Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
sau tiêm Autovaccine 120 ngày

sau tiêm Autovaccine 120 ngày

Tải bản đầy đủ - 0trang

103

Kết quả bảng 3.28 cho thấy ở lơ thí nghiệm tiêm Autovaccine có 35/35 lợn

(tỷ lệ 100%) kháng thể tương ứng với các thành phần vi khuẩn là S. suis serotype 2,

7 và 9. Trong khi đó ở lơ đối chứng cả 5/5 lợn đều khơng có kháng thể kháng lại

những chủng vi khuẩn này.

Kết quả xác định hiệu giá kháng thể ở lợn sau khi tiêm Autovaccine 120

ngày được trình bày ở bảng 3.29.

Bảng 3.29: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể của lợn thí nghiệm

sau tiêm Autovaccine 120 ngày

Hiệu giá kháng thể

Kháng

nguyên

dùng kiểm

tra



Số lợn

kiểm tra

MHT

(con)



1/8



1/16



1/32



Số

mẫu

(+)



Tỷ

lệ

(%)



Số

mẫu

(+)



Tỷ

lệ

(%)



1/64



Số

Tỷ lệ

mẫu

(%)

(+)



Số

mẫ

u

(+)



Tỷ lệ

(%)



S. suis



TN



35



35



100



24



68,5



10



28,5



0



0



serotype 2



ĐC



5



0



0



0



0



0



0



0



0



S. suis



TN



35



35



100



22



62,8



8



22,8



0



0



serotype 7



ĐC



5



0



0



0



0



0



0



0



0



S. suis



TN



35



35



100



23



65,7



9



25,7



0



0



serotype 9



ĐC



5



0



0



0



0



0



0



0



0



Kết quả ở bảng 3.29 cho thấy, sau khi tiêm Autovaccine thử nghiệm vào thời

điểm sau tiêm 120 ngày đã có sự giảm rõ rệt về hiệu giá kháng thể ở lợn so với

những lần kiểm tra trước. Hiệu giá kháng thể ở lợn thí nghiệm chỉ còn từ 1/8 đến

1/32 với các thành phần vi khuẩn S. suis serotype 2, 7 và 9. Kết quả hiệu giá ngưng

của kháng thể với từng loại kháng nguyên kiểm tra như sau:

- Với kháng nguyên serotype 2: Ở hiệu giá 1/8 có 35/35 lợn kiểm tra đạt

hiệu giá kháng thể ngưng kết (tỷ lệ 100%). Tuy nhiên, từ hiệu giá 1/16 đến 1/64

chúng tôi thấy tỷ lệ ngưng kết của kháng thể trong huyết thanh lợn thí nghiệm có sự

giảm rõ rệt, cụ thể ở hiệu giá 1/16 có 24/35 lợn kiểm tra đạt hiệu giá ngưng kết



104

(chiếm tỷ lệ 68,5%) giảm 25,7% so với đợt kiểm tra lần 3; ở hiệu giá 1/32 chỉ còn

10/35 lợn kiểm tra đạt hiệu giá ngưng kết (chiếm tỷ lệ 28,5%). Còn ở hiệu giá 1/64

thì khơng có lợn nào kiểm tra có kháng thể ngưng kết ở hiệu giá này.

- Với kháng nguyên serotype 7: Ở hiệu giá 1/8 có 35/35 lợn kiểm tra đạt

hiệu giá kháng thể ngưng kết (tỷ lệ 100%). Từ hiệu giá 1/16 đến 1/64 chúng tôi

thấy tỷ lệ ngưng kết của kháng thể trong huyết thanh lợn thí nghiệm giảm rõ rệt, cụ

thể ở hiệu giá 1/16 có 22/35 lợn kiểm tra đạt hiệu giá ngưng kết (chiếm tỷ lệ

62,8%) giảm 25,7% so với đợt kiểm tra lần 3; ở hiệu giá 1/32 chỉ còn 8/35 lợn kiểm

tra đạt hiệu giá ngưng kết (chiếm tỷ lệ 22,8%). Còn ở hiệu giá 1/64 thì cũng khơng

có lợn nào kiểm tra có kháng thể ngưng kết ở hiệu giá này.

