Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy tocilizumab có hiệu quả cao và an toàn trongđiều trị VKDT . Ở những bệnh nhân khi dùng DMARDs mà có đáp ứng không đầy đủ khi được bổ xung điều trị tocilizumab (Actemra) có cải thiện rõ ràng hơn hẳn so với dùng DMARDs đơ

Các thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy tocilizumab có hiệu quả cao và an toàn trongđiều trị VKDT . Ở những bệnh nhân khi dùng DMARDs mà có đáp ứng không đầy đủ khi được bổ xung điều trị tocilizumab (Actemra) có cải thiện rõ ràng hơn hẳn so với dùng DMARDs đơ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nghiên cứu được thực hiện ở bệnh nhân >=18 tuổi, được chẩn đoán

viêm khớp dạng thấp đợt tiến triển dựa vào tiêu chuẩn của Hội Khớp Học Hoa

Kỳ (ACR 1987) có ít nhất 8 khớp đau và 6 khớp sưng so với lúc vào nghiên cứu

- Nghiên cứu AMBITION [48] đánh giá 673 bệnh nhân chưa được điều trị

với MTX trong 6 tháng trước khi được chọn ngẫu nhiên, và những bệnh nhân

trước đó chưa điều trị với MTX vì những độc tính quan trọng về mặt lâm sàng

hoặc đáp ứng kém. Phần lớn bệnh nhân (67%) chưa điều trị với MTX. Actemra

được dùng đơn trị với liều 8mg/kg mỗi 4 tuần. Nhóm so sánh là MTX. Kết quả

cho thấy sau 24 tuần điều trị chỉ số DAS28 giảm rõ rệt ở nhóm điều trị

Tocilizumab có 33,6% DAS 28< 2,6, còn nhóm chứng là 12,1%, đạt lui bệnh

theo tiêu chuẩn ACR 20, 50, 70 là 69,9%, 44%, 28% so với nhóm chứng 12,1%,

33%, 15% với (p< 0,0001).

- Nghiên cứu LITHE [8] tiến hành trong 2 năm với 1196 bệnh nhân đáp

ứng lâm sàng kém với MTX. Điều trị Actemra 4mg/kg hoặc 8mg/kg kết hợp

với MTX so sánh với giả dược kết hợp với MTX. Kết quả cho thấy chỉ số

DAS28 giảm rõ rệt ở nhóm điều trị tocilizumab (p< 0,0001), có 42,7% có chỉ số

DAS 28< 2,6 và 63,6% 2,6≤ DAS28≤ 3,2, ở nhóm chứng tỉ lệ này là 7,9% và

18,5% với (p<0,0001). Sau 52 tuần điều trị HAQ-DI ở nhóm điều trị phối hợp với

Tocilizumab giảm -0,6 còn nhóm chứng giảm -0,4 với p< 0.0001

- Nghiên cứu OPTION [49] đánh giá 623 bệnh nhân đáp ứng lâm sàng kém

với MTX. Actemra được dùng với liều 4mg/kg hoặc 8mg/kg kết hợp với MTX so

sánh với giả dược kết hợp với MTX. Kết quả đạt lui bệnh theo ACR20, 50, 70 ở

nhóm nghiên cứu là 59%, 44%, 22% so với nhóm chứng là 26%, 11%, 2%. Cải

thiện lui bệnh theo EULAR: cải thiện tốt 38% ở nhóm nghiên cứu còn nhóm

chứng cải thiện tốt có 3% (p<0,0001).



- Nghiên cứu TOWARD[7] đánh giá 1220 bệnh nhân đáp ứng kém với

điều trị bằng thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm (DMARDs), bao gồm một

hoặc nhiều DMARDs. Actemra được dùng với liều 8mg/kg mỗi 4 tuần trong

52 tuần kết hợp với DMARDs so sánh với nhóm kết hợp giả dược và

DMARDs. Kết quả đạt lui bệnh theo tiêu chuẩn ACR 20, 50, 70 ở nhóm

nghiên cứu là 61%, 38%, 21% ở tuần 24 trong khi nhóm chứng là 25%, 9%,

3% với (p< 0,001).

- Nghiên cứu RADIATE [9] đánh giá 499 bệnh nhân đáp ứng lâm

sàng kém hoặc không dung nạp với 1 hoặc nhiều liệu pháp chống TNFalpha. Thuốc kháng TNF phải được ngừng trước khi chia nhóm ngẫu nhiên.

Actemra được dùng với liều 4mg/kg hoặc 8mg/kg mỗi 4 tuần kết hợp với

MTX so sánh với giả dược kết hợp với MTX trong 24 tuần. Kết quả có

30,1% bệnh nhân có chỉ số DAS28< 2,6 và 51,2% 2,6≤ DAS≤ 3,2 cao hơn

nhóm chứng là 1,6% và 4,9%.

