Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.4: Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm phổi, viêm khớp theo lứa tuổi

Bảng 3.4: Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm phổi, viêm khớp theo lứa tuổi

Tải bản đầy đủ - 0trang

65

Kết quả ở bảng 3.4 cho thấy, đàn lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên mắc và chết

do viêm phổi, viêm khớp có tỷ lệ khác nhau giữa các lứa tuổi. Với viêm phổi thì

lợn ở lứa tuổi sau cai sữa (>1 - 3 tháng tuổi) có tỷ lệ mắc cao nhất (16,79%); tiếp

sau là lợn con (dưới 1 tháng tuổi) tỷ lệ 15,47% và thấp nhất là lợn hậu bị, lợn nái

sinh sản (8,18%). Tỷ lệ lợn chết do viêm phổi cũng cao nhất là ở lợn sau cai sữa,

tiếp sau là lợn con và thấp nhất là ở lợn hậu bị, lợn nái (tương ứng là 15,35; 14,11

và 5,31%). Đối với viêm khớp, tỷ lệ lợn mắc cao nhất ở lợn sau cai sữa (16,02%),

tiếp sau là lợn con dưới 1 tháng tuổi (12,02%) và thấp nhất là lợn hậu bị, lợn nái

(3,04%). Tỷ lệ lợn chết do viêm khớp cao nhất là ở lợn sau cai sữa, tiếp sau là lợn

con và thấp nhất là ở lợn hậu bị, lợn nái (tương ứng là 7,81; 6,79 và 2,85%). Qua

điều tra cho thấy nguyên nhân là do ở các địa điểm trên thuộc tỉnh Thái Nguyên

chăn nuôi lợn quy mơ còn nhỏ, chủ yếu ở hộ gia đình, điều kiện chăm sóc, ni

dưỡng, vệ sinh… còn hạn chế nên tình hình bệnh vẫn thường xuyên xảy ra. Kết quả

nghiên cứu của Dutkiewicz J. và cs. (2017) [58] cũng cho thấy trong đàn lợn mắc

bệnh liên cầu khuẩn thì đa số lợn bị mắc trong giai đoạn từ 5 đến 10 tuần tuổi, ít

lợn bị mắc trên 32 tuần tuổi hoặc sau khi sinh vài giờ.

Theo Higgins R. và Gottschalk M. (2006) [77] tỷ lệ lợn nhiễm S. suis cũng

được phát hiện ở các lứa tuổi khác nhau, cao nhất ở nhóm tuổi sau cai sữa từ 4 đến

10 tuần tuổi. Trong đàn có thể tới 80% số lợn nái nhiễm S. suis nhưng không thể

hiện triệu chứng bệnh, chúng tồn tại ở hạch amidan của lợn trong thời gian dài, hơn

một năm, ngay cả khi có các yếu tố thực bào, kháng thể và bổ sung kháng sinh phù

hợp trong thức ăn. Điều này cho thấy vi khuẩn S. suis mang tính dịch địa phương ở

một số đàn nhưng khơng có biểu hiện bệnh lý lâm sàng Trong những trang trại chăn

nuôi lợn tập trung với mật độ cao, bệnh do vi khuẩn S. suis gây ra rất phổ biến. Lợn

nhiễm S. suis khi nuôi chung với những lợn khoẻ khác sẽ làm lây lan mầm bệnh

trong đàn. Ở một số trang trại đã xác định đàn lợn nhiễm S .suis có khi gần đến

100% và tỷ lệ lợn phát bệnh thay đổi theo lứa tuổi, mức độ vệ sinh, chăm sóc ni

dưỡng… thường là khoảng 15,0%. Kết quả nghiên cứu của Marois C. và cs. (2007)

[95] cho thấy hầu hết lợn sau cai sữa đều có nhiễm các chủng vi khuẩn S. suis

nhưng chỉ có một số trong các chủng này có khả năng gây bệnh cho lợn giai đoạn



66

sau đó và lợn con theo mẹ có thể nhiễm một số chủng vi khuẩn S. suis trong cơ thể

nhưng thường thấy chủng serotype 2 gây bệnh là chủ yếu.