- Với kháng nguyên serotype 9: Ở hiệu giá 1/8 có 35/35 lợn kiểm tra đạt

hiệu giá kháng thể ngưng kết (tỷ lệ 100%). Từ hiệu giá 1/16 đến 1/64 chúng tôi

thấy tỷ lệ ngưng kết của kháng thể trong huyết thanh lợn thí nghiệm giảm rõ rệt, cụ

thể ở hiệu giá 1/16 có 23/35 lợn kiểm tra đạt hiệu giá ngưng kết (chiếm tỷ lệ

65,7%) giảm 25,72% so với đợt kiểm tra lần 3; ở hiệu giá 1/32 chỉ còn 9/35 lợn

kiểm tra đạt hiệu giá ngưng kết (chiếm tỷ lệ 25,7%). Còn ở hiệu giá 1/64 thì cũng

khơng có lợn nào kiểm tra có kháng thể ngưng kết ở hiệu giá này.

Tổng hợp các kết quả về đáp ứng miễn dịch ở lợn được tiêm Autovaccine

chế tạo với ba loại kháng nguyên serotype 2; 7 và 9 đã trình bày ở các bảng trên

cho thấy, tỷ lệ lợn thí nghiệm có đáp ứng miễn dịch chung với cả ba loại kháng

nguyên này tăng dần ở thời điểm sau tiêm từ 30 đến 60 ngày và duy trì đến thời

điểm sau tiêm 90, từ 90 ngày trở đi thì lượng kháng thể trong máu lợn giảm dần.

Từ các kết quả ban đầu như trên và áp dụng tiêu chuẩn của Quy trình đánh

giá vaccine của Tổ chức Thú y thế giới (OIE-2018) [132] vaccine có hiệu lực khi

hiệu giá ngưng kết phải đạt ≥ 1/16 sau tiêm 4 tháng, chúng tơi có nhận xét:

Autovaccine chế tạo từ các thành phần kháng nguyên vi khuẩn S. suis serotype 2, 7

và 9 bước đầu đã đạt được yêu cầu kích thích sản sinh kháng thể tốt đối với lợn thí

nghiệm, miễn dịch tạo ra với mức đạt yêu cầu của một Autovaccine.



105

3.4. Kết quả thử nghiệm biện pháp phòng và trị viêm phổi, viêm khớp cho lợn

do S. suis gây ra

3.4.1. Kết quả xác định hiệu lực của Autovaccine phòng viêm phổi và viêm khớp cho lợn

Để xác định hiệu lực của Autovaccine chế tạo phòng viêm phổi, viêm khớp

trên đàn lợn nuôi tại Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành so sánh số lượng lợn có triệu

chứng mắc viêm phổi, viêm khớp ở lợn được tiêm Autovaccine với lợn khơng tiêm

Autovaccine.

Thử nghiệm Autovaccine phòng bệnh viêm phổi, viêm khớp cho lợn được

triển khai ở một số trang trại, gia trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Phú Bình,

khu vực thị xã Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên. Chúng tôi triển khai tiêm

Autovaccine cho lợn ở lứa tuổi từ 2 -3 tháng tuổi, đồng thời cũng lựa chọn lợn cùng

lứa tuổi trên để so sánh hiệu lực giữa lợn được tiêm và không được tiêm

Autovaccine. Số lợn trên đều được nuôi trong cùng thời điểm tại những địa điểm

trên, tương đối đồng đều về các điều kiện yếu tố ngoại cảnh và chăm sóc ni

dưỡng... Kết quả được trình bày ở bảng 3.30.

Bảng 3.30: Kết quả thử nghiệm Autovaccine phòng viêm phổi

và viêm khớp do S. suis cho lợn nuôi tại Thái Nguyên



Nội dung



Tiêm

Autovaccine



Viêm khớp



Số

mắc

(con)



Tỷ lệ

(%)



Số

mắc

(con)



Tỷ lệ

(%)



H. Phú Bình



760



45



5,92



31



4,07



H. Phổ Yên



750



41



5,46



27



3,60



Tp. Thái Nguyên



680



31



4,55



21



3,08



2.190



117



5,34



79



3,60



H. Phú Bình



810



156



19,25



105



12,96



H. Phổ Yên



730



147



20,13



101



13,83



Tp. Thái Nguyên



690



126



18,26



89



12,89



2.230



429



19,23



295



13,22



Địa điểm

(huyện/thành)



Cộng

Không tiêm

Autovaccine



Viêm phổi



Số lợn

theo

dõi

(con)



Cộng



106

Qua bảng 3.30 cho thấy lợn được tiêm phòng Autovaccine có tỷ lệ mắc viêm

phổi, viêm khớp thấp hơn hẳn so với lợn không được tiêm phòng. Lợn được tiêm

Autovaccine có 117 con mắc viêm phổi, chiếm tỷ lệ 5,34% ; trong khi lợn không

tiêm phòng là 429 con, chiếm tỷ lệ 19,23%. Với viêm khớp thì lợn tiêm

Autovaccine thử nghiệm có 79 con mắc, chiếm tỷ lệ 3,60%, trong khi lợn khơng

tiêm có 295 con mắc, chiếm tỷ lệ 13,22%.

