Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

14

cs. (2001) [73] đã khảo sát xác định S. suis ở hạch amidan của lợn thịt khỏe là

13,8%; trong khi đó ở Trung Quốc, nghiên cứu của Rui P. và cs. (2012) [106] trong

mẫu dịch mũi của lợn khỏe có 24,67% nhiễm S. suis. Theo Goyette - Desijardins G.

và cs. (2014) [70] các nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy S. suis serotype 2 được

tìm thấy trên lợn khỏe, có thể lây nhiễm cho người qua tiếp xúc hoặc sử dụng các

loại thực phẩm từ lợn khơng qua nấu chín.

Ở Trung Quốc, năm 2005 đã chế tạo vaccine vô hoạt từ các chủng S. suis

serotype 2 để kiểm soát dịch bệnh liên cầu khuẩn ở lợn theo Lun Z.R. và cs. (2007)

[94]. Nghiên cứu của Jiang X. và cs. (2016) [81] đã xác định chủng S. suis serotype

5 (XS045) độc lực thấp có thể sử dụng để sản xuất vaccine nhược độc cho an toàn

và hiệu quả trong việc bảo vệ cơ thể chống lại S. suis serotype 2 và 9 độc lực cao.

Theo Jiao J. và cs. (2017) [82] peptide NZ.2114 là một dẫn xuất từ kháng sinh

defensin và plectasin của nấm rừng, có hoạt tính kháng S. suis serotype 2 trong điều

kiện invitro và invivo mạnh hơn so với ampicillin.

Theo Dutkewicz J. và cs. (2017) [54] dựa vào kháng nguyên vỏ

polysaccharide, vi khuẩn S. suis được phân thành 35 serotype từ 1 đến 34 và

serotype ½. Đến nay, nhiều nghiên cứu đều cho thấy 6 serotype của S. suis bao gồm

serotype 20, 22, 26, 32, 33 và 34 đã có những biến đổi về đặc tính sinh học của

chúng so với ban đầu.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, nghiên cứu của Trịnh Phú Ngọc và Lê Văn Tạo (2001) [11] cho

thấy trong 37 chủng vi khuẩn Streptococcus spp. phân lập được từ lợn ở các lứa

tuổi khác nhau, trong đó có 19 chủng từ hạch phổi. Kết quả của Cù Hữu Phú và cs.

(2005) [22] khi nghiên cứu nguyên nhân gây viêm phổi của lợn ni tại một số tỉnh

phía Bắc đã xác định vi khuẩn S. suis là một trong những căn nguyên phổ biến có

vai trò gây bệnh quan trọng.

Đỗ Ngọc Thúy và Lê Thị Minh Hằng (2009a) [31] đã nghiên cứu đặc tính

sinh học và các phản ứng PCR để xác định các gen mã hóa một số yếu tố độc lực,

các serotype thông thường của S. suis cho thấy các phản ứng đã thiết lập và chuẩn

hóa đều đảm bảo các yêu cầu và tính chính xác cao, được ứng dụng trong khảo sát



15

các yếu tố gây bệnh và serotype thông thường của các chủng S. suis. Năm 2010, Đỗ

Ngọc Thúy và cs. (2010) [33] nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm đặc tính gây miễn

dịch của vaccine vơ hoạt keo phèn phòng bệnh cho lợn do vi khuẩn S. suis gây ra

có đậm độ vi khuẩn trong vaccine đạt từ 3,2 - 3,5 x 10 8 vi khuẩn/ml bước đầu có

sinh đáp ứng miễn dịch trên lợn thí nghiệm.

Nghiên cứu của Hoa N.T. và cs. (2011) [78] tỷ lệ lợn khỏe ở lò mổ tại các

tỉnh miền Nam nhiễm S. suis là 41,0%, trong đó từ bệnh phẩm là hạch amidan, là

nơi cư trú thường xuyên của vi khuẩn S. suis nên có tỷ lệ cao hơn.