Lợn mẹ mắc bệnh liên cầu khuẩn là một trong những nguồn truyền vi khuẩn

S. suis sang con. Vi khuẩn có thể truyền bệnh trực tiếp từ lợn nhiễm S. suis hoặc lợn

bệnh sang lợn khỏe, từ con khoẻ này truyền cho lợn khác có thể xảy ra trong vòng

5 - 6 ngày sau khi nhốt chung. Việc đưa những lợn nái hậu bị từ đàn nhiễm bệnh có

thể gây bệnh cho lợn con theo mẹ và lợn sau cai sữa ở đàn tiếp nhận (Hoa N.T. và

cs., 2011) [78]. Bệnh còn có thể lây qua viêm phổi, là đường truyền lây có ý nghĩa

quan trọng do số lượng vi khuẩn thải ra môi trường nhiều. Bệnh liên cầu khuẩn lây

lan trong đàn chủ yếu do sự tiếp xúc giữa lợn khỏe và lợn bệnh, lợn mẹ mắc bệnh

sẽ truyền sang cho lợn con. Ngồi ra, bệnh có thể truyền lây qua dụng cụ chăn nuôi

và một số nhân tố trung gian như ruồi, một số loài chim, chuột... và vật mang trùng

khác (Huong V.T.L và cs., 2014) [80]. Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm phổi, viêm

khớp theo các lứa tuổi của lợn được thể hiện ở hình 3.4.



Hình 3.4. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do viêm phổi, viêm khớp

theo lứa tuổi của lợn

3.2. Kết quả nghiên cứu một số đặc tính sinh học của các chủng S. suis

phân lập được

3.2.1. Kết quả phân lập vi khuẩn S. suis từ lợn mắc viêm phổi và viêm khớp tại

Thái Nguyên

Tiến hành phân lập vi khuẩn S. suis từ các mẫu bệnh phẩm là dịch cuống

họng, phổi, dịch ổ khớp của lợn ở các lứa tuổi khác nhau theo bốn nhóm tuổi (loại

lợn) bị mắc viêm phổi và viêm khớp tại các huyện, thành thuộc tỉnh Thái Nguyên

để xác định tỷ lệ nhiễm vi khuẩn S. suis giữa các lứa tuổi. Kết quả được trình bày ở

bảng 3.5.



67

Bảng 3.5: Kết quả phân lập vi khuẩn S. suis từ lợn mắc viêm phổi và viêm

khớp ở các lứa tuổi khác nhau

Số mẫu



Số

mẫu



Tỷ



kiểm tra



lệ



Tính

chung



(+)



(%)



(%)



Dịch họng



37



16



43,24



Phổi



35



18



51,42



Dịch ổ khớp



35



15



42,85



Lợn sau cai

Dịch họng

sữa

Phổi

(> 1 – 3 tháng)

Dịch ổ khớp



44



25



56,81



43



31



72,09



42



20



47,61



Dịch họng

Lợn thịt

(> 3 – 6 tháng) Phổi



37



18



48,64



36



25



69,44



Dịch ổ khớp



35



14



40,00



Lợn hậu bị,



Dịch họng



23



11



47,82



lợn nái

(≥ 7 tháng)



Phổi



20



13



65,00



Dịch ổ khớp



16



6



37,50



403



212



52,60



Lứa tuổi lợn

TT



(tháng tuổi)



1



Lợn con

( ≤ 1 tháng)



