Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo nghiên cứu của P.Emery và cộng sự ( nghiên cứu RADIATE) sau 24 tuần điều trị tocilizumab kết hợp với MTX thì số khớp sưng ở nhóm nghiên cứu giảm -7,8 khớp so với thời điểm trước điều trị ( p<0,001). Kết quả này cao hơn trong nghiên cứu của chúng t

Theo nghiên cứu của P.Emery và cộng sự ( nghiên cứu RADIATE) sau 24 tuần điều trị tocilizumab kết hợp với MTX thì số khớp sưng ở nhóm nghiên cứu giảm -7,8 khớp so với thời điểm trước điều trị ( p<0,001). Kết quả này cao hơn trong nghiên cứu của chúng t

Tải bản đầy đủ - 0trang

xuống 1.71±2.21, còn ở nhóm chứng chỉ số này giảm xuống 10.2±5.35. Rõ

ràng nhóm nghiên cứu giảm rõ rệt hơn so với nhóm chứng với p<0,0001

Theo tiêu chuẩn đánh giá đợt tiến triển của EULAR, trong đợt

tiến triển bệnh nhân có chỉ số ritchie từ 9 điểm trở lên. Như vậy, trong nghiên

cứu của chúng tôi sau 24 tuần điều trị 100% bệnh nhân ở nhóm nghiên cứu có

chỉ số ritchie dưới 9 điểm, trong khi đó nhóm chứng chỉ có 46,7% bệnh nhân

có điểm ritchie dưới 9 điểm và sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,0001.

4.3.6. Hiệu quả điều trị qua thang điểm HAQ-DI

HAQ-DI là thang điểm đánh giá mức độ khuyết tật của bệnh nhân trong

nhiều lĩnh vực bệnh tật khác nhau nhất là các bệnh về xương khớp như viêm

khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp… Thang điểm này có tương quan

chặt chẽ với các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm. Đó cũng là thang điểm

dùng để đánh giá cải thiện hoạt động bệnh trong bệnh viêm khớp dạng thấp và

cải thiện mức độ vận động của bệnh nhân, đồng thời chỉ số này cũng được sử

dụng trong rất nhiều nghiên cứu lâm sàng [51]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở thời điểm 24 tuần điều trị , thang

điểm HAQ-DI ở nhóm điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX giảm

được -2,45 ( từ 2,66 xuống 0,21) so với thời điểm trước điều trị với p<0,001,

còn nhóm điều trị bằng MTX + HCQ giảm được -1,27 ( từ 2,5 xuống 1,23) so

với trước điều trị với p<0,0001. Cả hai nhóm đều có thang điểm HAQ-DI

giảm rõ rệt so với thời điểm trước điều trị, nhưng nhóm bệnh nhân điều trị

bằng tocilizumab phối hợp với MTX giảm rõ rệt hơn với p<0,0001.

Theo nghiên cứu của Joel M. Kremer và cộng sự ( LITHE STUDY)

đánh giá hiệu quả của tocilizumab phối hợp với MTX so với nhóm MTX kết

hợp với giả dược ở bệnh nhân đáp ứng lâm sàng kém với MTX. Sau 52 tuần,

thang điểm HAQ-DI ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab phối hợp



với MTX giảm được -0,6 còn nhóm bệnh nhân điều trị bằng MTX phối hợp

với giả dược giảm được -0,4 với p<0,0014.