Trương Quang Hải và cs. (2012) [6] nghiên cứu lợn mắc bệnh viêm phổi tại

tỉnh Bắc Giang cho thấy tỷ lệ phân lập được S. suis là 51,67%. Trong đó, tỷ lệ cao

nhất ở lợn sau cai sữa từ 1,5 đến 3 tháng tuổi chiếm 59,46% và thấp nhất là ở lợn

con dưới 1,5 tháng tuổi (39,29%). Theo Lê Văn Dương và cs. (2013) [3] lợn dương

tính với PRRS tại tỉnh Bắc Giang phân lập được S. suis là 55,10%. Các chủng S.

suis phân lập được thuộc serotype 2 với tỷ lệ là 56,29%, serotype 9 là 17,03% và

serotype 7 là 5,18%, các chủng thuộc serotype 21 và 29 đều chiếm tỷ lệ thấp

(2,22%).

Cù Hữu Phú và cs. (2013) [24] nghiên cứu chọn chủng vi khuẩn A.

pleuropneumoniae, P. multocida và S. suis để chế tạo vaccine phòng bệnh viêm

phổi cho lợn cho thấy các chủng S. suis thuộc serotype 2 có gen mã hóa độc tố

được phân bố rải rác trong các kiểu tổ hợp gen là arcA, arcA/sly; arcA/mrp;

arcA/mrp/sly; arcA/mrp/sly/epf. Theo Cù Hữu Phú và cs. (2014) [25] các lơ vaccine

vơ hoạt có chất bổ trợ keo phèn được chế tạo từ các chủng vi khuẩn trên đều sinh

miễn dịch và có hiệu lực bảo hộ cao (90 - 100%) khi thử trên động vật thí nghiệm.

Hồng Văn Minh và cs. (2017) [21] khi thử nghiệm vaccine vơ hoạt phòng viêm

phổi cho lợn do vi khuẩn A. pleuropneumoniae, P. multocida và S. suis gây ra tại

Bắc Giang cho thấy lợn được tiêm chủng vaccine này đã sinh miễn dịch, đạt tỷ lệ

bảo hộ là 71,04%.

Nghiên cứu của Bùi Thị Hiền và cs. (2016) [8] về sự lưu hành của S. suis

trên một số địa bàn thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế trong vụ xuân hè năm 2015 cho

thấy tỷ lệ nhiễm S. suis trên lợn khỏe là 11,4%. Huỳnh Ngân Hà và cs. (2016) [4]



16

khảo sát mức độ nhiễm S. suis trên các sản phẩm từ lợn ở cơ sở giết mổ tại thành

phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mẫu tìm thấy S. suis là 72,2%, trong đó S. suis

serotype 2 là 14,8% trên tổng số mẫu khảo sát. Lê Quốc Việt và cs. (2017) [41] đã

xác định tỷ lệ nhiễm S. suis ở lợn giết mổ trên địa bàn thành phố Huế cũng cho thấy

trong 100 mẫu dịch mũi của lợn đã phát hiện có 9,0% nhiễm S. suis serotype 2 và

đã tạo dòng, biểu hiện gen mã hóa 6 - phosphogluconate - dehydrogenase protein

trong E. coli BL21.

Lê Hồng Thủy Tiên và cs. (2018) [34] khảo sát tỷ lệ mang S. suis trên lợn

khỏe ở các độ tuổi khác nhau tại miền Đông Nam Bộ cho thấy S. suis là tác nhân

gây bệnh viêm phổi, viêm khớp, viêm màng não, nhiễm trùng máu ở lợn, đặc biệt

là S. suis serotype 2 và đã phân lập, xác định được tỷ lệ lợn khỏe mang S. suis là

12,05%.

Từ những nghiên cứu trên có thể thấy S. suis là vi khuẩn được quan tâm

nghiên cứu trong thời gian gần đây, tuy tỷ lệ phát hiện được chưa cao nhưng sự có

mặt của S. suis đã chứng tỏ vai trò quan trọng trong bệnh viêm phổi, viêm khớp ở

lợn tại Việt Nam hiện nay nên việc chăm sóc, phòng và trị bệnh cho lợn con cần

được lưu tâm nhằm hạn chế nhiễm bệnh do S. suis cho đàn lợn cũng như cho người chăn

nuôi.