Áp dụng cơng thức tính tỷ lệ hiệu lực tiêm phòng vaccine của Halloran và

cs. (1997) [72], chúng tơi tính được tỷ lệ hiệu lực của Autovaccine thử nghiệm

phòng viêm phổi là 72,24% và hiệu lực phòng viêm khớp là 72,76%.

Kết quả trên cho thấy Autovaccine thử nghiệm phòng viêm phổi và viêm khớp

được chế tạo từ các chủng S. suis serotype 2, 7 và 9 phân lập được lựa chọn dùng

phòng bệnh cho lợn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên bước đầu đã có hiệu lực phòng

bệnh tốt, có khả năng kích thích lợn sản sinh kháng thể, tạo được đáp ứng miễn

dịch, đạt hiệu lực phòng bệnh cao từ 72,23% đến 72,76%. Như vậy, việc sử dụng

Autovaccinne thử nghiệm phòng viêm phổi và viêm khớp cho đàn lợn tại Thái

Nguyên là phù hợp trong cơng tác phòng chống và hạn chế thấp tỷ lệ bệnh do vi khuẩn

S. suis gây ra.

Từ kết quả nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm Autovaccine từ các chủng vi

khuẩn S.suis phân lập được, chúng tơi có một số nhận xét như sau:

- Autovaccine thử nghiệm phòng viêm viêm phổi và viêm khớp cho lợn

được chế tạo từ các chủng vi khuẩn S. suis serotype 2, 7 và 9 phân lập đã có tác

dụng kích thích hình thành kháng thể tốt ở lợn được tiêm.

- Autovaccine thử nghiệm đã có khả năng tạo đáp ứng miễn dịch với

hiệu giá kháng thể ở lợn trong 90 ngày sau khi tiêm đạt tới 1/64 và kéo dài trên

120 ngày sau tiêm.

- Hiệu lực phòng viêm phổi và viêm khớp của Autovaccine thử nghiệm cho

lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên đạt tương ứng là 72,23% và 72,76%.



107

3.4.2. Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị lợn mắc viêm phổi và viêm khớp

Dựa vào kết quả kháng sinh đồ, chúng tơi chọn 3 loại kháng sinh có độ mẫn

cảm mạnh với các chủng vi khuẩn S. suis phân lập và xây dựng 3 phác đồ điều trị

lợn mắc bệnh. Kết quả điều trị lợn mắc viêm phổi và viêm khớp được thể hiện ở

bảng 3.31 và 3.32.

Bảng 3.31: Kết quả điều trị thử nghiệm lợn mắc viêm phổi

Phá

c đồ



Loại thuốc



CEFANEW- LA

(ceftiofur:10g/100ml)

1

Gluco-K-C-Namin



MARFLO - 45%

(florfenicol:45g/100ml)

2

Gluco-K-C-Namin



MARPHAMOX - LA

(amoxicillin:15g/100ml)

3

Gluco-K-C-Namin

Tính chung



Liều lượng

và cách dùng

1ml/25kg

TT/ngày (4mg

ceftiofur /kgTT),

tiêm 1

lần/3 ngày

1ml/10kg

TT/ngày,

tiêm 1 lần/ngày

1ml/30kg

TT/ngày (15mg

florfenicol/kg

TT), tiêm

1 lần/3 ngày

1ml/10kg

TT/ngày, tiêm 1

lần/ngày

1ml/10kg

TT/ngày (15mg

amoxicillin

/kgTT), tiêm 1

lần/2 ngày

1ml/10kg

TT/ngày; tiêm 1

lần/ngày



Số

lợn

điều

trị

(con)



Ngày

điều

trị

X + mx



Số

khỏi

bệnh

(con

)



Tỷ

lệ

(%)



85





0,15



79



92,94



75





0,13



68



90,66



80





0,16



71



87,50



217



90,41



240



108

Qua bảng 3.31 cho thấy, điều trị thử nghiệm cho lợn mắc viêm phổi sử dụng

3 loại thuốc kháng sinh ở 3 phác đồ là:

- Phác đồ 1: CEFANEW - LA có thành phần là ceftiofur (10 g/100 ml), tiêm

bắp với liều lượng 1 ml/25 kg thể trọng, tương ứng là 4 mg/ kg thể trọng, thuốc tác

dụng kéo dài 72 giờ, cứ 3 ngày tiêm 1 lần.

