Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
theo lứa tuổi của lợn

theo lứa tuổi của lợn

Tải bản đầy đủ - 0trang

67

Bảng 3.5: Kết quả phân lập vi khuẩn S. suis từ lợn mắc viêm phổi và viêm

khớp ở các lứa tuổi khác nhau

Số mẫu



Số

mẫu



Tỷ



kiểm tra



lệ



Tính

chung



(+)



(%)



(%)



Dịch họng



37



16



43,24



Phổi



35



18



51,42



Dịch ổ khớp



35



15



42,85



Lợn sau cai

Dịch họng

sữa

Phổi

(> 1 – 3 tháng)

Dịch ổ khớp



44



25



56,81



43



31



72,09



42



20



47,61



Dịch họng

Lợn thịt

(> 3 – 6 tháng) Phổi



37



18



48,64



36



25



69,44



Dịch ổ khớp



35



14



40,00



Lợn hậu bị,



Dịch họng



23



11



47,82



lợn nái

(≥ 7 tháng)



Phổi



20



13



65,00



Dịch ổ khớp



16



6



37,50



403



212



52,60



Lứa tuổi lợn

TT



(tháng tuổi)



1



Lợn con

( ≤ 1 tháng)



2



3



4



Mẫu bệnh

phẩm



Tính chung



45,79



58,91



52,77



50,84



Kết quả ở bảng 3.5 cho thấy trong 403 mẫu bệnh phẩm từ lợn mắc viêm phổi

và viêm khớp ở các lứa tuổi đã có 212 mẫu phân lập được vi khuẩn S. suis với tỷ lệ

là 52,60%; trong đó cao nhất là ở lợn sau cai sữa (58,91%) và thấp nhất là ở lợn

con dưới 1 tháng tuổi (45,79%). Tỷ lệ lợn con sau cai sữa (>1 - 3 tháng tuổi) bị

mắc bệnh S. suis cao hơn lợn con dưới 1 tháng tuổi, lợn thịt và lợn nái là do trên địa

bàn tỉnh Thái Nguyên các trang trại chăn nuôi thường cai sữa cho lợn con trước 30

ngày tuổi, do đó lợn con sau cai sữa (>1 - 3 tháng tuổi) thường bị tác động của các

hiện tượng stress như cai sữa, thức ăn mới, tách nhập đàn, chuyển chuồng mới...

làm giảm sức đề kháng của cơ thể và tăng sự cảm nhiễm với mầm bệnh.

Kết quả của chúng tôi tương đồng với kết quả phân lập S. suis từ mẫu bệnh

phẩm của lợn mắc PRRS tại Bắc Giang (51,67%) của Trương Quang Hải và cs.

(2012) [6] là 51,67%; của Lê Văn Dương và cs. (2013) [3] là 55,10%, nhưng cao hơn



68

với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2016 [16], 2017 [17) khi

phân lập vi khuẩn gây viêm phổi ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh từ phổi và hạch cuống họng

của lợn thấy tỷ lệ phân lập được S. suis là 38,67% và ở lợn nuôi tại tỉnh Tuyên

Quang là 13,0%. Kết quả khảo sát của Lê Hồng Thủy Tiên và cs. (2018) [34] về tỷ lệ

nhiễm S. suis trên lợn khỏe các lứa tuổi khác nhau ở miền Đông Nam Bộ cũng cho

thấy liên cầu khuẩn S. suis là tác nhân cơ hội gây bệnh viêm khớp, viêm phổi, màng

não, nhiễm trùng máu ở lợn, đặc biệt là S. suis serotype 2. Đã phân lập và xác định

được tỷ lệ lợn khỏe tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai và Bình Dương

nhiễm S. suis là 12,05%. Tỷ lệ nhiễm cao nhất là nhóm lợn con theo mẹ (26,61%),

tiếp theo là lợn con cai sữa (9,55%), lợn nái (9,09%) và thấp nhất là nhóm lợn thịt

(4,55%). Lợn khỏe nhiễm S.suis được tìm thấy ở tất cả ba tỉnh/thành đã khảo sát với

tỷ lệ là 90,91%.