So với nghiên cứu của Joel M. Kremer và cộng sự, thang điểm HAQDI của hai nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi sau 24 tuần điều

trị giảm nhiều hơn. Có được kết quả này là do tại thời điểm bắt đầu nghiên

cứu, thang điểm HAQ-DI của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi cao

hơn so với nghiên cứu trên (2,66±0.48so với 1,5±0,6) [8]

4.3.7. Hiệu quả điều trị qua các chỉ số viêm:

IL-6 là một cytokin tiền viêm tạo bởi nhiều loại tế bào khác nhau bao

gồm tế bào T, tế bào B, tế bào bạch cầu, bạch cầu đơn nhân và nguyên bào

sợi. IL-6 hoạt hóa các tế bào viêm như đại thực bào và bạch cầu trung tính từ

đó kích hoạt các phản ứng viêm, gây hủy hoại sụn khớp [6] . Trong các bệnh

khớp nói chung và VKDT nói riêng có hội chứng viêm sinh học do xuất hiện

các protein của quá trình viêm. Hội chứng viêm sinh học biểu hiện bằng tốc

độ máu lắng và protein-C phản ứng.

- Tôc độ máu lắng giờ thứ nhất:

Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, tốc độ máu lắng giờ thứ nhất trung

bình của hai nhóm lần lượt là 53.81±26.95mm và 42,73±18.16 mm, khơng có

sự khác biệt giữa hai nhóm với p>0,05

Sau 12 tuần điều trị, nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab phối

hợp với MTX giảm rõ rệt hơn so với trước điều trị với p<0,0001 và giảm rõ

rệt hơn so với nhóm điều trị bằng MTX + HCQ với p<0,0001. Sau 24 tuần,

tốc độ máu lắng giờ thứ nhất của nhóm điều trị bằng tocilizumab phối hợp với

MTX giảm -40,56 mm ( từ 53,81mm xuống 13,25 mm) so với thời điểm T0.

Ở nhóm điều trị MTX +HCQ ở thời điểm sau 12 tuần thì tốc độ máu lắng

giờ thứ nhất giảm rất ít so với trước điều trị giảm -6,16 mm ( từ 42,73 xuống

36,57) với p>0,05 và sau 24 tuần nhóm này giảm so với trước điều trị là



-26,39 ( từ 42,73 xuống 16,34) với p> 0,05. Vậy sau 24 tuần cả 2 nhóm đều

có tốc độ máu lắng giảm so với trước điều trị nhưng ở nhóm nghiên cứu giảm

rõ rệt hơn với p< 0,0001

Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu của Joel M.

Kremer và cộng sự (nghiên cứu LITHE) có tốc độ máu lắng của nhóm nghiên

cứu giảm -38,6mm so với thời điểm trước điều trị với p<0,0001 [8]

- Nồng độ protein-C phản ứng(CRP):

CRP là một protein trong huyết thanh, được tổng hợp ở gan dưới tác

động của IL-6[6]. Bình thường CRP có nồng độ rất thấp và thường tăng trong

các phản ứng viêm cấp tính. Nồng độ CRP tăng nhanh khi cơ thể phản ứng lại

các tác nhân gây viêm sau đó giảm nhanh khi quá trình viêm đã được thối lui

hoặc sau khi đã được điều trị một cách thích hợp [53]. CRP thay đổi nhanh

hơn so với tốc độ máu lắng và đặc hiệu hơn so với tốc độ máu lắng vì vậy

CRP cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả điều trị trong VKDT [13]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ CRP ở nhóm bệnh nhân điều

trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX giảm dần sau 12 tuần và sau 24 tuần.

Tại thời điểm 24 tuần, nồng độ CRP giảm -3,28mg/dl ( từ 3,85 mg/dl xuống

0,57 mg/dl ) so với trước điều trị với p<0,0001. Trong khi đó ở nhóm bệnh

nhân điều trị MTX+ HCQ, nồng độ CRP giảm khơng có ý nghĩa tại thời điểm

12 tuần với p>0,05 và sau 24 tuần , nồng độ CRP giảm -0,91mg/dl (từ 3,3

mg/dl xuống 2,39 mg/dl) và sự thay đổi này khơng có ý nghĩa với p>0,05.