2



3



4



Mẫu bệnh

phẩm



Tính chung



45,79



58,91



52,77



50,84



Kết quả ở bảng 3.5 cho thấy trong 403 mẫu bệnh phẩm từ lợn mắc viêm phổi

và viêm khớp ở các lứa tuổi đã có 212 mẫu phân lập được vi khuẩn S. suis với tỷ lệ

là 52,60%; trong đó cao nhất là ở lợn sau cai sữa (58,91%) và thấp nhất là ở lợn

con dưới 1 tháng tuổi (45,79%). Tỷ lệ lợn con sau cai sữa (>1 - 3 tháng tuổi) bị

mắc bệnh S. suis cao hơn lợn con dưới 1 tháng tuổi, lợn thịt và lợn nái là do trên địa

bàn tỉnh Thái Nguyên các trang trại chăn nuôi thường cai sữa cho lợn con trước 30

ngày tuổi, do đó lợn con sau cai sữa (>1 - 3 tháng tuổi) thường bị tác động của các

hiện tượng stress như cai sữa, thức ăn mới, tách nhập đàn, chuyển chuồng mới...

làm giảm sức đề kháng của cơ thể và tăng sự cảm nhiễm với mầm bệnh.

Kết quả của chúng tôi tương đồng với kết quả phân lập S. suis từ mẫu bệnh

phẩm của lợn mắc PRRS tại Bắc Giang (51,67%) của Trương Quang Hải và cs.

(2012) [6] là 51,67%; của Lê Văn Dương và cs. (2013) [3] là 55,10%, nhưng cao hơn



68

với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2016 [16], 2017 [17) khi

phân lập vi khuẩn gây viêm phổi ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh từ phổi và hạch cuống họng

của lợn thấy tỷ lệ phân lập được S. suis là 38,67% và ở lợn nuôi tại tỉnh Tuyên

Quang là 13,0%. Kết quả khảo sát của Lê Hồng Thủy Tiên và cs. (2018) [34] về tỷ lệ

nhiễm S. suis trên lợn khỏe các lứa tuổi khác nhau ở miền Đông Nam Bộ cũng cho

thấy liên cầu khuẩn S. suis là tác nhân cơ hội gây bệnh viêm khớp, viêm phổi, màng

não, nhiễm trùng máu ở lợn, đặc biệt là S. suis serotype 2. Đã phân lập và xác định

được tỷ lệ lợn khỏe tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai và Bình Dương

nhiễm S. suis là 12,05%. Tỷ lệ nhiễm cao nhất là nhóm lợn con theo mẹ (26,61%),

tiếp theo là lợn con cai sữa (9,55%), lợn nái (9,09%) và thấp nhất là nhóm lợn thịt

(4,55%). Lợn khỏe nhiễm S.suis được tìm thấy ở tất cả ba tỉnh/thành đã khảo sát với

tỷ lệ là 90,91%.

Tỷ lệ phân lập vi khuẩn S. suis ở lợn tại tỉnh Thái ngun cho thấy vi khuẩn

này đã có vai trò quan trọng gây viêm phổi và viêm khớp ở lợn những năm qua trên

địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

3.2.2. Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi

khuẩn S. suis phân lập được

Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật, hóa học của 168 chủng S.suis đã

chọn lọc được trình bày ở bảng 3.6.

Kết quả ở bảng 3.6 cho thấy, tất cả các chủng vi khuẩn S. suis giám định

được đều mang các đặc tính sinh học đặc trưng của vi khuẩn S. suis như Nguyễn

Quang Tuyên (2008) [39], Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN 8400-2:2010) [36] đã mô

tả. Cụ thể là tất cả các chủng S. suis được kiểm tra đều có hình cầu hoặc bầu dục,

xếp thành chuỗi dài ngắn khác nhau và bắt màu Gram dương. Trên môi trường

MacConkey vi khuẩn mọc tốt và tạo thành các khuẩn lạc màu trắng trong, lồi, nhỏ

như đầu đinh ghim. Vi khuẩn S. suis phát triển trên mơi trường thạch máu hình

thành các khuẩn lạc nhỏ, hơi lồi, màu trắng trong và gây dung huyết kiểu α, β.