Tỷ lệ phân lập vi khuẩn S. suis ở lợn tại tỉnh Thái nguyên cho thấy vi khuẩn

này đã có vai trò quan trọng gây viêm phổi và viêm khớp ở lợn những năm qua trên

địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

3.2.2. Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi

khuẩn S. suis phân lập được

Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật, hóa học của 168 chủng S.suis đã

chọn lọc được trình bày ở bảng 3.6.

Kết quả ở bảng 3.6 cho thấy, tất cả các chủng vi khuẩn S. suis giám định

được đều mang các đặc tính sinh học đặc trưng của vi khuẩn S. suis như Nguyễn

Quang Tuyên (2008) [39], Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN 8400-2:2010) [36] đã mô

tả. Cụ thể là tất cả các chủng S. suis được kiểm tra đều có hình cầu hoặc bầu dục,

xếp thành chuỗi dài ngắn khác nhau và bắt màu Gram dương. Trên môi trường

MacConkey vi khuẩn mọc tốt và tạo thành các khuẩn lạc màu trắng trong, lồi, nhỏ

như đầu đinh ghim. Vi khuẩn S. suis phát triển trên mơi trường thạch máu hình

thành các khuẩn lạc nhỏ, hơi lồi, màu trắng trong và gây dung huyết kiểu α, β.

Trong mơi trường canh thang có 6,5% NaCl thấy 100% chủng vi khuẩn S. suis

không mọc. Với phản ứng phân hủy arganin thì 100% số chủng kiểm tra cho kết

quả dương tính. Trong các mơi trường đường: có 100% các chủng lên men đường



69

glucose, inulin, salicin, lactose, sucarose và 95,2% lên men đường trehalose. Với

glycerol, mannitol, sorbitol thì 100% chủng vi khuẩn S. suis không lên men. Đặc

biệt, 100% các chủng S. suis kiểm tra đều cho kết quả âm tính với các phản ứng

Catalase, Indol, Oxidase và Voges Proskauer (VP).

Bảng 3.6: Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các

chủng S. suis phân lập được

Tiêu chuẩn

TT



Đặc tính



sinh học

của S. suis



Số chủng



Số chủng



Tỷ lệ



kiểm tra



dương tính



(%)



1



Gram dương



+



168



168



100



2



Dung huyết



+



168



168



100



3



MacConkey



+



168



168



100



4



NaCl 6,5%



-



168



0



0



5



Catalase



-



168



0



0



6



Indol



-



168



0



0



7



Oxydase



-



168



0



0



8



P/ứng VP



-



168



0



0



9



Glucose



+



168



168



100



10



Arginin



+



168



168



100



11



Inulin



+



168



168



100



12



Salicin



+



168



168



100



13



Lactose



+



168



168



100



14



Sucarose



+



168



168



100



15



Trehalose



+



168



160



95,2



16



Glycerol



-



168



0



0



17



Mannitol



-



168



0



0



18



Sorbitol



-



168



0



0



70

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu của một số tác

giả trong nước về đặc tính sinh vật, hóa học của vi khuẩn S. suis phân lập được từ

lợn, Trịnh Phú Ngọc (2002) [12] đã xác định một số đặc tính sinh vật và độc lực

của vi khuẩn S. suis gây bệnh ở lợn tại một số tỉnh phía Bắc, kết quả của Trương

Quang Hải và cs. (2012) [6], Lê Văn Dương và cs. (2013) [3] đã xác định một số

đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn S. suis phân lập được ở lợn mắc

viêm phổi tại tỉnh Bắc Giang. Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2016 [16], (2017) [17]

đã giám định đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng S. suis phân lập được từ lợn

ở tỉnh Bắc Ninh và Tuyên Quang. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng

với kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, đó là tất cả các chủng vi khuẩn S. suis

được kiểm tra đều không mọc trong mơi trường canh thang có 6,5% NaCl. Có

100% các chủng lên men đường glucose, galactose, lactose, maltose và 96,55% đến

96,77% số chủng lên men đường trehalose; với đường mannit, mannitol, sorbitol

thì khơng có chủng nào lên men và 100% các chủng S. suis đều cho kết quả âm tính

với các phản ứng Indol, Catalase, Oxidase.