Như vậy, sau 24 tuần nồng độ CRP của nhóm điều trị tocilizumab+

Methotrexat giảm rõ rệt so với trước điều trị và so với nhóm chứng với

p=0,007

Theo nghiên cứu của G Jones và cộng sự ( AMBITION STUDY) so

sánh hiệu quả của tocilizumab đơn độc với methotrexat đơn độc ở bệnh nhân

VKDT có mức hoạt động bệnh từ trung bình đến mạnh, tại thời điểm 24 tuần



nồng độ CRP của nhóm nghiên cứu giảm -2,8mg/dl so với trước điều trị với

p<0,05[48] cũng gần tương tự như nghiên cứu của chúng tôi.

4.3.8. Hiệu quả điều trị qua DAS28 sử dụng CRP:

DAS28 là chỉ số được sử dụng thường quy trong nghiên cứu lâm sàng

nhằm đánh giá mức độ hoạt động của bệnh và mức độ cải thiện diễn tiến của

bệnh VKDT [25]. Có thể tính DAS28 theo CRP hoặc tốc độ máu lắng. Tuy

nhiên, áp dụng công thức DAS28-CRP đánh giá mức độ hoạt động bệnh và sự

cải thiện hoạt động bệnh có ý nghĩa hơn so với DAS28- ESR [54]. Trong

nghiên cứu của mình chúng tơi sử dụng DAS28-CRP.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau 12 tuần điều trị, nhóm bệnh nhân

điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX có chỉ số DAS28 - CRP giảm

hơn so với trước điều trị và so với nhóm chứng với p<0,0001 và tiếp tục giảm

sau 24 tuần nhóm can thiệp giảm -3,85 ( từ 5,82 xuống 1,97 ) , còn nhóm

chứng giảm -1,57 ( từ 5,72 xuống 4,15 tại thời điểm). Cả hai nhóm đều giảm

có ý nghĩa so với trước điều trị. Tuy nhiên, nhóm điều trị bằng tocilizumab

phối hợp MTX giảm rõ rệt hơn với p<0,0001

Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu của Joel

M.Kremer và cộng sự ( nghiên cứu LITHE) với chỉ số DAS28 tại thời điểm

bắt đầu nghiên cứu và mức độ giảm DAS28. Trong nghiên cứu LITHE, chỉ số

DAS28 ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX sau

52 tuần điều trị giảm được là -3,8 ( từ 6,6 tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu

xuống 2,8 tại thời điểm 52 tuần) với p<0,0001 [8]

Theo nghiên cứu TOWARD ( Mark C. Genovese và cộng sự), chỉ số

DAS28 sau 24 tuần điều trị tocilizumab phối hợp với DMARDs giảm -3,11

( từ 6,7 tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu giảm xuống 3,59 sau điều trị) với

p<0,0001, cũng tương tự như nghiên cứu của chúng tôi [7]



4.3.9. Hiệu quả điều trị qua thay đổi nồng độ RF sau 12 tuần điều trị CÓ

NÊN CHO VÀO NC?

RF( Rheumatoid Factor) là yếu tố dạng thấp trong huyết thanh của

bệnh nhân VKDT có bản chất là các immunoglobulin do các tế bào lympho B

sản xuất ra dưới tác động của IL-6, từ đó tạo ra các phức hợp miễn dịch lắng

đọng trong khớp và gây tổn thương khớp [1] . Trong nghiên cứu lâm sàng RF

được sử dụng để đánh giá diễn tiến của bệnh và hiệu quả điều trị.

Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu (T0), nồng độ RF của nhóm bệnh

nhân điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX và nhóm bệnh nhân điều

trị bằng MTX đơn độc lần lượt là 161.96±114.12 UI/ml và 80,23± 69,5 UI/ml.

có sự khác biệt về nồng độ RF giữa hai nhóm tại thời điểm T0 với p>0,05.