Như vậy hiệu quả của phương pháp điều trị kết hợp giữa tocilizumab

với Methotrexat được chứng minh ở nhiều nghiên cứu. Trong các nghiên cứu

trên tác dụng phụ không mong muốn hay gặp nhất là nhiễm trùng chủ yếu là

nhiễm trùng hô hấp trên và tăng cholesterol máu. Nhìn chung, tocilizumab

được dung nạp tốt. Một số tác dụng phụ nghiêm trọng cũng đã được thông

báo nhưng gặp tỉ lệ rất nhỏ

-Nhiễm trùng: Tỉ lệ nhiễm trùng nặng 5,2 biến cố mỗi 100 bệnh nhân/

năm, nhiễm trùng nặng báo cáo viêm phổi, viêm mô tế bào, Herpes zoter...

không gặp nhiễm trùng nặng dẫn đến tử vong và đáp ứng tốt với điều trị

- phản ứng tiêm truyền: Gặp 4,5% chủ yếu tăng huyết áp, mề đay, phát

ban nhưng biến cố này không hạn chế điều trị. Phản ứng phản vệ gặp 6 bệnh



nhân chiếm 0,3% và phải ngừng điều trị. Những phản ứng này được ghi nhận

ở lần truyền thứ 2-5.

- Tính sinh miễn dịch: 1,4 % phát hiện kháng thể Actemra, 1% kháng

thể trung hòa

- Các bất thường về xét nghiệm: 3,4% Giảm bạch cầu đa nhân trung tính <

1G/L, giảm< 0,5 G/L gặp 0,3% ở nhóm điều trị Tocilizumab+ DMARDs

- Tăng men gan: Thoáng qua AST/ALT> 3 lần giá trị giới hạn trên bình

thường, gặp 0,7% tăng AST/ALT > 5 giới hạn trên ở bệnh nhân điều trị

tocilizumab đơn trị và 1,4% bệnh nhân điều trị tocilizumab+ DMARDs và

phần lớn phải ngừng điều trị với tocilizumab

- Tăng thơng số lipid: Tăng cholesterol tồn phần, triglicerid, HDL-C,

LDL-C, gần như không tăng chỉ số gây xơ vữa động mạch. Khoảng 24% bệnh

nhân tăng liên tục cholesterol toàn phần > 6,2 mmol/l, tăng cholesterol đáp

ứng với thuốc hạ lipid máu.



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



2.1. Đối tượng nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Cơ xương khớp- Bệnh viện bạch mai

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2016 đến tháng 9/2017

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.1.1.1. Nhóm bệnh nhân nghiên cứu( nhóm can thiệp)

Bệnh nhân được điều trị nội trú và ngoại trú tại khoa Cơ xương khớpBệnh viện Bạch Mai và đáp ứng được các tiêu chuẩn sau:

- Bệnh nhân > 18 tuổi, được chẩn đoán VKDT theo tiêu chuẩn ACR 1987

- Không đáp ứng với điều trị trước đó bằng DMARDs (Methotrexat) ít

nhất 3 tháng

- Bệnh nhân đang trong đợt tiến triển của bệnh với DAS28- CRP ≥3.2

- Bệnh nhân đồng ý điều trị bằng Actemra(tocilizumab)

2.1.1.2. Nhóm bệnh nhân chứng

Bệnh nhân được điều trị nội trú và ngoại trú tại khoa Cơ xương khớpBệnh viện Bạch Mai và đáp ứng được các tiêu chuẩn sau:

- Bệnh nhân > 18 tuổi , được chẩn đoán VKDT theo tiêu chuẩn ACR 1987

- Bệnh nhân đang trong đợt tiến triển của bệnh với DAS28- CRP ≥3.2

- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu, không điều trị Actemra



2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

Bệnh nhân có chống chỉ định của thuốc Actemra

- BN đang trong tình trạng nhiễm trùng cấp tính, lao tiến triển; BN mắc



lao tiềm ẩn Mantoux hoặc IGRA (+) phải được điều trị phác đồ lao tiềm ẩn ít

nhất 1 tháng trước điều trị Actemra.

- BN có số lượng bạch cầu trung tính< 1G/L, tiểu cầu < 100G/L, ALT

hoặc AST> 5 lần giới hạn trên bình thường.

- BN viêm gan B hoặc C tiến triển.

- Không



chấp nhận tham gia nghiên cứu.

- Bệnh nhân có chống chỉ định của methotrexat: Hạ bạch cầu, suy gan, suy



thận, tổn thương phổi mạn tính

- Bệnh nhân có thai hoặc dự định có thai trong vòng 6 tháng sau khi

điều trị hoặc đang cho con bú

- Bệnh nhân không tuân thủ điều trị

2.1.3. Cỡ mẫu: Chọn mẫu thuận tiện. Chọn được n=32 cho nhóm nghiên

cứu, n= 30 cho nhóm chứng

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, can thiệp theo dõi dọc có đối chứng

- Nhóm can thiệp được điều trị:

+ Actemra 8mg/kg/4 tuần x 24 tuần

+ Methotrexate 10mg- 20mg/ tuần

- Nhóm chứng được điều trị:

+ Methotrexate 10mg-20mg/ tuần



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy tocilizumab có hiệu quả cao và an toàn trongđiều trị VKDT . Ở những bệnh nhân khi dùng DMARDs mà có đáp ứng không đầy đủ khi được bổ xung điều trị tocilizumab (Actemra) có cải thiện rõ ràng hơn hẳn so với dùng DMARDs đơ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×