Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
giữa các huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên từ năm 2015 – 2017

giữa các huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên từ năm 2015 – 2017

Tải bản đầy đủ - 0trang

63

Đơng-Xn



6.783



1.184 17,45 172 14,52



825



12,16



61



7,39



Tính chung



11.140 1.579 14,17 204 12,91 1.240 11,13



85



6,85



Kết quả bảng 3.3 cho thấy đàn lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên có tỷ lệ mắc và

chết do viêm phổi và viêm khớp ở vụ Đông-Xuân đều cao hơn vụ Hè-Thu. Đối với

viêm phổi có tỷ lệ lợn mắc và chết ở vụ Đông-Xuân tương ứng là 17,45% và

14,52% cao hơn vụ Hè-Thu tỷ lệ 9,06% và 8,10%; với viêm khớp là 12,16% và

7,39% so với 9,52% và 5,78%. Qua khảo sát thấy đặc điểm khí hậu thời tiết ở tỉnh

Thái Ngun trong vụ Đơng-Xn thường có nhiệt độ trung bình và số giờ nắng

thấp nhất trong năm, đặc biệt vào tháng 12 và tháng 1 hằng năm, nhiệt độ trung

bình từ 14,5 – 16,50C, đây cũng là khoảng thời gian có những đợt rét đậm kéo dài

(10-120C), gió bấc kèm theo mưa phùn nên khí hậu ẩm ướt, ẩm độ khơng khí cao.

Các yếu tố mơi trường này đã tác động rất lớn đến đàn vật nuôi, đặc biệt là lợn con

mới sinh, lợn con theo mẹ tập ăn sớm và lợn con sau cai sữa. Thời gian này cũng là

thời điểm thường phát sinh một số bệnh ở lợn, trong đó có viêm phổi và viêm khớp

ở Thái Nguyên và ở các tỉnh miền Bắc.

Bệnh liên cầu khuẩn do S. suis thường xảy ra ở lợn con trước và sau cai sữa,

ở lợn thịt, trong đó S. suis serotype 2 thường gây viêm màng não, viêm khớp, viêm

phổi, bại huyết ở lợn con (Đỗ Ngọc Thúy và cs., 2009b) [32]. Lợn ở mọi lứa tuổi

đều có thể mắc bệnh liên cầu khuẩn, đặc biệt lợn từ 5-10 tuần tuổi, tuy nhiên cũng

có nghiên cứu cho thấy lợn mới sinh ra được một vài giờ hoặc lợn ở 32 tuần tuổi

cũng bị mắc bệnh (Phạm Sỹ Lăng, 2014) [20].

Kết quả trên của chúng tôi cũng phù hợp với nhận định của Hồ Thị Kim Hoa

(2016) [9] về tình hình dịch bệnh ở lợn tại Việt Nam cho thấy bệnh nhiễm trùng

trên đàn lợn hầu hết là sự kết hợp của vi sinh vật gây bệnh và môi trường là nguyên

nhân làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, tạo điều kiện cho quá trình nhiễm trùng

và trong các vi sinh vật gây bệnh phổ biến cho lợn có mặt vi khuẩn S. suis.

Qua kết quả nghiên cứu trên cho thấy viêm phổi và viêm khớp ở lợn trên địa

bàn tỉnh Thái Nguyên thường xảy ra quanh năm, nhưng vào những tháng trong vụ



64

Đông - Xuân là thời gian có thời tiết, khí hậu lạnh, mưa phùn ẩm ướt gây bất lợi

đối với sức khỏe của vật nuôi, đồng thời là điều kiện cho bệnh phát sinh nên hai

bệnh trên xảy ra với tỷ lệ cao hơn.

Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm phổi, viêm khớp theo mùa vụ được thể hiện

rõ hơn ở hình 3.3.



Hình 3.3. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do viêm phổi, viêm khớp

theo mùa vụ

3.1.4. Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm phổi, viêm khớp theo lứa tuổi



Để đánh giá tỷ lệ mắc và chết do viêm phổi và viêm khớp trên đàn lợn ở

các lứa tuổi khác nhau, chúng tôi tiến hành điều tra đàn lợn nuôi tại các trang

trại trên các địa bàn nghiên cứu tình hình lợn mắc bệnh và chết ở các lứa tuổi.

Kết quả được trình bày trên bảng 3.4.