1.2. Vi khuẩn S. suis

1.2.1. Phân loại vì khuẩn S. suis

Phân loại vi khuẩn S. suis nếu dựa vào phản ứng sinh hố thì gặp khó khăn

bởi các serotype đều có các đặc tính sinh hóa tương tự nhau. Ban đầu, S. suis được

phân loại huyết thanh học thành các nhóm theo ký hiệu S, R, RS và T. Sau đó, các nhóm

S, R và RS này lần lượt được thay thế bằng các serotype ký hiệu lần lượt là 1; 2 và 1/2,

còn nhóm T được thay thế bằng serotype 15 (Higgins R. và Gottschalk M., 2006) [77].

Trong thời gian từ năm 1983 đến 1995, có 32 serotype mới của S. suis được

phát hiện và phân loại dựa trên cấu trúc kháng nguyên polysaccharide của giáp mô,

nâng tổng số serotype của vi khuẩn này lên thành 35 loại (ký hiệu từ 1 đến 34, và

1/2). Trong đó, đáng chú ý nhất là các chủng thuộc serotype 2 phân lập được



17

thường xuyên nhất ở lợn và cũng là nguyên nhân gây ra các thể bệnh nguy hiểm

khác nhau ở lợn và người (Dutkewicz J. và cs., 2017) [54].

Các chủng thuộc các serotype khác nhau có đặc tính gây bệnh khác nhau và

gây ra các thể bệnh khác nhau. Thậm chí các chủng vi khuẩn thuộc cùng một

serotype cũng có thể gây ra các thể bệnh khác nhau do vùng địa lý mà chúng phân

bố. Một sổ serotype khơng có độc lực và có thể được phân lập từ lợn khỏe mạnh,

khơng có triệu chứng lâm sàng như các serotype 17, 18, 19 và 21. Trong khi đó, có

một số chủng có thể phân lập được từ lợn và cả các loài động vật khác nữa như

serotype 20 và 31 từ bê, serotype 33 từ cừu non (Segura M. và cs., 2017) [113].

Đỗ Ngọc Thúy và cs. (2009b) [32] khi xác định serotype của các chủng S.

suis phân lập từ lợn tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam cho thấy số chủng thuộc

serotype 2 chiếm tỷ lệ cao nhất; tiếp sau là các serotype 7, 9; 31; 32; 7; 17; 21 và 8.

1.2.2. Hình thái và tính chất ni cấy của vi khuẩn S. suis

Vi khuẩn S. suis thuộc bộ: Lactobacillales, họ: Streptococcaceae, lớp:

Bacilli, giống: Streptococcus.

Vi khuẩn S. suis có hình cầu hoặc hình trứng đường kính nhỏ hơn 1,0 μm,

thường xếp thành từng chuỗi như chuỗi hạt, có độ dài ngắn khác nhau tùy thuộc

vào môi trường nuôi cấy, từ hai đến 6 - 10 cầu khuẩn và dài hơn tạo thành liên cầu

khuẩn. Chiều dài của chuỗi tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường. Vi khuẩn bắt màu

Gram dương, không di động, không sinh nha bào. Trong bệnh phẩm vi khuẩn đứng

thành chuỗi ngắn thường có từ 2 - 8 đơn vị. Khi ni cấy trong mơi trường lỏng, hình

thái các chuỗi được nhìn thấy rõ và vi khuẩn xếp thành chuỗi dài (Lê Văn Tạo và cs.,

2005) [28].

Trong canh trùng sau 30 giờ ni cấy, vi khuẩn có thể thay đổi tính chất bắt

màu, chuỗi cũng thấy dài hơn. Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [39] vi khuẩn S.

suis bắt màu dễ dàng với một số loại thuốc nhuộm thông thường, ở trong canh

trùng non chúng bắt màu Gram (+), ở trong dịch viêm và canh trùng nuôi cấy trên

28 giờ thì thường bắt màu Gram (-).