Trong mơi trường canh thang có 6,5% NaCl thấy 100% chủng vi khuẩn S. suis

không mọc. Với phản ứng phân hủy arganin thì 100% số chủng kiểm tra cho kết

quả dương tính. Trong các mơi trường đường: có 100% các chủng lên men đường



69

glucose, inulin, salicin, lactose, sucarose và 95,2% lên men đường trehalose. Với

glycerol, mannitol, sorbitol thì 100% chủng vi khuẩn S. suis khơng lên men. Đặc

biệt, 100% các chủng S. suis kiểm tra đều cho kết quả âm tính với các phản ứng

Catalase, Indol, Oxidase và Voges Proskauer (VP).

Bảng 3.6: Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các

chủng S. suis phân lập được

Tiêu chuẩn

TT



Đặc tính



sinh học

của S. suis



Số chủng



Số chủng



Tỷ lệ



kiểm tra



dương tính



(%)



1



Gram dương



+



168



168



100



2



Dung huyết



+



168



168



100



3



MacConkey



+



168



168



100



4



NaCl 6,5%



-



168



0



0



5



Catalase



-



168



0



0



6



Indol



-



168



0



0



7



Oxydase



-



168



0



0



8



P/ứng VP



-



168



0



0



9



Glucose



+



168



168



100



10



Arginin



+



168



168



100



11



Inulin



+



168



168



100



12



Salicin



+



168



168



100



13



Lactose



+



168



168



100



14



Sucarose



+



168



168



100



15



Trehalose



+



168



160



95,2



16



Glycerol



-



168



0



0



17



Mannitol



-



168



0



0



18



Sorbitol



-



168



0



0



70

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu của một số tác

giả trong nước về đặc tính sinh vật, hóa học của vi khuẩn S. suis phân lập được từ

lợn, Trịnh Phú Ngọc (2002) [12] đã xác định một số đặc tính sinh vật và độc lực

của vi khuẩn S. suis gây bệnh ở lợn tại một số tỉnh phía Bắc, kết quả của Trương

Quang Hải và cs. (2012) [6], Lê Văn Dương và cs. (2013) [3] đã xác định một số

đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn S. suis phân lập được ở lợn mắc

viêm phổi tại tỉnh Bắc Giang. Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2016 [16], (2017) [17]

đã giám định đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng S. suis phân lập được từ lợn

ở tỉnh Bắc Ninh và Tuyên Quang. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng

với kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, đó là tất cả các chủng vi khuẩn S. suis

được kiểm tra đều khơng mọc trong mơi trường canh thang có 6,5% NaCl. Có

100% các chủng lên men đường glucose, galactose, lactose, maltose và 96,55% đến

96,77% số chủng lên men đường trehalose; với đường mannit, mannitol, sorbitol

thì khơng có chủng nào lên men và 100% các chủng S. suis đều cho kết quả âm tính

với các phản ứng Indol, Catalase, Oxidase.

Như vậy các chủng vi khuẩn S. suis phân lập từ lợn tại Thái Nguyên được

kiểm tra đều mang các đặc tính sinh học đặc trưng của vi khuẩn S. suis như các tài

liệu trong và ngồi nước đã mơ tả.

3.2.3. Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hoá học của các chủng vi

khuẩn S. suis phân lập được bằng bộ Kit sinh hóa API 20 Strep

Các chủng S. suis phân lập được sau khi đã được kiểm tra các đặc tính ni

cấy, hình thái, sinh hóa...đáp ứng đủ yêu cầu về đặc điểm sinh vật, hóa học (phản

ứng nhận biết cấp I), tiếp tục được tiến hành kiểm tra qua các phản ứng của bộ Kit

sinh hóa API 20 Strep (phản ứng nhận biết cấp II) là bộ Kit định danh vi khuẩn

gồm các phản ứng sinh hoá đã được chế tạo sẵn. Kết quả thu được trình bày ở bảng

3.7.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.4: Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm phổi, viêm khớp theo lứa tuổi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×