Sau 12 tuần điều trị, nồng độ RF trung bình của nhóm điều trị bằng

tocilizumab phối hợp với MTX giảm ( từ 161,96 UI/ml xuống 111,6UI/ml) so

với trước điều trị với p<0,001. Trong khi đó nồng độ RF của nhóm chứng

thấp hơn ( từ 80,23 UI/ml xuống 70,88 UI/ml) với p>0,05.Như vậy sau 12

tuần điều trị nồng độ RF của nhóm nghiên cứu giảm hơn so với nhóm chứng

với p< 0,05. Sau 24 tuần điều trị, nồng độ RF của nhóm nghiên cứu giảm so

với trước điều trị và so với nhóm chứng nhưng sự khác biệt khơng có ý nghĩa

thống kê với p> 0,05.( biện luận)



4.3.10. Hiệu quả điều trị qua thay đổi lượng Hemoglobin trung bình

IL-6 là một cytokine đa chức năng được sản xuất bởi nhiều loại tế bào.

IL-6 có một loạt các hoạt động sinh học trên các loại tế bào khác nhau như

trên gan, xương, tế bào lympho B, lympho T…Trên gan, IL-6 kích thích tế

bào gan sản xuất các protein pha cấp như hepcidin, CRP. Thơng qua hepcidin,



IL-6 ảnh hưởng đến q trình tạo máu do hepcidin ngăn cản sự hấp thu Fe từ

ruột và ức chế giải phóng Fe từ đại thực bào từ đó gây ra tình trạng thiếu máu

ở bệnh nhân VKDT [6].

Thiếu máu mạn tính gặp khoảng 31,5% bệnh nhân VKDT [11] .

Nguyên nhân thiếu máu trong VKDT thường là do q trình viêm mạn tính

hoặc do biến chứng của quá trình điều trị bệnh. Thiếu máu trong VKDT

thường kẻm theo triệu chứng giảm sắt huyết thanh và tăng ferritin, và tình

trạng thiếu máu khơng đáp ứng với điều trị sắt song được cải thiện khi điều trị

viêm khớp ổn định [55]

Tăng nồng độ hemoglobin ở bệnh nhân điều trị bằng Tocilizumab đã

được chứng minh ở rất nhiều nghiên cứu [48-49]

Sự thay đổi lượng hemoglobin trong huyết thanh của BN VKDT cũng

là một yếu tố giúp đánh giá cải thiện điều trị

Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau 24 tuần điều trị lượng hemoglobin

TB của nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX tăng

được 7,43 g/l ( từ 124.75±13.64g/l lên 132.18±12.16g/l), sự thay đổi có ý

nghĩa so với trước điều trị với p<0,0001. Trong khi đó, nhóm bệnh nhân điều

trị MTX + HCQ có lượng hemoglobin TB tăng ít hơn được 5,93g /l( từ

121.8±15.82g/l lên 127.73±18.98g/l), và sự thay đổi này khơng có ý nghĩa

với p>0,05.

Như vậy, sau 24 tuần điều trị, nồng độ hemoglobin TB ở nhóm bệnh

nhân điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX tăng hơn với nhóm bệnh

nhân điều trị MTX + HCQ nhưng sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê với

p>0,05. Sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê này có thể do trước điều trị

nồng độ Hemoglobin của hai nhóm khơng thấp nên sau điều trị khơng tăng

nhiều.

4.3.11. Hiệu quả điều trị qua sự giảm liều các thuốc đã điều trị:



Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, liều corticoid TB ( tính theo

prednisolon) ở hai nhóm là khơng có sự khác biệt với p>0,05.

Tuy nhiên, sau 24 tuần điều trị, liều corticoid TB ở nhóm điều trị bằng

tocilizumab phối hợp với MTX giảm rõ rệt so với nhóm điều trị bằng MTX

đơn độc ( từ 9,3 mg/ngày xuống 0,86 mg/ngày) so với từ (8,4 mg/ngày xuống

5,27 mg/ngày ) với p<0,0001. Sau 24 tuần, nhóm nghiên cứu của chúng tơi có

65,6% cắt được cortioid trong khi đó nhóm chứng chỉ có 10 % với p< 0,0001

và tỉ lệ bệnh nhân giảm được liều Corticoid ở nhóm nghiên cứu là 100 %

trong khi đó nhóm chứng ? với p?