Bảng 3.4: Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm phổi, viêm khớp theo lứa tuổi

Lứa tuổi

lợn



Viêm phổi



Viêm khớp



Số lợn

điều

tra

(con)



Số

con



Tỷ lệ

(%)



Số

con



Tỷ lệ

(%)



Số

con



Tỷ lệ

(%)



Số

con



Tỷ lệ

(%)



3.425



503



15,47



71



14,11



412



12,02



28



6,79



4.150



697



16,79



107



15,35



665



16,02



52



7,81



Lợn thịt

(>3 – 6

tháng)



2.416



285



11,79



21



7,36



128



5,29



4



3,12



Lợn hậu

bị, lợn nái



1.149



94



8,18



5



5,31



35



3,04



1



2,85



14,17



204



12,91 1.240 11,13



85



6,85



(tháng

tuổi)

Lợn con

(≤ 1

tháng)



Lợn ốm



Lợn chết



Lợn ốm



Lợn chết



Lợn sau

cai sữa

(>1 – 3

tháng)



Tính

chung



11.140 1.579



65

Kết quả ở bảng 3.4 cho thấy, đàn lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên mắc và chết

do viêm phổi, viêm khớp có tỷ lệ khác nhau giữa các lứa tuổi. Với viêm phổi thì

lợn ở lứa tuổi sau cai sữa (>1 - 3 tháng tuổi) có tỷ lệ mắc cao nhất (16,79%); tiếp

sau là lợn con (dưới 1 tháng tuổi) tỷ lệ 15,47% và thấp nhất là lợn hậu bị, lợn nái

sinh sản (8,18%). Tỷ lệ lợn chết do viêm phổi cũng cao nhất là ở lợn sau cai sữa,

tiếp sau là lợn con và thấp nhất là ở lợn hậu bị, lợn nái (tương ứng là 15,35; 14,11

và 5,31%). Đối với viêm khớp, tỷ lệ lợn mắc cao nhất ở lợn sau cai sữa (16,02%),

tiếp sau là lợn con dưới 1 tháng tuổi (12,02%) và thấp nhất là lợn hậu bị, lợn nái

(3,04%). Tỷ lệ lợn chết do viêm khớp cao nhất là ở lợn sau cai sữa, tiếp sau là lợn

con và thấp nhất là ở lợn hậu bị, lợn nái (tương ứng là 7,81; 6,79 và 2,85%). Qua

điều tra cho thấy nguyên nhân là do ở các địa điểm trên thuộc tỉnh Thái Nguyên

chăn nuôi lợn quy mô còn nhỏ, chủ yếu ở hộ gia đình, điều kiện chăm sóc, ni

dưỡng, vệ sinh… còn hạn chế nên tình hình bệnh vẫn thường xuyên xảy ra. Kết quả

nghiên cứu của Dutkiewicz J. và cs. (2017) [58] cũng cho thấy trong đàn lợn mắc

bệnh liên cầu khuẩn thì đa số lợn bị mắc trong giai đoạn từ 5 đến 10 tuần tuổi, ít

lợn bị mắc trên 32 tuần tuổi hoặc sau khi sinh vài giờ.

Theo Higgins R. và Gottschalk M. (2006) [77] tỷ lệ lợn nhiễm S. suis cũng

được phát hiện ở các lứa tuổi khác nhau, cao nhất ở nhóm tuổi sau cai sữa từ 4 đến

10 tuần tuổi. Trong đàn có thể tới 80% số lợn nái nhiễm S. suis nhưng không thể

hiện triệu chứng bệnh, chúng tồn tại ở hạch amidan của lợn trong thời gian dài, hơn

một năm, ngay cả khi có các yếu tố thực bào, kháng thể và bổ sung kháng sinh phù

hợp trong thức ăn. Điều này cho thấy vi khuẩn S. suis mang tính dịch địa phương ở

một số đàn nhưng khơng có biểu hiện bệnh lý lâm sàng Trong những trang trại chăn

nuôi lợn tập trung với mật độ cao, bệnh do vi khuẩn S. suis gây ra rất phổ biến. Lợn

nhiễm S. suis khi nuôi chung với những lợn khoẻ khác sẽ làm lây lan mầm bệnh

trong đàn. Ở một số trang trại đã xác định đàn lợn nhiễm S .suis có khi gần đến

100% và tỷ lệ lợn phát bệnh thay đổi theo lứa tuổi, mức độ vệ sinh, chăm sóc ni

dưỡng… thường là khoảng 15,0%. Kết quả nghiên cứu của Marois C. và cs. (2007)

[95] cho thấy hầu hết lợn sau cai sữa đều có nhiễm các chủng vi khuẩn S. suis

nhưng chỉ có một số trong các chủng này có khả năng gây bệnh cho lợn giai đoạn



66

sau đó và lợn con theo mẹ có thể nhiễm một số chủng vi khuẩn S. suis trong cơ thể

nhưng thường thấy chủng serotype 2 gây bệnh là chủ yếu.