Theo Quin P. và cs. (2005) [102] S. suis là những vi khuẩn hiếu khí hay yếm

khí tùy tiện, thích hợp ở nhiệt độ 37 oC. Trong môi trường nước thịt: lúc đầu phát



18

triển làm đục đều môi trường, sau 24 giờ nuôi cấy vi khuẩn hình thành các hạt hoặc

bơng nhỏ bám vào thành ống, rồi lắng xuống đáy ống nghiệm, môi trường trong ở

phía trên và ở đáy có cặn.

Trên mơi trường đặc: sau 24 giờ nuôi cấy phát triển thành các khuẩn lạc kích

thước nhỏ từ 1-2 mm, sau 72 giờ thì khuẩn lạc có kích thước lớn từ 3-4 mm. Khi

ni cấy S. suis trong điều kiện có 5-10% C02 thì khuẩn lạc sẽ phát triển nhanh và

to hơn. Khuẩn lạc thường tạo chất nhầy mạnh và rõ nếu vi khuẩn được nuôi cấy vài

giờ ở môi trường nước thịt có bổ sung huyết thanh trước khi cấy sang mơi trường

đặc hoặc thạch máu. Khuẩn lạc trên môi trường thạch thường nhỏ và khơ hơn trên

mơi trường có bổ sung dinh dưỡng.

Trên môi trường MacConkey: Vi khuẩn phát triển tốt, sau 24 giờ ni cấy

hình thành các khuẩn lạc nhỏ bằng đầu đinh ghim.

Trên môi trường thạch máu: Sau 24 giờ ni cấy, hình thành khuẩn lạc nhỏ,

hơi vồng và sáng trắng. Có thể quan sát thấy dung huyết dạng α: vùng dung huyết

xung quanh khuẩn lạc có màu xanh (dung huyết khơng hồn tồn); hoặc dung

huyết dạng β: bao quanh khuẩn lạc là một vùng tan máu hoàn toàn trong suốt, có bờ

rõ ràng do Hemoglobin bị phân huỷ hồn tồn và dung huyết dạng γ (khơng dung

huyết): khơng làm biến đổi thạch máu. Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2012) [19] đa số

vi khuẩn S. suis gây bệnh cho lợn đều có khả năng dung huyết dạng α và β, gây thiếu

máu cho lợn.

1.2.3. Đặc tính sinh hố của vi khuẩn S. suis

Vi khuẩn S. suis có khả năng lên men đường glucose, lactose, succrose,

insulin, trehalose, maltose, fructose. Chúng không lên men các loại đường ribose,

arabinose, sorbitol, mannitol, dextrose và xylose. Vi khuẩn S.suis không chứa men

catalase và oxidase nên phản ứng catalase và oxidase đều cho kết quả âm tính

(Nguyễn Quang Tuyên, 2008) [39].

Các chủng Streptococcus phân lập từ lợn ở Việt Nam khi kiểm tra đặc tính

sinh hóa cho thấy chúng phân hủy arginin, lên men đường inulin, salicin, glucose,

trehalose, lactose, sucrose, galactose, fructose. Tất cả các chủng đều không lên men

đường sorbitol, mannitol, dulcitol, xylose, rabinose, dextrose, glycerol. Phản ứng



19

sinh hóa thường được sử dụng để giám định vi khuẩn S. suis phân lập được là phản

ứng amylase dương tính và Voges Proskauer âm tính (Tiêu chuẩn Quốc gia : TCVN

8400-2 :2010) [36].

1.2.4. Cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn S. suis

Vi khuẩn S. suis có cấu trúc kháng nguyên rất phức tạp, một số kháng nguyên

đã được tìm thấy là:

Kháng nguyên thân (Somatic antigen): Kháng ngun thân có vai trò quan

trọng trong việc quyết định các yếu tố dịch tễ và độc lực của vi khuẩn. Kháng

nguyên thân nằm ở thành vi khuẩn (Cell wall) và được cấu tạo bởi các phân tử

peptidoglycan ở lớp trong cùng (N - acetylglucosamine và N - acetylmuramic acid), tiếp

đến là lớp giữa gồm các polysaccharide (N - acetylglucosamine và rhamnose) và lớp

ngoài cùng là các protein gồm M protein, lipoteichoic acid, R và T protein (Baums C.G.

và c., 2009) [45].

