Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.24: Tác dụng không mong muốn

Bảng 3.24: Tác dụng không mong muốn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nhóm NC

n

%

Viêm phổi

1

3.13

Lao màng phổi 1

3.13

Nk hơ hấp trên( 3

9.38

viêm họng)

Nk tiết niệu

7

21.88

Nk da và mơ 1

3.13

mềm

Herper zoter

1

3.13



Nhóm chứng

n

%

0

0

0

0

2

6.67



p

>0.05

>0.05

>0.05



3

2



10

6,67



>0.05

>0.05



3



10



>0.05



Nhận xét:sau 24 tuần điều trị các biễn cố về nhiễm trùng gặp 43,75%

ở nhóm nghiên cứu và 33,33 % ở nhóm chứng cụ th ể: ở nhóm nghiên

cứu viêm phổi chiếm 3,13%, lao màng phổi 3,13%, nhiễm khuẩn hô h ấp

trên 9,38%, nhiễm khuẩn tiết niệu 21,88%, Nk da và mô mềm 3,13%,

Herper zoter 3,13% trong khi ở nhóm chứng là 0%, 0%, 6,67%, 10%,

6,67%, 10%, Nhưng sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê v ới

p>0,05



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN



4.1. Đặc điểm chung của 2 nhóm bệnh nhân

4.1.1. Đặc điểm về tuổi, giới của 2 nhóm bệnh nhân:

Viêm khớp dạng thấp là bệnh thường gặp ở lứa tuổi trung niên. Trong

nghiên cứu của chúng tơi nhóm can thiệp có 27 bệnh nhân chiếm 84,4% nằm

trong độ tuổi từ 36-65, tỉ lệ này ở nhóm chứng là 86,7% .Tuổi trung bình của

nhóm can thiệp là 53,47±10,93 tuổi; của nhóm chứng là 54,13±10,23 tuổi .

Khơng có sự khác biệt về tuổi trung bình ở hai nhóm ( p>0,05)

Viêm khớp dạng thấp là bệnh thường gặp ở nữ giới. Nhóm can thiệp

của chúng tơi có 93,8% bệnh nhân là nữ, nhóm chứng có 86,7% bệnh nhân là

nữ và cũng khơng có sự khác biệt về giới tính giữa hai nhóm (p>0,05).

Theo nghiên cứu về tình hình bệnh tật tại khoa Cơ Xương Khớp Bệnh

Viện Bạch Mai từ 1991-2000 của tác giả Nguyễn Thu Hiền thì nữ giới chiếm



92,3%, và lứa tuổi chiếm đa số là từ 36-65 chiếm 72,6%. Các số liệu về tuổi và

giới trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu trên [10]

Theo nghiên cứu của Joel M. Kremer và cộng sự ( nghiên cứu LITHE )

về đánh giá hiệu quả của tocilizumab phối hợp với MTX trong điều trị VKDT

ở bệnh nhân đáp ứng kém với MTX thì tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu

là 53,4±11,7 tuổi; của nhóm chứng là 51,3±12,4 tuổi , trong đó nữ giới của

hai nhóm lần lượt là 82% và 83%. Các số liệu về tuổi và giới trong can

thiệp của chúng tôi cũng tương tự như trong nghiên cứu của Joel M. Kremer

và cộng sự [8]

Như vậy, đặc điểm về tuổi và giới của hai nhóm bệnh nhân trong

nghiên cứu của chúng tôi là tương đồng nhau và cũng tương tự như một số

nghiên cứu tại Việt nam và trên thế giới. Đây cũng là những đặc điểm điển

hình và đại diện cho bệnh nhân viêm khơp dạng thấp

4.1.2. Đặc điểm về giai đoạn bệnh của 2 nhóm bệnh nhân:

Dựa vào chức năng vận động và hình ảnh tổn thương X quang của

khớp Steinbrocker đã chia ra 4 giai đoạn [24]

Trong nghiên cứu của chúng tôi đa số bệnh nhân của 2 nhóm ở giai

đoạn 2 theo phân loại của Steinbroker , trong đó nhóm can thiệp chiếm 46,9%

và nhóm chứng chiếm 56,7%. Có 21,9% bệnh nhân của nhóm can thiệp và

16,7% bệnh nhân của nhóm chứng ở giai đoạn 1. Có 21,8 % và 3,1% bệnh

nhân của nhóm điều trị Actemra + Methotrexat ở giai đoạn 3 và 4 và ở nhóm

chứng là 20%, 6,7%

Như vậy, khơng có sự khác biệt về giai đoạn bệnh giữa hai nhóm trong

nghiên cứu của chúng tơi tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu (p>0,05).

4.1.3. Đặc điểm về thời gian mắc bệnh:

Viêm khớp dạng thấp là bệnh khớp mạn tính, thường diễn biến trong

nhiều năm. Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, thời gian mắc bệnh trung bình



của nhóm can thiệp là 7,29±7,68 của nhóm chứng là 8,86±9,78 năm , khơng

có sự khác biệt về thời gian mắc bệnh giữa 2 nhóm với p>0,05.

