Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.8: Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của các

Bảng 3.8: Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của các

Tải bản đầy đủ - 0trang

73

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12



Ceftiofur

Florfenicol

Amoxicillin

Ampicillin

Ofloxaxin

Tetracyclin

Gentamicin

Lincomycin

Penicillin G

Neomycin

Colistin

Erythromycin



168

168

168

168

168

168

168

168

168

168

168

168



142

137

135

122

90

71

43

21

17

9

4

3



84,52

81,54

80,35

72,61

53,57

42,26

25,59

12,50

10,11

5,35

2,38

1,78



15

17

15

13

18

25

49

59

52

38

32

26



8,92

10,11

8,92

7,73

10,71

14,88

29,16

35,11

30,95

22,61

19,04

15,47



11

14

18

33

60

72

76

88

98

121

132

139



6,54

8,33

10,71

19,64

35,71

42,85

45,23

52,38

58,33

72,02

78,57

82,73



Kết quả bảng 3.8 cho thấy các chủng vi khuẩn S. suis mẫn cảm cao với

ceftiofur (84,52%), florfenicol (81,54%), amoxicillin (80,35%), ampicillin

(72,61%) và kháng lại một số kháng sinh như erythromycin (82,73%), colistin

(78,57%), neomycin (72,02%) và penicillin G (58,33%). Kết quả của chúng tôi

tương đồng với nghiên cứu của Trương Quang Hải và cs. (2012) [6] khi xác định

khả năng mẫn cảm với kháng sinh của 25 chủng vi khuẩn S. suis phân lập từ lợn

mắc viêm phổi tại tỉnh Bắc Giang cho thấy, các chủng vi khuẩn S. suis mẫn cảm

cao với ceftiofur (92,0%), florfenicol (88,0%), amoxicillin (88,0%), ofloxacin

(72,0%), amikacin (72,0%) và kháng lại một số loại kháng sinh như streptomycin

(72,0%), neomycin (64,0%), colistin (60,0%), tetracycline (56,0%) và penicillin G

(48,0%). Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2017) [17] đã kiểm tra mức độ mẫn cảm với

một số kháng sinh của các chủng S. suis phân lập ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh, thấy

chúng mẫn cảm mạnh với ceftiofur (81,82%), amoxicillin (79,55%), florfenicol

(75,00%) và ampicillin (70,45%). Các chủng này đã kháng lại một số kháng sinh

như colistin (94,32%), erythromycin (73,86%) và neomycin (6818%). Nguyễn Văn

Quang và cs. (2017) [26] khi xác định khả năng kháng kháng sinh của các chủng S.

suis phân lập ở lợn tại tỉnh Tuyên Quang cũng thấy các chủng vi khuẩn đều mẫn

cảm cao với ba loại kháng sinh là ceftiofur, ampicillin và amikacin. Kết quả xác

định tính mẫn cảm nói trên là cơ sở cho việc lựa chọn kháng sinh để điều trị bệnh

liên cầu cho lợn đạt hiệu quả cao.



74

3.2.5. Kết quả xác định serotype của các chủng S. suis phân lập được bằng kỹ

thuật PCR

Sau khi các chủng vi khuẩn S. suis được xác định các đặc tính sinh vật học,

chúng tơi tiến hành xác định một trong 4 serotype (serotype 1, 2, 7 và 9) thường

gặp nhất gây bệnh ở lợn bằng phản ứng PCR, phản ứng này cho phép nhận ra sự

khác nhau của 4 loại gen cps mã hoá sản sinh thành phần polysaccharide của giáp

mô vi khuẩn S. suis tương ứng với các serotype 1, 2, 7 và 9. Trường hợp các chủng

vi khuẩn S. suis không thuộc một trong các serotype trên thì lại được tiếp tục xác

định type với 30 loại kháng huyết thanh còn lại bằng phản ứng ngưng kết nhanh

trên phiến kính. Kết quả thu được trình bày ở bảng 3.9.



75

Bảng 3.9: Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn S. suis phân lập được

Kết quả xác định serotype

Loại lợn

lấy mẫu

Lợn con

( ≤ 1 tháng

tuổi)

Lợn sau

cai sữa

(>1- 3

tháng tuổi)

Lợn thịt

(>3 – 6

tháng tuổi)

Lợn hậu

bị, nái

≥ 7 tháng

tuổi)

Cộng



Tổng

số

chủng

VK



Serotype 2



Serotype 7



Serotype 9



Serotype 21



Serotype 29



Không xác

định

Số

Tỷ lệ

chủng

(%)

(+)



Số

chủng

(+)



Tỷ lệ

(%)



Số

chủng

(+)



Tỷ lệ

(%)



Số

chủng

(+)



Tỷ lệ

(%)



Số

chủng

(+)



Tỷ lệ

(%)



Số

chủng

(+)



Tỷ lệ

(%)