Theo nghiên cứu N Nishimoto đánh giá tính an tồn và hiệu quả lâu dài

của tocilizumab đơn trị ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp (nghiên cứu

STREAM): cho thấy sau 5 năm 88,6% bệnh nhân giảm được liều corticoid và

31,8% bệnh nhân ngừng điều trị corticoid [56]

4.4. Các chỉ số đánh giá cải thiện hoạt động bệnh:

4.4.1. Đánh giá tỷ lệ lui bệnh theo DAS28-CRP tại thời điểm 12 tuần:

DAS28 là chỉ số được sử dụng thường quy trong nghiên cứu lâm sàng

nhằm đánh giá cải thiện diễn tiến của bệnh VKDT.

DAS 28 < 2,6



:



Bệnh không hoạt động



2,6≤ DAS 28 ≤ 3,2:



Hoạt động bệnh mức độ nhẹ



3,2 < DAS 28 ≤ 5,1:



Hoạt động bệnh mức độ trung bình



DAS 28 >5,1



Bệnh hoạt động mạnh



:



Mục đích điều trị bệnh VKDT là đạt lui bệnh hồn tồn, chính vì vậy

chỉ số DAS28 được sử dụng để đánh giá mức độ lui bệnh và hiệu quả của

điều trị.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau 24 tuần điều trị, nhóm bệnh nhân

điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX có:

- 64,3% BN đạt được lui bệnh hồn tồn (DAS28<2,6)



- 32,1% BN có hoạt động bệnh ở mức độ nhẹ( 2,6 ≤ DAS28 ≤3,2)

- 3,6%



BN có mức độ hoạt động bệnh từ trung bình đến mạnh



(DAS28 >3,2)

Trong khi đó, nhóm bệnh nhân điều trị bằng MTX đơn độc có:

- 6,7% BN đạt lui bệnh hồn tồn ( DAS28<2,6)

- 20% BN có hoạt động bệnh ở mức độ nhẹ( 2,6≤ DAS28 ≤ 3,2)

- 73,3 % BN có mức độ hoạt động bệnh từ trung bình đến mạnh

(DAS28 >3,2)

Sự khác biệt giữa hai nhóm là rõ rệt và nhóm bệnh nhân dùng tocilizumab

phối hợp với MTX có hiệu quả điều trị tốt hơn hẳn so với nhóm dùng MTX +

giả dược ( p>0,0001)

* Theo nghiên cứu của Joel M. Kremer và cộng sự ( LITHE STUDY), ở thời

điểm 52 tuần nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX có:

- 47,2% BN đạt lui bệnh hồn tồn( DAS28 <2,6)

- 63,6% BN có hoạt động bệnh ở mức độ nhẹ( 2,6≤DAS28≤3,2). Trong

khi đó ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng MTX phối hợp với giả dược có:

- 7,9% BN đạt lui bệnh hồn tồn( DAS28<2,6)

- 18,5% BN có hoạt động bệnh ở mức độ nhẹ(2,6≤ DAS28≤ 3,2)

Sự khác biệt giữa hai nhóm là rất lớn với p<0,0001 [8]

* Theo nghiên cứu của P. Emery và cộng sự ( RADIATE STUDY), ở

thời điểm 24 tuần, nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab phối hợp với

MTX có:

- 30,1% BN đạt lui bệnh hồn tồn( DAS28<2,6)

- 51,2% BN có hoạt động bệnh ở mức độ nhẹ(2,6≤ DAS28<3,2)

Nhóm bệnh nhân điều trị bằng MTX phối hợp với giả dược có:

- 1,6% BN đạt lui bệnh hồn tồn( DAS28<2,6)

- 4,9% BN có hoạt động bệnh ở mức độ nhẹ (2,6≤DAS28≤3,2)



Sự khác biệt giữa hai nhóm là rõ rệt với p=0,001[9]

Trong nghiên cứu của chúng tơi, tỉ lệ bệnh nhân đạt lui bệnh hồn tồn

( DAS 28< 2,6) cao hơn và bệnh nhân có hoạt động bệnh nhẹ

(2,6≤ DAS 28≤ 3,2) thấp hơn do?