- Phác đồ 2: Marflo-45% có thành phần là florfenicol (45 g/100 ml), tiêm

bắp với liều lượng 1 ml/30 kg thể trọng, tương ứng là 15 mg/ kg thể trọng, thuốc

tác dụng kéo dài 72 giờ, 3 ngày tiêm 1 lần.

- Phác đồ 3: Marphamox - LA có thành phần là amoxicillin (15 g/100 ml),

tiêm bắp với liều lượng 1 ml/10 kg thể trọng, tương ứng là 15 mg/ kg thể trọng,

thuốc tác dụng kéo dài 48 giờ, 2 ngày tiêm 1 lần.

Đồng thời trong q trình điều trị ở cả ba phác đồ còn bổ sung thêm GlucoK-C-Namin để tăng cường sức đề kháng cho lợn, tiêm bắp 3 ngày/1 lần.

Kết quả thu được như sau:

- Phác đồ 1: Sử dụng CEFANEW - LA với liều lượng là 1 ml/25 kg TT điều

trị cho 85 con lợn mắc viêm phổi, kết quả khỏi bệnh 79 con, đạt tỷ lệ là 92,94%,

thời gian điều trị trong khoảng 6 ngày.

- Phác đồ 2: Sử dụng Marflo - 45% với liều lượng là 1 ml/30 kg TT điều trị

cho 75 con lợn mắc viêm phổi, kết quả khỏi bệnh 68 con, đạt tỷ lệ 90,66%, thời

gian điều trị trong khoảng 7 ngày.

- Phác đồ 3: Sử dụng Marphamox - LA với liều lượng 1 ml/10 kg TT điều

trị cho 80 con lợn mắc viêm phổi, kết quả khỏi bệnh 70 con, đạt tỷ lệ 87,50%, thời

gian điều trị trong khoảng 8 ngày.

Như vậy, ba phác đồ điều trị thử nghiệm cho lợn mắc viêm phổi đều có kết

quả tốt, tỷ lệ lợn khỏi bệnh cao, trong 240 lợn mắc viêm phổi được điều trị, kết quả

có 217 con khỏi bệnh, đạt tỷ lệ 90,41%.

Để thử nghiệm điều trị viêm khớp cho lợn, chúng tôi cũng sử dụng 3 phác đồ

giống như điều trị viêm phổi cho lợn. Kết quả được trình bày ở bảng 3.32.



109

Bảng 3.32: Kết quả điều trị thử nghiệm lợn mắc viêm khớp

Phác

đồ



1



2



3



Loại thuốc



Liều lượng

và cách dùng



1ml/25kg

TT/ngày (4mg

CEFANEW- LA

ceftiofur

(ceftiofur:10g/100ml)

/kgTT), tiêm 1

lần/3 ngày

1ml/10kg

Gluco-K-C-Namin

TT/ngày,

tiêm 1 lần/ngày

1ml/30kg

TT/ngày (15mg

MARFLO - 45%

florfenicol/kg

(florfenicol:45g/100ml)

TT), tiêm 1

lần/3 ngày

1ml/10kg

Gluco-K-C-Namin

TT/ngày, tiêm 1

lần/ngày

1ml/10kg

TT/ngày (15mg

MARPHAMOX - LA

amoxicillin

(amoxicillin:15g/100ml)

/kgTT), tiêm 1

lần/2 ngày

1ml/10kg

Gluco-K-C-Namin

TT/ngày; tiêm 1

lần/ngày

Tính chung



Số Ngày

Số

lợn

điều

khỏi

điều

trị

bệnh

trị

X + m x (con)

(con)



Tỷ

lệ

(%)



55





0,10



50



91,90



58





0,17



52



89,65



55





0,13



47



85,45



149



88,69



168



Qua bảng 3.32 chúng tôi thấy điều trị cho lợn mắc viêm khớp sử dụng các

loại thuốc kháng sinh và phác đồ là:

- Phác đồ 1: CEFANEW - LA có thành phần là ceftiofur (10 g/100 ml), tiêm

bắp với liều lượng 1 ml/25 kg thể trọng, tương ứng là 4 mg/ kg thể trọng, thuốc tác

dụng kéo dài 72 giờ, cứ 3 ngày tiêm 1 lần.