Lợn mẹ mắc bệnh liên cầu khuẩn là một trong những nguồn truyền vi khuẩn

S. suis sang con. Vi khuẩn có thể truyền bệnh trực tiếp từ lợn nhiễm S. suis hoặc lợn

bệnh sang lợn khỏe, từ con khoẻ này truyền cho lợn khác có thể xảy ra trong vòng

5 - 6 ngày sau khi nhốt chung. Việc đưa những lợn nái hậu bị từ đàn nhiễm bệnh có

thể gây bệnh cho lợn con theo mẹ và lợn sau cai sữa ở đàn tiếp nhận (Hoa N.T. và

cs., 2011) [78]. Bệnh còn có thể lây qua viêm phổi, là đường truyền lây có ý nghĩa

quan trọng do số lượng vi khuẩn thải ra môi trường nhiều. Bệnh liên cầu khuẩn lây

lan trong đàn chủ yếu do sự tiếp xúc giữa lợn khỏe và lợn bệnh, lợn mẹ mắc bệnh

sẽ truyền sang cho lợn con. Ngồi ra, bệnh có thể truyền lây qua dụng cụ chăn nuôi

và một số nhân tố trung gian như ruồi, một số loài chim, chuột... và vật mang trùng

khác (Huong V.T.L và cs., 2014) [80]. Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm phổi, viêm

khớp theo các lứa tuổi của lợn được thể hiện ở hình 3.4.



Hình 3.4. Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn mắc bệnh và chết do viêm phổi, viêm khớp

theo lứa tuổi của lợn

3.2. Kết quả nghiên cứu một số đặc tính sinh học của các chủng S. suis

phân lập được

3.2.1. Kết quả phân lập vi khuẩn S. suis từ lợn mắc viêm phổi và viêm khớp tại

Thái Nguyên

Tiến hành phân lập vi khuẩn S. suis từ các mẫu bệnh phẩm là dịch cuống

họng, phổi, dịch ổ khớp của lợn ở các lứa tuổi khác nhau theo bốn nhóm tuổi (loại

lợn) bị mắc viêm phổi và viêm khớp tại các huyện, thành thuộc tỉnh Thái Nguyên

để xác định tỷ lệ nhiễm vi khuẩn S. suis giữa các lứa tuổi. Kết quả được trình bày ở

bảng 3.5.



67

Bảng 3.5: Kết quả phân lập vi khuẩn S. suis từ lợn mắc viêm phổi và viêm

khớp ở các lứa tuổi khác nhau

Số mẫu



Số

mẫu



Tỷ



kiểm tra



lệ



Tính

chung



(+)



(%)



(%)



Dịch họng



37



16



43,24



Phổi



35



18



51,42



Dịch ổ khớp



35



15



42,85



Lợn sau cai

Dịch họng

sữa

Phổi

(> 1 – 3 tháng)

Dịch ổ khớp



44



25



56,81



43



31



72,09



42



20



47,61



Dịch họng

Lợn thịt

(> 3 – 6 tháng) Phổi



37



18



48,64



36



25



69,44



Dịch ổ khớp



35



14



40,00



Lợn hậu bị,



Dịch họng



23



11



47,82



lợn nái

(≥ 7 tháng)



Phổi



20



13



65,00



Dịch ổ khớp



16



6



37,50



403



212



52,60



Lứa tuổi lợn

TT



(tháng tuổi)



1



Lợn con

( ≤ 1 tháng)



2



3



4



Mẫu bệnh

phẩm



Tính chung



45,79



58,91



52,77



50,84



Kết quả ở bảng 3.5 cho thấy trong 403 mẫu bệnh phẩm từ lợn mắc viêm phổi

và viêm khớp ở các lứa tuổi đã có 212 mẫu phân lập được vi khuẩn S. suis với tỷ lệ

là 52,60%; trong đó cao nhất là ở lợn sau cai sữa (58,91%) và thấp nhất là ở lợn

con dưới 1 tháng tuổi (45,79%). Tỷ lệ lợn con sau cai sữa (>1 - 3 tháng tuổi) bị

mắc bệnh S. suis cao hơn lợn con dưới 1 tháng tuổi, lợn thịt và lợn nái là do trên địa

bàn tỉnh Thái Nguyên các trang trại chăn nuôi thường cai sữa cho lợn con trước 30

ngày tuổi, do đó lợn con sau cai sữa (>1 - 3 tháng tuổi) thường bị tác động của các

hiện tượng stress như cai sữa, thức ăn mới, tách nhập đàn, chuyển chuồng mới...

làm giảm sức đề kháng của cơ thể và tăng sự cảm nhiễm với mầm bệnh.

Kết quả của chúng tôi tương đồng với kết quả phân lập S. suis từ mẫu bệnh

phẩm của lợn mắc PRRS tại Bắc Giang (51,67%) của Trương Quang Hải và cs.

(2012) [6] là 51,67%; của Lê Văn Dương và cs. (2013) [3] là 55,10%, nhưng cao hơn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

giữa các huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên từ năm 2015 – 2017

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×