Như vậy các chủng vi khuẩn S. suis phân lập từ lợn tại Thái Nguyên được

kiểm tra đều mang các đặc tính sinh học đặc trưng của vi khuẩn S. suis như các tài

liệu trong và ngồi nước đã mơ tả.

3.2.3. Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hố học của các chủng vi

khuẩn S. suis phân lập được bằng bộ Kit sinh hóa API 20 Strep

Các chủng S. suis phân lập được sau khi đã được kiểm tra các đặc tính ni

cấy, hình thái, sinh hóa...đáp ứng đủ u cầu về đặc điểm sinh vật, hóa học (phản

ứng nhận biết cấp I), tiếp tục được tiến hành kiểm tra qua các phản ứng của bộ Kit

sinh hóa API 20 Strep (phản ứng nhận biết cấp II) là bộ Kit định danh vi khuẩn

gồm các phản ứng sinh hoá đã được chế tạo sẵn. Kết quả thu được trình bày ở bảng

3.7.



71

Bảng 3.7: Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học

của các chủng vi khuẩn S. suis phân lập được bằng bộ Kit sinh hóa API 20

Strep

Tiêu chuẩn Ký hiệu

phản

sinh học

ứng

của S. suis



T

T



Tên phản ứng



1

2

3



Voges Proskauer

Thuỷ phân Hippuric acid

Esculin



Đỏ hồng

Xanh đậm

Xám đen



VP

HIP

ESC



4



Pyrrolidonyl Arylamidase



Vàng cam



PYRA



5



α - Galactosidase



Tím



6



β - Glucuronidase



7



β - Galactosidase



Số

chủn

g

kiểm

tra

168

168



Số

chủn

g (+)

0

2



168



127



168



82



αGAL



168



138



Xanh



βGUR



168



147



Tím



βGAL



168



110



Tím

Vàng cam

Đỏ



PAL

LAP

ADH



168

168



3

168



168



158



11 Arabinose

12 Amidon



Vàng

Vàng



ARA

AMD



168



0



168



162



13 Ribose

14 Glycogen



Vàng

Vàng



RIB

GLYG



168



0



168



161



15 Mannitol

16 Sorbitol

17 Lactose



Vàng

Vàng

Vàng



MAN

SOR

LAC



168

168



2

1



168



159



18 Trehalose



Vàng



TRE



168



162



19 Inulin



Vàng



INU



168



127



20 Raffinose



Vàng



RAF



168



153



8 Alkaline Phosphatase

9 Leucine Amino Peptidase

10 Arginine Dihydrolase



Tỷ lệ

(%)

0

1,19

75,5

9

48,8

0

82,1

4

87,5

0

65,4

7

1,78

100

94,0

4

0

98,1

8

0

97,5

7

1,19

0,59

94,6

4

96,4

2

75,5

9

92,7



72

2

Kết quả ở bảng 3.7 cho thấy 100% số chủng vi khuẩn S. suis được kiểm tra

đều cho kết quả âm tính trong phản ứng Voges Proskauer (VP) và không lên men

các loại đường Ribose (RIB), Arabinose (ARA). Các phản ứng khác, bao gồm phản

ứng thủy phân acid Hippuric (HIP) có 2/168 chủng có phản ứng dương tính chiếm

tỷ lệ 1,19%, Alkaline Phosphatase (PAL) có 3/168 chủng dương tính (tỷ lệ 1,78%)

và phản ứng lên men đường Sorbitol (SOR) thì cũng chỉ có 2/168 chủng dương tính

(tỷ lệ 1,19%). Phản ứng Esculin (ESC) và Arginine Dihydrolase (ADH) cho kết quả

dương tính với tỷ lệ tương ứng là 75,59% và 94,04%. Riêng phản ứng thủy phân L

- leucine - β - naphthylamide (LAP) thì tất cả 168/168 chủng vi khuẩn S. suis được