Kháng nguyên giáp mô (Capsule antigen): Kháng nguyên giáp mơ có vai trò

quan trọng trong việc bảo vệ vi khuẩn, chống lại thực bào của cơ thể vật chủ. Nhiều

nghiên cứu cũng đã cho thấy các chủng S. suis có giáp mơ thì có độc lực và khả

năng gây bệnh, còn các chủng khơng có giáp mơ thì khơng có khả năng này. Thành

phần của kháng ngun giáp mô khác nhau tùy thuộc vào loại vi khuẩn, cảc chủng

S. suis thuộc nhóm A thì giáp mơ được tạo thành bởi các hyaluronic acid, còn các

chủng S. suis thuộc nhóm O thì thành phần của giáp mơ là polysaccharide (Van

Calsteren M. R. và cs., 2010) [123].

Kháng nguyên bám dính (Fimbriae antigen): Vai trò của kháng ngun bám

dính của S. suis còn chưa được biết đến một cách rõ ràng, nhưng có ý kiến cho rằng

chúng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào biểu

mơ. Vi khuẩn S.suis là một trong số ít các loại vi khuẩn Gram dương có mang cấu

trúc này. So với các loại vi khuẩn khác thì kháng nguyên bám dính của S. suis có

cấu trúc mỏng, ngắn, đường kính khoảng 2 nm và dài có khi tới 200 nm (Kouki A.

và cs., 2013) [85].

Hiểu biết về thành phần và cấu trúc kháng nguyên chủ yếu liên quan tới độc

tính của vi khuẩn là những thơng tin quan trọng, sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho



20

việc phát triển kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh đặc hiệu và chế tạo vaccine phòng

bệnh cho lợn.

1.2.5. Các yếu tố độc lực của vi khuẩn S. suis

Những hiểu biết về các yếu tố độc lực của vi khuẩn S. suis còn rất hạn chế.

Phần lớn những nghiên cứu được tiến hành với các chủng thuộc serotype 2. Các

nhà khoa học đều có chung quan điểm: có sự tồn tại của chủng độc và không độc

của vi khuẩn S. suis type 2. Thành phần CPS được chứng minh là yếụ tố độc lực

quan trọng của vi khuẩn này vì các chủng đột biến khơng có giáp mơ đều thể hiện

là khơng có độc tính và nhanh chóng bị loại bỏ khỏi hệ thống tuần hồn của lợn và

chuột trong các thí nghiệm gây nhiễm thực nghiệm. Tuy vậy không phải tất cả các

chủng có giáp mơ đều là chủng có độc lực (Lun Z.R. và cs., 2007) [94].

Thành phần CPS của vi khuẩn S. suis có thành phần polysaccharide được

chứng minh là yếu tố độc lực quan trọng của vi khuẩn. Bên cạnh đó, các yếu tố độc

lực khác của giáp mơ cũng đóng vai trò quan trọng trong q trình sinh bệnh của

chúng. Trong đó, yếu tố gây dung huyết (Suilysin) có trọng lượng phân tử là 65

kDa và có độ phóng xạ riêng là 0,7 x 106 Units/mg được coi là yếu tố độc lực quan

trọng của vi khuẩn S. suis và được mã hố bởi gen sly. Ngồi ra, vi khuẩn S. suis

còn có hai loại protein cũng được xác định là đóng vai trò quan trọng trong q

trình gây bệnh là protein giải phóng muramidase được mã hóa bởi gen mrp và

protein giải phóng yếu tổ ngoại bào bởi gen epf. Các chủng S. suis còn sản sinh ra

enzym arginine deiminase được mã hố bởi gen arcA có vai trò quan trọng trong sự tồn

tại của vi khuẩn trước những tác động của yếu tố stress (Segura M. và cs., 2017) [113].

