiếp từ những hành động của doanh nghiệp.

Mơ hình này thất bại trong việc hỗ trợ các nhà quản lý và giám đốc đặt ra các ưu

tiên và đưa ra quyết định liên quan đến việc triển khai các nguồn lực của công ty.

Hơn nữa, rất khó để thiết lập các cơ chế thực thi để đảm bảo rằng công ty thỏa mãn

các nghĩa vụ của mình đối với các bên liên quan (Blair, 1995).

Nếu chúng ta xác định phạm vi của cơng ty là hồn thành trách nhiệm xã hội

của mình, thì quản trị doanh nghiệp, cách thức mà các doanh nghiệp được kiểm soát

và chỉ đạo, sẽ cung cấp cơ chế để quản lý các mục tiêu này và đánh giá chúng tương

ứng. Khi mục tiêu của các tập đoàn được thu hẹp lại theo sự hài lòng của chủ sở

hữu, việc thu thập thông tin quan sát về hiệu suất của công ty để thưởng cho quản lý

trở nên đơn giản hơn và ưu tiên một chủ đề khác. Tuy nhiên, điều này có thể dẫn

đến kết quả khơng mong muốn cho các bên liên quan khác. Một trường hợp rõ ràng

có thể là sự sa thải của nhân viên để tối ưu hóa việc triển khai nguồn vốn nhân lực.

Động thái này có thể dễ dàng được biện minh bởi các ràng buộc về chi phí và hiệu

quả, nhưng nếu chúng ta tính đến việc mất phúc lợi của nhân viên (các bên liên

quan của cơng ty) thì lợi ích của quyết định này có thể thay đổi. Một hành vi khác

của cơng ty có thể giải thích xung đột tiềm năng giữa cổ đông và các bên liên quan

là việc khai thác lỗ hổng thuế để giảm thuế nợ cho chính phủ. Các hoạt động này là

hợp pháp và hoàn toàn dễ hiểu theo góc độ tối đa hóa lợi nhuận, nhưng cũng được

coi là phi đạo đức và có thể gây hại cho cộng đồng kinh tế.

Đối với những gì đã được nêu trước đó, sẽ là tuyệt vời để có một hệ thống

quản trị doanh nghiệp mà xem xét lợi ích của tất cả các bên liên quan và cố gắng để

cân bằng chúng. Theo mơ hình các bên liên quan, quản trị doanh nghiệp có liên

quan tới việc thúc đẩy đầu tư dài hạn và cam kết của các bên liên quan khác nhau

(Williamson, 1985). Blair (1995) cũng xác định quản trị doanh nghiệp trong bối

cảnh rộng hơn và lập luận rằng quản trị doanh nghiệp nên được coi là tập hợp các



10



thể chế để quản lý các mối quan hệ giữa tất cả những nhân tố có đóng góp tài sản cụ

thể của cơng ty, giới thiệu về góc nhìn tồn diện của các bên liên quan mà trong đó

định nghĩa cổ đơng như người cung cấp tài sản vốn.

Việc thiếu các cơ chế đo lường và định nghĩa có phần mập mờ đối với mục

tiêu của các bên liên quan làm cho mơ hình các bên liên quan gần như khó có thể

thể thực hiện được trong phạm vi cung cấp ranh giới cho khái niệm quản trị doanh

nghiệp (Andersson và Maher 2010). Việc giải quyết các xung đột tiềm tàng tồn tại

giữa tất cả các bên liên quan của một công ty sẽ là vai trò của quản trị doanh nghiệp

trong khn khổ này, tuy nhiên cần có định nghĩa rõ ràng về mục tiêu của các bên

liên quan khác nhau và hệ thống giám sát hiệu suất được xác định từ trước.

Các công ty có sở hữu nhà nước lớn thường có lợi thế với các khoản vay vốn

từ ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại nhà nước. Kasseeah (2008) và

Qi, Wu và Zang (2000) nghiên cứu trên thị trường Trung Quốc đều cho thấy các

ngân hàng đưa ra quyết định cho vay khơng dựa trên tiêu chí lợi nhuận của công ty

mà chịu ảnh hưởng từ các cá nhân đại diện phần vốn nhà nước trong công ty.

Ngược lại, các cơng ty có sở hữu nước ngồi cao, với khó khăn trong việc tiếp cận

vốn vay trong nước và các quy định hạn chế từ việc huy động vốn vay nước ngồi,

thường có tỷ lệ vốn vay thấp hơn.

Đối với các quốc gia mà hoạt động vay vốn chủ yếu từ các khoản vay của

ngân hàng thương mại (Việt Nam là một điển hình), việc phê duyệt khoản vay có

thể khơng xuất phát từ chính hiệu quả hoạt động của cơng ty, mà còn chịu sự chi

phối lớn từ nhiều yếu tố khác thì vốn vay có thể tăng tại chính các cơng ty mà hiệu

quả hoạt động khơng cao. Ngoài ra, khả năng hạn chế trong giám sát hoạt động sau

khi cho vay của các ngân hàng thương mại tại các quốc gia này cũng làm gia tăng

khả năng các công ty không thật sự chú trọng đến việc sử dụng hiệu quả và đúng

mục đích các khoản vay. Do vậy, với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam,

giả thuyết được xây dựng là các công ty có tỷ lệ vay nợ cao lại có thể là các công ty

hoạt động kém hiệu quả.

2.2. Các yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×