- Phác đồ 2: Marflo-45% có thành phần là florfenicol (45 g/100 ml), tiêm

bắp với liều lượng 1 ml/30 kg thể trọng, tương ứng là 15 mg/ kg thể trọng, thuốc

tác dụng kéo dài 72 giờ, 3 ngày tiêm 1 lần.



110

- Phác đồ 3: Marphamox - LA có thành phần là amoxicillin (15 g/100 ml),

tiêm bắp với liều lượng 1 ml/10 kg thể trọng, tương ứng là 15 mg/ kg thể trọng,

thuốc tác dụng kéo dài 48 giờ, 2 ngày tiêm 1 lần.

Đồng thời trong quá trình điều trị ở cả ba phác đồ còn bổ sung thêm GlucoK-C-Namin để tăng cường sức đề kháng cho lợn, tiêm bắp 3 ngày/1 lần.

Kết quả thu được như sau:

- Phác đồ 1: Sử dụng CEFANEW - LA với liều lượng là 1 ml/25 kg TT điều

trị cho 55 con lợn mắc viêm khớp, kết quả khỏi bệnh 50 con, đạt tỷ lệ là 91,90%,

thời gian điều trị trong khoảng 7 ngày.

- Phác đồ 2: Sử dụng Marflo - 45% với liều lượng là 1 ml/30 kg TT điều trị

cho 58 con lợn mắc viêm khớp, kết quả khỏi bệnh 52 con, đạt tỷ lệ 89,65%, thời

gian điều trị trong khoảng 8 ngày.

- Phác đồ 3: Sử dụng Marphamox - LA với liều lượng 1 ml/10 kg TT điều

trị cho 55 con lợn mắc viêm khớp, kết quả khỏi bệnh 47 con, đạt tỷ lệ 85,45%, thời

gian điều trị trong khoảng 8 ngày.

Như vậy, ba phác đồ điều trị thử nghiệm cho lợn mắc viêm khớp đều có kết

quả tốt, tỷ lệ lợn khỏi bệnh cao, trong 168 lợn mắc viêm khớp được điều trị, có 149

con khỏi bệnh, đạt tỷ lệ 88,69%.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu và nhận định của

một số tác giả như Seitz M và cs. (2016) [108] cho thấy amoxicillin, ceftiofur,

florfenicol, gentamicin, ampicillin kết hợp với sulfonamide là những sản phẩm

kháng khuẩn hữu ích để điều trị bệnh liên cầu khuẩn ở lợn; với nghiên cứu của

Haas B. và cs. (2017) [71] thì tính nhạy cảm với kháng sinh của các serotype liên

cầu khuẩn S. suis gây bệnh phổ biến trên lợn có thể khác nhau giữa các vùng địa lý.

Tuy nhiên, để lựa chọn loại kháng sinh sử dụng điều trị hiệu quả bệnh do S. suis

gây ra thì cần thiết phải căn cứ vào tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi

khuẩn S. suis tại vùng đó.

Từ kết quả thử nghiệm các phác đồ trên để điều trị cho lợn mắc viêm phổi,

viêm khớp đều cho kết quả tốt và hiệu quả điều trị cao, chúng tôi đã khuyến cáo

cho các cán bộ làm công tác thú y và người chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thái



111

Nguyên áp dụng khi điều trị lợn mắc viêm phổi, viêm khớp. Trong đó, cần lựa chọn

sử dụng phác đồ 1 có thành phần kháng sinh là ceftiofur sẽ cho hiệu quả cao hơn.

Việc xây dựng thành công ba phác đồ điều trị như trên đã tạo điều kiện cho người

chăn nuôi và cán bộ thú y tại Thái Nguyên chủ động phòng, trị bệnh viêm phổi,

viêm khớp ở lợn để giảm thiệt hại và tăng thu nhập cho người chăn nuôi, cung cấp

sản phẩm chăn ni an tồn cho người tiêu dùng, góp phần phát triển bền vững

ngành chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.