4.4.2. Cải thiện hoạt động bệnh theo EULAR dựa vào DAS28-CRP:

Theo tiêu chuẩn đánh giá cải thiện hoạt động bệnh theo EULAR dựa

vào hiệu số của DAS28 trước điều trị và DAS28 sau điều trị thì:

Hiệu số < 0,6



: khơng cải thiện



0,6 ≤ hiệu số < 1,2



: cải thiện trung bình



Hiệu số > 1,2



: cải thiện tốt.



Đây cũng là chỉ số quan trọng để đánh giá cải thiện điều trị ở bệnh

nhân VKDT [25]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, hiệu số giữa DAS28-CRP TB trước và

sau 24 tuần điều trị của nhóm can thiệp là 3,84 cao hơn so với nhóm chứng là

1,56. Cả hai nhóm đều đạt mức độ cải thiện bệnh tốt theo EULAR nhưng Ở

nhóm can thiệp tốt hơn cụ thể: ở nhóm điều trị Tocilizumab + Methotrexat cải

thiện bệnh tốt theo EULAR là 94,4%, cải thiện trung bình 3,6% cao hơn so với

nhóm chứng là 53,3% và 13,3% với p< 0,0001

Theo nghiên cứu của



J. Bijlsma và cộng sự về điều trị viêm khớp



dạng thấp sớm bằng tocilizumab, methotrexate, hoặc kết hợp (U-Act-Early):

nhóm điều trị tocilizumab kết hợp với Methotrexat cải thiện EULAR tốt và

trung bình là 89% và 5% so với nhóm điều trị Methotrexat đơn độc là 49% và

32% với p<0,0001 [57], nghiên cứu này tương tự với nghiên cứu của chúng

tôi.



4.4.3. Đánh giá lui bệnh theo ACR tại thời điểm 24 tuần:



Đánh giá lui bệnh theo ACR20,50,70 là bệnh nhân phải giảm được

20%,50%,70% số khớp sưng và số khớp đau. Đồng thời giảm được

20%,50%,70% của 3 trong 5 thông số sau: Diễn tiến bệnh tổng quát theo đánh giá

của bác sỹ, diễn tiến bệnh tổng quát theo đánh giá của bệnh nhân, đánh giá đau

của bệnh nhân theo thang điểm VAS, đánh giá khả năng vận động của bệnh nhân

theo bộ câu hỏi HAQ-DI, tình trạng viêm ( tốc độ máu lắng hoặc CRP) [52]

Đánh giá lui bệnh theo ACR20,50,70 là tổng hợp của hầu hết các chỉ số

đánh giá mức độ hoạt động bệnh của bệnh nhân. Vì vậy, đây là chỉ số được sử

dụng trong rất nhiều nghiên cứu để đánh giá cải thiện hoạt động bệnh và đánh

giá lui bệnh

Trong NC của chúng tơi, nhóm BN điều trị bằng tocilizumab phối hợp với

MTX có tỷ lệ 84,4%, 71,8%, 62,5% BN đáp ứng ACR20, ACR50 và ACR 70

trong khi đó nhóm BN điều trị bằng MTX + HCQ là 56,7%, 26,7%, 6,7%

Như vậy, nhóm can thiệp có tỷ lệ đáp ứng ACR 20, 50, 70 cao hơn hẳn so với

nhóm chứng với (p<0,01 với tiêu chí ACR 20;p< 0,0001 với ACR 50 và

ACR70).Như vậy điều trị bằng tocilizumab phối hợp với MTX mang lại hiệu

quả tốt hơn hẳn so với điều trị bằng MTX + HCQ.

