Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1. Khái quát chung về dạy học tích cực.

Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, được

dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát

huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.

"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ

động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ khơng dùng theo nghĩa trái với

tiêu cực.

PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận

thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ

khơng phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy

học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo

phương pháp thụ động.

Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học,

nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy.

Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo

viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng PPDH tích

cực nhưng khơng thành cơng vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập

thụ động. Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây

dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên

cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự

phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành cơng. Như

vậy, việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ

động".

Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực:

- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.

Một nghiên cứu đã chỉ ra hiệu quả ghi nhớ kiến thức của học sinh trong dạy

học tích cực theo kết quat mơ tả trong tháp hiệu quả học tập.

Một số mơ hình tháp học tập: sự tập trung và nhớ của người học tăng lên theo

các hoạt động đa dạng.



3



Như vậy nếu quá trình tiếp thu kiến thức của HS thụ động thì kết quả ghi nhớ

rất nhỏ. Việc thảo luận nhóm, được làm thực hành và đặc biệt khi hướng dẫn và

truyền đạt cho bạn khác thì hiệu quả thu nhận và nhớ kiến thức rất lớn.

1.2. Dạy học theo góc

Học theo góc còn được gọi là “ trạm học tập” hay “ trung tâm học tập” là một

phương pháp dạy học theo đó học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị

trí cụ thể trong khơng gian lớp học nhưng cùng hướng tới chiếm lĩnh một nội dung

học tập theo các phong cách học khác nhau.

Mục đích là để học sinh được thực hành, khám phá và trải nghiệm qua mỗi

hoạt động. Dạy học theo góc đa dạng về nội dung và hình thức hoạt động. Dạy học

theo góc kích thích HS tích cực học thơng qua hoạt động. Là một môi trường học

tập với cấu trúc được xác định cụ thể.

Ví dụ: 4 góc cùng thực hiện một nội dung và mục tiêu học tập nhưng theo các

phong cách học khác nhau và sử dụng các phương tiện/đồ dùng học tập khác nhau.

(1) Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định

hướng phát triển năng lực học sinh.

Làm thí nghiệm



Xem băng



(Trải nghiệm)



(Quan sát)



Áp dụng



Đọc tài liệu



(Áp dụng)



(Phân tích)

4



Như vậy nói đến học theo góc, người giáo viên cần tạo ra môi trường học tập

với cấu trúc được xác định cụ thể, có tính khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy học sinh

tích cực thơng qua hoạt động, sự khác nhau đáng kể về nội dung và bản chất của các

hoạt động nhằm mục đích để học sinh được thực hành, khám phá và trải nghiệm. Quá

trình học được chia thành các khu vực/góc theo cách phân chia nhiệm vụ và tư liệu học

tập.

Phương pháp dạy học theo góc: mỗi lớp học được chia ra thành các góc nhỏ.

Ở mỗi góc nhỏ người học có thể lần lượt tìm hiểu nội dung kiến thức từng phần của

bài học. Người học phải trải qua các góc để có cái nhìn tổng thể về nội dung của

bài học. Nếu có vướng mắc trong quá trình tìm hiểu nội dung bài học thì học sinh

có thể u cầu giáo viên giúp đỡ và hướng dẫn.

Tại mỗi góc, học sinh cần: Đọc hiểu được nhiệm vụ đặt ra, thực hiện nhiệm vụ

đặt ra, thảo luận nhóm để có kết quả chung của nhóm, trình bày kết quả của nhóm

trên bảng nhóm, giấy A0, A3, A4...

Các tư liệu và nhiệm vụ học tập ở mỗi góc, giúp học sinh khám phá xây dựng

kiến thức và hình thành kỹ năng theo các cách tiếp cận khác nhau. Ví dụ để học

bằng cách trải nghiệm thì ở góc trải nghiệm cần có nhiệm vụ cụ thể, các thiết bị thí

nghiệm hóa học, hóa chất, dụng cụ, phiếu học tập …

Người học có thể độc lập lựa chọn cách thức học tập riêng trong nhiệm vụ chung.