kiểm tra đều cho kết quả dương tính, chiếm tỷ lệ 100%. Các phản ứng như β Galactosidase (βGAL), α-Galactosidase (αGAL) và β-Glucuronidase (βGUR) đều

cho tỷ lệ dương tính tương ứng là 65,47%, 82,14% và 87,50%. Ở các phản ứng

khác như lên men đường Raffinose (RAF), Lactose (LAC), Glycogen (GLYG),

Trehalose (TRE) và Amidon (AMD) các chủng S. suis được kiểm tra đều cho kết

quả dương tính với các tỷ lệ từ 92,72 - 98,18%. Với các kết quả trên chúng tôi thấy

các chủng vi khuẩn S. suis phân lập được ở lợn mắc viêm phổi và viêm khớp tại

tỉnh Thái Nguyên đều mang các đặc tính sinh vật, hóa học đặc trưng của S. suis như

các tài liệu trong và ngồi nước đã mơ tả.

3.2.4. Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của các chủng S. suis phân lập

Để lựa chọn kháng sinh điều trị có hiệu quả bệnh viêm phổi và viêm khớp do

vi khuẩn S. suis gây ra, chúng tôi đã xác định khả năng mẫn cảm kháng sinh của

168 chủng S. suis phân lập được với một số loại kháng sinh. Kết quả được trình bày

ở bảng 3.8.

Bảng 3.8: Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của các

chủng S. suis phân lập được

TT



Kháng

sinh



Số

chủng

thử



Đánh giá mức độ mẫn cảm

Mạnh

Trung bình

Kháng thuốc

(+)

(%)

(+)

(%)

(+)

(%)



73

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12



Ceftiofur

Florfenicol

Amoxicillin

Ampicillin

Ofloxaxin

Tetracyclin

Gentamicin

Lincomycin

Penicillin G

Neomycin

Colistin

Erythromycin



168

168

168

168

168

168

168

168

168

168

168

168



142

137

135

122

90

71

43

21

17

9

4

3



84,52

81,54

80,35

72,61

53,57

42,26

25,59

12,50

10,11

5,35

2,38

1,78



15

17

15

13

18

25

49

59

52

38

32

26



8,92

10,11

8,92

7,73

10,71

14,88

29,16

35,11

30,95

22,61

19,04

15,47



11

14

18

33

60

72

76

88

98

121

132

139



6,54

8,33

10,71

19,64

35,71

42,85

45,23

52,38

58,33

72,02

78,57

82,73



Kết quả bảng 3.8 cho thấy các chủng vi khuẩn S. suis mẫn cảm cao với

ceftiofur (84,52%), florfenicol (81,54%), amoxicillin (80,35%), ampicillin

(72,61%) và kháng lại một số kháng sinh như erythromycin (82,73%), colistin

(78,57%), neomycin (72,02%) và penicillin G (58,33%). Kết quả của chúng tôi

tương đồng với nghiên cứu của Trương Quang Hải và cs. (2012) [6] khi xác định

khả năng mẫn cảm với kháng sinh của 25 chủng vi khuẩn S. suis phân lập từ lợn

mắc viêm phổi tại tỉnh Bắc Giang cho thấy, các chủng vi khuẩn S. suis mẫn cảm

cao với ceftiofur (92,0%), florfenicol (88,0%), amoxicillin (88,0%), ofloxacin

(72,0%), amikacin (72,0%) và kháng lại một số loại kháng sinh như streptomycin

(72,0%), neomycin (64,0%), colistin (60,0%), tetracycline (56,0%) và penicillin G

(48,0%). Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2017) [17] đã kiểm tra mức độ mẫn cảm với

một số kháng sinh của các chủng S. suis phân lập ở lợn tại tỉnh Bắc Ninh, thấy

chúng mẫn cảm mạnh với ceftiofur (81,82%), amoxicillin (79,55%), florfenicol

(75,00%) và ampicillin (70,45%). Các chủng này đã kháng lại một số kháng sinh

như colistin (94,32%), erythromycin (73,86%) và neomycin (6818%). Nguyễn Văn

Quang và cs. (2017) [26] khi xác định khả năng kháng kháng sinh của các chủng S.

suis phân lập ở lợn tại tỉnh Tuyên Quang cũng thấy các chủng vi khuẩn đều mẫn

cảm cao với ba loại kháng sinh là ceftiofur, ampicillin và amikacin. Kết quả xác

định tính mẫn cảm nói trên là cơ sở cho việc lựa chọn kháng sinh để điều trị bệnh

liên cầu cho lợn đạt hiệu quả cao.