Theo nghiên cứu của Josef S Smolen và cộng sự ( OPTION STUDY)

đánh giá hiệu quả của tocilizumab so với giả dược ở 623 bệnh nhân đáp ứng

kém với MTX thì thời gian mắc bệnh trung bình của nhóm nghiên cứu là 7,4

năm, nhóm chứng là 7,8 năm [49]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian mắc bệnh trung bình gần

tương tự với nghiên cứu OPTION

4.1.4.Tiền sử các thuốc điều trị tại thời điểm nghiên cứu:

Trong nghiên cứu của chúng tơi, 100% bệnh nhân ở nhóm can thiệp và

nhóm chứng đã từng được điều trị Methotrexat ít nhất 3 tháng. Tỉ lệ bệnh

nhân dùng Corticoid và NSAIDs ở nhóm can thiệp là 100% và 0% trong khi

ở nhóm chứng là 90% và 10%. khơng có sự khác biệt về tình trạng sử dụng

corticoid và Methotrexat và NSAIDs giữa 2 nhóm tại thời điểm nghiên cứu

với p>0,05

4.2. Các chỉ số về mức độ hoạt động bệnh tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu:

- Số khớp đau trung bình:Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, số khớp

đau trung bình của nhóm can thiệp là 14,62± 9,32 khớp, của nhóm chứng là

15,67± 8,37 khớp và khơng có sự khác biệt về số khớp đau trung bình giữa

hai nhóm với p>0,05.

- Số khớp sưng trung bình: Số khớp sưng trung bình tại thời điểm bắt

đầu nghiên cứu của nhóm can thiệp và nhóm chứng là 5,41 ± 3,60 khớp và

4,33±2,9 khớp và khơng có sự khác biệt về số khớp sưng trung bình của hai

nhóm nghiên cứu với p>0,05.

Theo nghiên cứu của Lê Thị Hải Hà về hình ảnh tổn thương khớp cổ

tay của bệnh nhân VKDT trên hình ảnh XQ và cộng hưởng từ thì số khớp đau

và số khớp sưng trung bình là 14,9±3,8 khớp và 9,7±4,6 khớp [18]



Nghiên cứu của chúng tơi có số khớp đau và số khớp sưng trung bình

cũng tương tự như nghiên cứu của Lê Thị Hải Hà

- Điểm VAS trung bình: Tại thời điểm T0, chỉ số VAS trung bình của

nhóm can thiệp là 68,8± 8,7 và của nhóm chứng là 66,7±13,5. Khơng có sự

khác biệt về chỉ số VAS trung bình giữa hai nhóm với p>0,05.

Theo nghiên cứu của P. Emery và cộng sự ( RADIATE STUDY) đánh

giá hiệu quả của tocilizumab phối hợp với MTX trong điều trị VKDT ở bệnh

nhân đáp ứng kém với kháng TNF-alpha thì chỉ số VAS trung bình của nhóm

nghiên cứu là 64,7±20,6 và của nhóm chứng là 64,1±21,8 [9]

Trong nghiên cứu của chúng tôi không có sự khác biệt về chỉ số VAS

trung bình của nhóm can thiệp và nhóm chứng với p>0,05 và tương tự với

nghiên cứu RADIATE

- Điểm hoạt động bệnh DAS28-CRP: Tại thời điểm T0, điểm hoạt

động bệnh DAS28-CRP của nhóm can thiệp là 5.82±0.89; của nhóm chứng là

5.72±1.04. Kết quả trên cho thấy khơng có sự khác biệt về điểm hoạt động

bệnh DAS28-CRP giữa hai nhóm trong nghiên cứu của chúng tôi với p>0,05.

Đây cũng là điểm hoạt động bệnh DAS28 thường gặp ở những bệnh nhân

chưa được điều trị bằng thuốc sinh học.

Theo nghiên cứu của Joel M. Kremer và cộng sự ( LITHE STUDY),

điểm hoạt động bệnh DAS28-CRP của nhóm nghiên cứu là 6,6±1,0 và của

nhóm chứng là 6,5±1,0 [8]

DAS28 là chỉ số được sử dụng để đánh giá mức độ hoạt động bệnh ở

bệnh nhân VKDT. DAS28 được xác định thông qua các chỉ số về số khớp

đau, số khớp sưng, bilan viêm ( CRP hoặc ESR) và đánh giá mức độ đau khớp

của bệnh nhân qua VAS[25]. Trong nghiên cứu của chúng tơi khơng có sự

khác biệt về điểm hoạt động bệnh DAS28 giữa hai nhóm (p>0,05) . Đồng thời

điểm DAS28-CRP cũng tương tự như nghiên cứu LITHE



- Ngoài ra, các chỉ số máu lắng giờ thứ nhất, nồng độ protein-C phản

ứng, điểm HAQ-DI trung bình tại thời điểm T0 cũng khơng có sự khác biệt

giữa hai nhóm nghiên cứu của chúng tơi với p >0,05.