Theo nghiên cứu của



J. Bijlsma và cộng sự về điều trị viêm khớp



dạng thấp sớm bằng tocilizumab, methotrexate, hoặc kết hợp



(U-Act-



Early):sau 24 tuần bệnh nhân nhóm được điều trị Tocilizumab+ Methotrexat

có đáp ứng ACR20, 50, 70 là 75% , 64% và 44% , trong khi đó nhóm điều trị

Methotrexat đơn độc có 59%, 34%, 15%. Sự khác biệt giữa hai nhóm là rõ

rệt với với (p<0,01 với tiêu chí ACR 20;p< 0,0001 với ACR 50 và ACR 70 )

Như vậy nghiên cứu của chúng tôi giống với nghiên cứu của J.

Bijlsma.



4.5. Nhận xét tính an tồn của Tocilizumab phối hợp với Methotrexat

trong điều trị VKDT:

4.5.1.lâm sàng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, trong 24 tuần điều trị hầu hết các tác dụng

phụ đều nhẹ hoặc trung bình với tỷ lệ chung là 68,75% ở nhóm Actemra+

MTX và 46,66% ở nhóm MTX+ HCQ. Các tác dụng phụ thường gặp nhất

trong nhóm tocilizumab là nhiễm trùng 43,75%, triệu chứng đường tiêu hóa

18,75% so với 33,33% và 13,33% ở nhóm MTX+ HCQ nhưng sự khác biệt

giữa 2 nhóm khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

Cụ thể, sau 24 tuần điều trị, nhóm bệnh nhân điều trị bằng tocilizumab

phối hợp với MTX có :

- 4 BN bị nhiễm khuẩn hơ hấp ( chiếm 12,5%) : Trong đó 1 bệnh nhân

bị viêm phổi sau lần truyền thuốc thứ 3 với các triệu chứng ho khạc đờm vàng

và sốt nhưng khơng có tình trạng suy hơ hấp bệnh nhân đã được chụp CT

phổi có hình ảnh viêm phổi ( được xét nghiệm BK đờm âm tính). BN đã

được điều trị kháng sinh tiêm trong 1 tuần thì hết triệu chứng. Sau đó bệnh

nhân bỏ điều trị. Có 1(3,13%) bệnh nhân bị nhiễm trùng nặng bị lao màng

phổi sau lần truyền thuốc thứ 3 với triệu chứng sốt nhẹ về chiều và đau ngực,

bệnh nhân đã được chụp CT phổi và sinh thiết màng phổi và điều trị theo phác

đồ lao nên bệnh nhân phải ngừng điều trị. Có 3 bệnh nhân ( 9,38%) bị viêm

mũi họng xuất hiện sau lần truyền thuốc thứ 2 nhưng điều trị đều đáp ứng với

kháng sinh đường uống và khỏi hoàn toàn trong 5 ngày và 3 bệnh nhân này

vẫn tiếp tục tham gia nghiên cứu

- Có 7 bệnh nhân bị nhiễm trùng tiết niệu (21,89%) nhưng chỉ có 2

bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng tiểu buốt, còn 5 bệnh nhân khơng có triệu

chứng, các bệnh nhân này đều có xét nghiệm BC niệu 125- 500 cells/ul. 7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo nghiên cứu của P.Emery và cộng sự ( nghiên cứu RADIATE) sau 24 tuần điều trị tocilizumab kết hợp với MTX thì số khớp sưng ở nhóm nghiên cứu giảm -7,8 khớp so với thời điểm trước điều trị ( p<0,001). Kết quả này cao hơn trong nghiên cứu của chúng t

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×