74

3.2.5. Kết quả xác định serotype của các chủng S. suis phân lập được bằng kỹ

thuật PCR

Sau khi các chủng vi khuẩn S. suis được xác định các đặc tính sinh vật học,

chúng tơi tiến hành xác định một trong 4 serotype (serotype 1, 2, 7 và 9) thường

gặp nhất gây bệnh ở lợn bằng phản ứng PCR, phản ứng này cho phép nhận ra sự

khác nhau của 4 loại gen cps mã hoá sản sinh thành phần polysaccharide của giáp

mô vi khuẩn S. suis tương ứng với các serotype 1, 2, 7 và 9. Trường hợp các chủng

vi khuẩn S. suis không thuộc một trong các serotype trên thì lại được tiếp tục xác

định type với 30 loại kháng huyết thanh còn lại bằng phản ứng ngưng kết nhanh

trên phiến kính. Kết quả thu được trình bày ở bảng 3.9.



75

Bảng 3.9: Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn S. suis phân lập được

Kết quả xác định serotype

Loại lợn

lấy mẫu

Lợn con

( ≤ 1 tháng

tuổi)

Lợn sau

cai sữa

(>1- 3

tháng tuổi)

Lợn thịt

(>3 – 6

tháng tuổi)

Lợn hậu

bị, nái

≥ 7 tháng

tuổi)

Cộng



Tổng

số

chủng

VK



Serotype 2



Serotype 7



Serotype 9



Serotype 21



Serotype 29



Không xác

định

Số

Tỷ lệ

chủng

(%)

(+)



Số

chủng

(+)



Tỷ lệ

(%)



Số

chủng

(+)



Tỷ lệ

(%)



Số

chủng

(+)



Tỷ lệ

(%)



Số

chủng

(+)



Tỷ lệ

(%)



Số

chủng

(+)



Tỷ lệ

(%)



39



23



58,97



2



5,13



6



15,39



0



0



1



2,56



7



17,94



50



32



64,00



3



6,00



7



14,00



1



2,00



1



2,00



6



12,00



41



21



51,21



3



7,32



9



21,96



1



2,44



1



2,44



6



14,64



23



13



56,52



3



13,02



3



13,02



1



4,34



1



4,34



2



8,69



153



89



58,17



11



7,19



25



16,34



3



1,96



4



2,61



21



13,72



76

Kết quả ở bảng 3.9 cho thấy số chủng vi khuẩn S. suis thuộc serotype 2 là

89/153 chiếm tỷ lệ cao nhất (58,16%), tiếp đến là serotype 9 (25/153, tỷ lệ 16,33%),

serotype 7 (11/153, tỷ lệ 7,18%) và thấp nhất là serotype 21; 29 (tỷ lệ tương ứng là

1,96% và 2,64%); còn lại 21 chủng chưa xác định được serotype (tỷ lệ 13,72%). Đối

với serotype 2, tỷ lệ cao nhất là ở lợn sau cai sữa (64,00%), tiếp đến là ở lợn con

(58,97%) và thấp nhất là lợn thịt (51,21%). Còn các serotype khác của vi khuẩn S.

suis thì đều có kết quả âm tính trong số các chủng S. suis phân lập được ở lợn tại

Thái Nguyên đã được triển khai nghiên cứu xác định.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả nghiên của một số

tác giả như Cù Hữu Phú (2011) [23] xác định được các chủng vi khuẩn S. suis

thuộc serotype 2 ở lợn mắc PRRS với tỷ lệ là 58,33% và Lê Văn Dương và cs.,

(2013) [3] khi xác định serotype của các chủng vi khuẩn S. suis phân lập từ các

mẫu bệnh phẩm của lợn mắc hội chứng PRRS tại Bắc Giang cho kết quả serotype 2

chiếm tỷ lệ cao nhất (56,29%), tiếp đến là serotype 9 và 7 (tỷ lệ tương ứng là 17,03

và 5,18%).