39



23



58,97



2



5,13



6



15,39



0



0



1



2,56



7



17,94



50



32



64,00



3



6,00



7



14,00



1



2,00



1



2,00



6



12,00



41



21



51,21



3



7,32



9



21,96



1



2,44



1



2,44



6



14,64



23



13



56,52



3



13,02



3



13,02



1



4,34



1



4,34



2



8,69



153



89



58,17



11



7,19



25



16,34



3



1,96



4



2,61



21



13,72



76

Kết quả ở bảng 3.9 cho thấy số chủng vi khuẩn S. suis thuộc serotype 2 là

89/153 chiếm tỷ lệ cao nhất (58,16%), tiếp đến là serotype 9 (25/153, tỷ lệ 16,33%),

serotype 7 (11/153, tỷ lệ 7,18%) và thấp nhất là serotype 21; 29 (tỷ lệ tương ứng là

1,96% và 2,64%); còn lại 21 chủng chưa xác định được serotype (tỷ lệ 13,72%). Đối

với serotype 2, tỷ lệ cao nhất là ở lợn sau cai sữa (64,00%), tiếp đến là ở lợn con

(58,97%) và thấp nhất là lợn thịt (51,21%). Còn các serotype khác của vi khuẩn S.

suis thì đều có kết quả âm tính trong số các chủng S. suis phân lập được ở lợn tại

Thái Nguyên đã được triển khai nghiên cứu xác định.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên của một số

tác giả như Cù Hữu Phú (2011) [23] xác định được các chủng vi khuẩn S. suis

thuộc serotype 2 ở lợn mắc PRRS với tỷ lệ là 58,33% và Lê Văn Dương và cs.,

(2013) [3] khi xác định serotype của các chủng vi khuẩn S. suis phân lập từ các

mẫu bệnh phẩm của lợn mắc hội chứng PRRS tại Bắc Giang cho kết quả serotype 2

chiếm tỷ lệ cao nhất (56,29%), tiếp đến là serotype 9 và 7 (tỷ lệ tương ứng là 17,03

và 5,18%).

Các chủng vi khuẩn S. suis thuộc serotype 2 đã được thông báo từ lâu là

serotype thường gặp nhất gây bệnh cho lợn và người ở hầu hết các nước trên thế

giới. Ở Anh, bệnh do vi khuẩn S. suis serotype 2 gây ra chủ yếu là gây bại huyết và

viêm não ở lợn sau cai sữa, trong khi đó tại Bắc Mỹ phần lớn lợn mắc bệnh có biểu

hiện viêm phổi. Ở Hà lan, S. suis serotype 2 là nguyên nhân chính gây viêm phổi

(42%), viêm não (18%), viêm nội tâm mạc (18%) và viêm đa thanh mạc (10%).

Ngoài serotype 2, vi khuẩn S. suis thuộc các serotype khác cũng đã được phân lập

từ lợn bị viêm phổi, mảng phổi ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ. Vi khuẩn S. suis

serotype 2 cũng được phân lập từ lợn khỏe bình thường nhưng với tỷ lệ thấp. Trong

khi đó, có một vài serotype như serotype 21, 29 và ít phổ biển hơn là serotype 17,

18 và 19 chủ yếu chỉ được tỉm thấy ở lợn khỏe mạnh và không có triệu chứng lâm

sàng (Lun Z.R và cs, 2007) [94]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp

với nhận xét trên, các chủng thuộc serotype 21 và 29 chủ yếu phân lập được từ dịch



77

họng của lợn có triệu chứng viêm phổi nhưng với tỷ lệ rất thấp, tương ứng là 1,96% và

2,64 %.

Vi khuẩn S. suis là căn nguyên quan trọng gây bệnh ở lợn, trong đó serotype

2 là một trong những nguyên nhân gây chết ở lợn trước và sau cai sữa, từ 5 đến 10

tuần tuổi. Chúng cũng là nguyên nhân truyền bệnh từ động vật sang người nên S.

suis được các nhà khoa học chú ý nghiên cứu trong nhiều năm qua (Gottschalk và

cs,, 2012) [68]. Trong số các type huyết thanh được mô tả, S. suis type 2 là nguy

hiểm nhất và thường được phân lập từ lợn mắc cũng như ở người, còn serotype 9

thì được phân lập từ lợn mắc ở các nước châu Âu (Goyette – Desjardins G. và cs.,

2014) [70]. Kết quả xác định một số serotype của các chủng S. suis phân lập bằng

phản ứng PCR được thể hiện ở hình 3.1.

Ghi chú:

- M: 100 bp marker

- Giếng 1 và 7: serotype 7 (379 bp)

- Giếng 2; 3 và 4: serotype 2 (498

bp)

- Giếng 5 và 6: serotype 9 (303 bp)



Hình 3.5: Kết quả phản ứng PCR xác định serotype của vi khuẩn S. suis

3.2.6. Kết quả xác định gen mã hóa yếu tố độc lực của các chủng vi khuẩn S.

suis phân lập được

Chúng tôi đã sử dụng phản ứng PCR phức hợp (MP – PCR) để nhận biết gen

mã hoá sinh tổng hợp 4 yếu tố liên quan đến độc lực là (EF - epf), (MRP – mrp),

yếu tố gây dung huyết suilysin (SLY - sly) và (ARC - arcA) của 45 chủng thuộc



các serotype 2, 7 và 9 được lựa chọn căn cứ vào các đặc điểm sinh vật, hóa học

từ các chủng vi khuẩn S. suis phân lập ở lợn trên các địa bàn huyện/thành thuộc

tỉnh Thái Nguyên. Kết quả được trình bày ở bảng 3.10.