Trên đây là 1 số chỉ số chính thể hiện mức độ hoạt động bệnh của nhóm

chứng và nhóm nghiên cứu tại thời điểm T0. Tất cả các chỉ số đều cho thấy sự

tương đồng giữa 2 nhóm về lâm sàng và xét nghiệm tại thời điểm bắt đầu

nghiên cứu, từ đó chúng tơi tiếp tục tìm hiểu sự thay đổi trong thời gian

nghiên cứu

4.3. Hiệu quả điều trị của Tocilizumab phối hợp với Methotrexat

4.3.1. Hiệu quả giảm đau theo thang điểm đau VAS:

Tại thời điểm T0, điểm VAS trung bình của nhóm nghiên cứu là

68,8± 8,7 mm và của nhóm chứng là 66,7±13,5 mm. Khơng có sự khác biệt

về chỉ số VAS trung bình giữa hai nhóm với p>0,05. Sau 12 tuần điều trị điểm

đau VAS trung bình của nhóm can thiệp giảm xuống 30,6±13,4 mm và nhóm

chứng giảm xuống 53,7±11,3 mm. Sự thay đổi đều có ý nghĩa ở cả hai nhóm.

Sự thay đổi này tiếp tục giảm rõ rệt ở thời điểm 24 tuần.

Sau 24 tuần điều trị thì cả hai nhóm đều có thang điểm đau VAS giảm

xuống rõ rệt. Nhóm điều trị Actemra + Methotrexat giảm -56,7 mm( từ

68,8mm xuống 12,1mm) và nhóm chứng giảm -20 mm (từ 66,7 mm xuống

46,7 mm).Tuy nhiên, khi so sánh giữa hai nhóm thì chúng tơi thấy nhóm

nghiên cứu có điểm đau VAS giảm rõ rệt hơn hơn so với nhóm chứng với

p<0,0001.

Theo nghiên cứu của G Jones và cộng sự ( AMBITION STUDY) so

sánh hiệu quả của tocilizumab đơn độc với methotrexat đơn độc ở bệnh nhân

VKDT có mức hoạt động bệnh từ trung bình đến mạnh, tại thời điểm 24 tuần

điểm đau VAS của nhóm điều trị bằng tocilizumab giảm -31,9 mm so với nhóm

điều trị MTX là -29,9mm [48]



Điểm đau VAS là một chỉ số được sử dụng để đánh giá mức độ hoạt

động bệnh ở bệnh nhân VKDT. Khi điểm đau VAS lớn chứng tỏ bệnh hoạt

động mạnh [25] .Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau 24 tuần điểm VAS giảm

nhiều hơn so với nghiên cứu AMBITION ?

4.3.2. Hiệu quả trên thời gian cứng khớp buổi sáng:

Tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, thời gian cứng khớp buổi sáng của

hai nhóm trong nghiên cứu của chúng tơi là khơng có sự khác biệt với p>0,05.

Tuy nhiên thời gian này giảm xuống rõ rệt sau 12 tuần và sau 24 tuần ở cả 2

nhóm nhưng nhóm nghiên cứu giảm nhiều hơn sự khác biệt giữa hai nhóm là

rất lớn với p<0,001. Sau 24 tuần ở nhóm nghiên cứu thời gian này giảm từ

104.06±48.63 phút xuống 2.32±4.61phút còn ở nhóm chứng giảm từ 101.5±

46.22 phút xuống 35.5±22.4 phút với p< 0,0001

Theo tiêu chuẩn đánh giá đợt tiến triển của EULAR thì trong đợt tiến

triển, thời gian cứng khớp buổi sáng ít nhất là 45 phút. Trong nghiên cứu của

chúng tơi, sau 24 tuần điều trị nhóm can thiệp có 100% số bệnh nhân có thời

gian cứng khớp buổi sáng dưới 45 phút, trong khi đó nhóm chứng có 66,7%

số bệnh nhân có thời gian cứng khớp buổi sáng dưới 45 phút và 33,3% số

bệnh nhân có thời gian cứng khớp trên 45 phút, sự khác biệt giữa hai nhóm là

rất lớn với p<0,001

Theo nghiên cứu của tác giả Đặng Hồng Hoa về đánh giá hiệu quả và

tác dụng không mong muốn của phác đồ phối hợp tocilizumab( Actemra) với

Methotrexat trong điều trị viêm khớp dạng thấp, sau 12 tuần nhóm điều trị

Actemra có 93,4% bệnh nhân có cứng khớp buổi sáng< 45 phút trong khi

nhóm chứng là 30 % (P< 0,001)[47]. Kết quả của chúng tôi tương tự như

nghiên cứu trên.



4.3.3. Hiệu quả điều trị qua số khớp đau



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.24: Tác dụng không mong muốn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×