Các chủng vi khuẩn S. suis thuộc serotype 2 đã được thông báo từ lâu là

serotype thường gặp nhất gây bệnh cho lợn và người ở hầu hết các nước trên thế

giới. Ở Anh, bệnh do vi khuẩn S. suis serotype 2 gây ra chủ yếu là gây bại huyết và

viêm não ở lợn sau cai sữa, trong khi đó tại Bắc Mỹ phần lớn lợn mắc bệnh có biểu

hiện viêm phổi. Ở Hà lan, S. suis serotype 2 là nguyên nhân chính gây viêm phổi

(42%), viêm não (18%), viêm nội tâm mạc (18%) và viêm đa thanh mạc (10%).

Ngoài serotype 2, vi khuẩn S. suis thuộc các serotype khác cũng đã được phân lập

từ lợn bị viêm phổi, mảng phổi ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ. Vi khuẩn S. suis

serotype 2 cũng được phân lập từ lợn khỏe bình thường nhưng với tỷ lệ thấp. Trong

khi đó, có một vài serotype như serotype 21, 29 và ít phổ biển hơn là serotype 17,

18 và 19 chủ yếu chỉ được tỉm thấy ở lợn khỏe mạnh và khơng có triệu chứng lâm

sàng (Lun Z.R và cs, 2007) [94]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp

với nhận xét trên, các chủng thuộc serotype 21 và 29 chủ yếu phân lập được từ dịch



77

họng của lợn có triệu chứng viêm phổi nhưng với tỷ lệ rất thấp, tương ứng là 1,96% và

2,64 %.

Vi khuẩn S. suis là căn nguyên quan trọng gây bệnh ở lợn, trong đó serotype

2 là một trong những nguyên nhân gây chết ở lợn trước và sau cai sữa, từ 5 đến 10

tuần tuổi. Chúng cũng là nguyên nhân truyền bệnh từ động vật sang người nên S.

suis được các nhà khoa học chú ý nghiên cứu trong nhiều năm qua (Gottschalk và

cs,, 2012) [68]. Trong số các type huyết thanh được mô tả, S. suis type 2 là nguy

hiểm nhất và thường được phân lập từ lợn mắc cũng như ở người, còn serotype 9

thì được phân lập từ lợn mắc ở các nước châu Âu (Goyette – Desjardins G. và cs.,

2014) [70]. Kết quả xác định một số serotype của các chủng S. suis phân lập bằng

phản ứng PCR được thể hiện ở hình 3.1.

Ghi chú:

- M: 100 bp marker

- Giếng 1 và 7: serotype 7 (379 bp)

- Giếng 2; 3 và 4: serotype 2 (498

bp)

- Giếng 5 và 6: serotype 9 (303 bp)



Hình 3.5: Kết quả phản ứng PCR xác định serotype của vi khuẩn S. suis

3.2.6. Kết quả xác định gen mã hóa yếu tố độc lực của các chủng vi khuẩn S.

suis phân lập được

Chúng tôi đã sử dụng phản ứng PCR phức hợp (MP – PCR) để nhận biết gen

mã hoá sinh tổng hợp 4 yếu tố liên quan đến độc lực là (EF - epf), (MRP – mrp),

yếu tố gây dung huyết suilysin (SLY - sly) và (ARC - arcA) của 45 chủng thuộc



các serotype 2, 7 và 9 được lựa chọn căn cứ vào các đặc điểm sinh vật, hóa học

từ các chủng vi khuẩn S. suis phân lập ở lợn trên các địa bàn huyện/thành thuộc

tỉnh Thái Nguyên. Kết quả được trình bày ở bảng 3.10.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

theo lứa tuổi của lợn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×