112

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1. KẾT LUẬN

Từ những kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tơi có một số kết luận sau:

1.1. Đàn lợn ni trên địa bàn tỉnh Thái Ngun có tỷ lệ mắc và chết do

viêm phổi, viêm khớp khá cao, trung bình do viêm phổi là 14,17% và chết là

12,91%; do viêm khớp là 11,13% và chết là 6,85%, chủ yếu ở những nơi có nhiều

trang trại chăn ni tập trung, trong đó cao nhất là ở huyện Phú Bình và Phổ Yên.

- Lợn mắc và chết do viêm phổi có tỷ lệ cao nhất là ở lứa tuổi sau cai sữa

(16,79 và 15,35%) và thấp nhất ở lợn hậu bị, lợn nái (8,18 và 5,31%). Tỷ lệ lợn

mắc và chết do viêm khớp cũng cao nhất ở lợn sau cai sữa (16,02 và 7,81%) và

thấp nhất là lợn hậu bị, lợn nái (3,04 và 2,85%).

1.2. Tỷ lệ phân lập vi khuẩn S. suis từ các mẫu bệnh phẩm lợn mắc viêm

phổi và viêm khớp tại Thái Nguyên là 52,60%; cao nhất là ở lợn sau cai sữa

(58,91%) và thấp nhất là ở lợn con dưới 1 tháng tuổi (45,79%).

- Các chủng vi khuẩn S. suis phân lập được đều mang đặc tính sinh vật, hóa

học đặc trưng của giống, lồi như mơ tả của các tài liệu trong và ngoài nước.

- Các chủng vi khuẩn S. suis phân lập đều mẫn cảm cao với ceftiofur

(84,52%), florfenicol (81,54%), amoxicillin (80,35%).

(16,33%),



Các chủng S. suis phân lập thuộc serotype 2 (58,16%), serotype 9

serotype 7 (7,18%), serotype 29 (2,64%), serotype 21 (1,96%) và số



chủng chưa xác định là 13,72%; các gen mã hóa yếu tố độc lực là arcA, mrp, sly và

epf, được phân bố ở 5 kiểu tổ hợp là arcA/sly, arcA/mrp, arcA/epf, arcA/mrp/sly và

arcA/mrp/sly/epf



- Đã tuyển chọn được 03 chủng vi khuẩn S. suis thuộc serotype



2, 7 và 9 là S.TN2-2, S.TN7-5, S.TN9-7, sau 5 đời cấy truyền đều ổn định về đặc

tính sinh học và có độc lực cao, gây chết 100% chuột bạch thí nghiệm sau tiêm

trong vòng 12-36 giờ, đạt yêu cầu có thể sử dụng làm giống để nghiên cứu chế tạo

Autovaccine.

1.3. Autovaccine thử nghiệm được chế tạo từ các chủng S. suis serotype 2, 7

và 9 (S.TN2-2, S.TN7-5, S.TN9-7) đều đạt các chỉ tiêu về đậm độ, thuần khiết, vơ



113

trùng, an tồn và hiệu lực; kích thích sản sinh miễn dịch tốt đối với lợn thí nghiệm,

hình thành kháng thể ở lợn được tiêm và tạo đáp ứng miễn dịch kéo dài trên 120 ngày.

1.4. Hiệu lực phòng viêm phổi và viêm khớp cho đàn lợn tiêm Autovaccine

thử nghiệm đạt tương ứng là 72,24% và 72,76%.

- Các phác đồ điều trị lợn mắc viêm phổi và viêm khớp tại Thái Nguyên

đều có hiệu quả cao, tỷ lệ lợn khỏi viêm phổi từ 87,50% - 92,94% và viêm khớp từ

85,45% - 91,90%. Trong đó, phác đồ 1 sử dụng ceftiofur điều trị hai bệnh viêm

phổi và viêm khớp cho hiệu quả cao nhất, có tỷ lệ lợn khỏi tương ứng là 91,90 92,94%.

2. ĐỀ NGHỊ

- Tiếp tục nghiên cứu hồn thiện quy trình chế tạo và sử dụng Autovaccine

phòng viêm phổi, viêm khớp cho lợn do vi khuẩn S.suis gây ra.

- Áp dụng các phác đồ đã thử nghiệm điều trị cho lợn mắc viêm phổi, viêm

khớp do vi khuẩn S. suis gây ra tại các địa phương của tỉnh Thái Nguyên.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

sau tiêm Autovaccine 120 ngày

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×