Các hoạt động của người học có tính đa dạng cao về nội dung và bản chất.

2. Cơ sở thực tiễn

Đề tài đã đi sâu vào khía cạnh thực tế, làm rõ, phân tích thực trạng, cùng

những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tổ chức của phương pháp dạy học theo

góc. Qua đó tìm ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt

động.

Áp dụng đổi mới phương pháp dạy học, kết hợp sử dụng phương pháp dạy

học theo góc đã phát huy khả năng tư duy logic và tự học sáng tạo trong dạy học

hóa học. Với thời lượng 1 tiết học, giáo viên chia lớp học thành các góc, học sinh

được tự do phát huy năng lực, sở thích cá nhân trong việc tìm hiểu, nghiên

cứu,khám phá nội dung bài học theo từng góc. Mỗi góc có tài liệu, hướng dẫn

Và nhiệm vụ cụ thể, nhằm phát huy những khả năng riêng biệt, giúp hình

thành nhiều lối tư duy, phát hiện và giải quyết vấn đề.

Góc trải nghiệm, giúp học sinh trải nghiệm từ thực tế thí nghiệm phát hiện và

vấn đề, phân tích sự khác nhau từ hiện tượng từ đó phát triển nội dung kiến thức

Góc quan sát: giúp học sinh phát huy khả năng quan sát, từ các hình ảnh,

video thí nghiệm, học sinh phát hiện và rút ra vấn đề, tìm kiếm kiến thức mới.

5



Góc phân tích: giúp học sinh phát huy tư duy logic, từ kiến thức kĩ năng đã

có, kết hợp sách vở, tài liệu sẵn có, dự đốn, phân tích các đặc điểm, tính chất của

chất, sau đó kiểm chứng kiến thức tại các góc tiếp theo.

Góc áp dụng: nâng cao khả năng đọc hiểu và vận dụng kiến thức mới vào giải

quyết các vấn đề cụ thể, áp dụng vào giải quyết các yêu cầu, bài tập cụ thể.

II. Nội dung nghiên cứu

1. Thực trạng

Kết quả điều tra học sinh dưới hình thức các phiếu điều tra tiến hành trong đầu

năm học 2017-2018 như sau:

Tổng số hs điều tra: 47 học sinh (2 lớp) 1 lớp dạy theo phương pháp truyền

thống, 1 lớp dạy theo phương pháp dạy học theo góc.

Kiểm tra học sinh 1 lớp dạy theo phương pháp truyền thống thông qua bài

kiểm tra , kết quả như sau:

TS



Giỏi



Khá



TB



Yếu



23



1 =4,3%



4 =17,4%



12=52,2

%



6=26,1

%



Qua kết quả trên thấy rõ với phương pháp dạy học truyền thống sẽ chỉ thu hút

được lượng ít học sinh, số lượng học sinh hoạt động trong giờ học hoạt động không

nhiều dẫn đến kết quả khảo sát lượng học sinh trung bình và yếu còn cao.

Mức độ ham thích của HS đối với hoạt động ngoại khóa hóa học (điều tra

thơng qua phiếu điều tra)

TS HS

23



Mức độ

Khơng thích



Bình thường



Thích



Rất thích



7=23,4%



12= 52,2%



3= 13%



1=4,3%



Như vậy hầu hết các em học sinh đều đều không mấy cảm thấy thực sự hứng

thú với hoạt động học vì những lí do như: hoạt động học nhàm chán, khơng sinh

động; nội dung khơ khan, giáo điều; hình thức cứ lặp đi lặp lại; khơng thấy tác

dụng gì đáng kể…dẫn đến sợ mơn hóa học.

Ngun nhân của thực trạng trên:

- Do Hóa học là mơn học thực nghiệm, cần dạy gắn liền với thí nghiệm thực

hành, khi học sinh không thực sự được trải nghiệm sẽ thấy kiến thức hàn lâm, khó

hiểu.

6



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ sở lý luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×