78

Bảng 3.10: Kết quả xác định gen mã hóa yếu tố độc lực của

các chủng S. suis phân lập được



T

T



Gen mã

hóa độc

lực



1

2

3



SLY – sly

EF – epf

MRP





Serotype 2

Serotype 7

Số

Số

Số

Số

chủng

chủng

chủng

chủn

kiểm

kiểm

(+)

g (+)

tra

tra

24

17

10

6

24

16

10

5

24

19

10

7



Serotype 9

Số

Số

chủng

chủng

kiểm

(+)

tra

11

5

11

5

11

6



Tính chung

Tổng số Tỉ

chủng

lệ

(+)

(%)

28/45

26/45

32/45



62,2

57,7

71,1



34/45



75,5



mrp

4



ARC- arcA



24



22



10



5



11



7



Kết quả ở bảng trên cho thấy trong số các gen mã hóa các yếu tố độc lực có

34/45 chủng mang gen arcA chiếm tỷ lệ cao nhất (75,5%), tiếp đến là 32/45 chủng

mang gen mrp (71,1%), tiếp sau là 28/45 chủng mang gen sly (62,2%) và 26/45

chủng mang gen epf (57,7%). Có 5 kiểu tổ hợp gen mã hóa các yếu tố độc lực được

xác định là: arcA/sly, arcA/mrp, arcA/epf, arcA/mrp/sly và arcA/mrp/sly/epf trong

số 45 chủng S. suis nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với

nghiên cứu của một số tác giả như Đỗ Ngọc Thúy và cs. (2009ª) [31] từ những lợn

khỏe và lợn có triệu chứng viêm phổi, PRRS hoặc viêm khớp, viêm não đã phân

lập được vi khuẩn S. suis với các tỷ lệ khác nhau. Trong 211 chủng S. suis được

nghiên cứu đã xác định được 18 loại serotype, phổ biến là serotype 2, 7 và 9 và 7

kiểu tổ hợp gen độc lực. Nghiên cứu của Cù Hữu Phú và cs. (2013) [24] xác định

serotype và một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn S. suis để chọn chủng chế vaccine

phòng bệnh, cho thấy các chủng thuộc serotype 2 có nhiều kiểu tổ hợp gen nhất,

được phân bố rải rác trong 5 kiểu tổ hợp gen là arcA, arcA/sly; arcA/mrp;

arcA/mrp/sly và arcA/mrp/sly/epf. Kết quả phản ứng MP-PCR xác định gen mã hóa

độc lực của các chủng S. suis phân lập được được trình bày ở hình 3.2.



79

Ghi chú:

M: 100 bp maker

Giếng 1: Gen arcA

Giếng 2: Gen mrp

Giếng 3: Gen sly

Giếng 4: Gen epf



Hình 3.6: Kết quả phản ứng PCR xác định gen mã hóa độc lực của các

chủng S. suis phân lập được

Các chủng S. suis serotype 2 phân bố trong 5 kiểu tổ hợp gen trên được xác

định ở lợn có triệu chứng viêm phổi và viêm khớp tại Thái Nguyên. Khi nghiên cứu

về vai trò gây bệnh của S. suis serotype 2, nhiều nhà khoa học cho thấy chủ yếu là

do kháng nguyên vỏ polysaccharide (CPS) (Fittipaldi N. Và cs, 2012) [63], các

protein có liên quan đến độc lực như protein giải phóng muramidase MRP và yếu

tố ngoại bào EF, hemolysin hoặc suilysin và một số yếu tố bám dính khác. Trong

đó, CPS đóng vai trò quan trọng nhất do có khả năng kháng lại đại thực bào, gây

nhiễm trùng. Vi khuẩn S. suis sau khi xâm nhập vào hạch amidan, di chuyển theo

hệ lâm ba tới hạch dưới hàm, cư trú ở các mô và nhân lên trong tế bào monocyte,

vào xoang dịch não tủy gây viêm màng não, hoặc qua nhiễm trùng huyết để xâm

nhập vào màng não, khớp xương và các mơ khác (Doran K.S. và cs., 2016) [60].

Nhiều lồi Streptococcus có giáp mơ, bản chất là polysaccharide (capsular

polysaccharide – CPS) được coi là một yếu tố độc lực quan trọng của vi khuẩn.

Streptococcus do sinh ra men streptokinaza và streptodoARNza diệt bạch cầu,

hyaluroridaza phân hủy acid hyaluronic gây nhão mô (Segura M. Và cs., 2017)

[113].

Yếu tố gây dung huyết SLY là yếu tố độc lực quan trọng của S. suis mặc dù

có hoạt tính thấp ở các chủng phân lập ở Bắc Mỹ, nhưng rất nhiều chủng S. suis



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.8: Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của các

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×