Các yếu tố độc lực khác, ngoài polysaccharide của giáp mơ cũng đóng vai

trò quan trọng trong q trình sinh bệnh của vi khuẩn, bao gồm: Yếu tố gây dung

huyết, hay còn gọi là "suilysin" có trọng lượng phân tử 65 kDa và có độ phóng xạ

riêng là 0,7 x 106 Units/mg. Suilysin (SLY) thuộc về nhóm độc tố với những đặc

điểm chung là dễ bị oxy hoá, dễ bị hoạt hóa bởi một số hóa chất khử, dễ bị ức chế

bởi cholesterol với nồng độ loãng, ức chế tính hoạt động của một số lượng ít, gốc N

- của chuỗi amino acid của suilysin giống vởi perfringolysin O, streptolysin O,

listeriolysin O, alveolysin, pneumolysin (Takeuchi D và cs., 2013) [120]. Trong



21

điều kiện invivo, chuột và lợn đã được chứng minh là có khả năng tạo ra miễn dịch

khi được tiêm vaccine chứa suilysin để kháng lại S. suis serotype 2 gây bệnh.

Suilysin là yếu tố độc lực quan trọng của S.suis vì sự trung hồ của yếu tố này đủ

dể bảo vệ chuột thí nghiệm chống lại các tác động có hại của S. suis type 2

(Gottschalk M và cs., 2013) [69]. Tuy nhiên, yếu tố gây dung huyết dường như

không phải là yếu tố độc lực quan trọng đối với các chủng phân lập được ở Bắc

Mỹ, ngược lại rất nhiều chủng có nguồn gốc từ Lợn mắc ở châu Âu lại có hoạt tính

này. Hoạt tính của suilysin không thể phân biệt được bằng các phương pháp sinh

hố và miễn dịch thơng thường, vì vậy, một số nghiên cứu đã cho rằng suilysin có

thể là yếu tố độc lực quan trọng của một số chủng vi khuẩn. Mặc dù vậy, một số

chủng S. suis serotype 2 khơng có khả năng dung huyết vẫn đã được chứng minh

rằng có độc lực cao (Tenenbaum T. và cs., 2016) [119].

Hai loại protein: protein giải phóng muramidase MRP có trọng lượng phân

tử 136 kDa và protein giải phóng yếu tổ ngoại bào EF đã được xác định là các yếu

tố độc lực quan trọng trong sinh bệnh học của S. suis type 2 gây bệnh ở lợn và

người. Các nghiên cứu về gây bệnh thực nghiệm trên lợn cũng đã cho thấy các

chủng vi khuẩn có mang 2 yếu tố gây bệnh này (MRP - EF -) đã được phân lập từ

các phủ tạng của lợn sau khi gây nhiễm với các triệu chứng điển hình của bệnh,

trong khi đó các chủng không mang các yếu tố gây bệnh này (MRP - EF -) có thể

phân lập được thưòng xun trong amidan của lợn khỏe và khơng có khả năng gây

bệnh cho lợn thí nghiệm (Feng Y. và cs., 2010) [64]. Tuy nhiên, quy luật này lại

không đúng với trường họp các chủng S. suis serotype 2 phân lập được từ lợn và

người bị bệnh tại Canada và Bắc Mỹ vì hầu hết các chủng đều khơng gây dung

huyết và không mang các yểu tổ gây bệnh MRP và EF khác biệt hoàn toàn với các

chủng phân lập được từ châu Âu, kể cả về cấu trúc di truyền (Gottschalk M. và cs.,

2013) [69].

Các nhà nghiên cứu tại GREMIP (Trung tâm nghiên cứu thuộc trường Đại

học Tổng hợp Montreal, Canada) cũng đã mô tả một số loại loại protein bao gồm

protein sốc nhiệt có trọng lượng phân tử 60 kDa, protein gắn albumin và protein có

khả năng gắn với IgG. Những protein này có thể được tạo ra bởi cả chủng có độc



22

và khơng có độc lực của tất cả serotype của S. suis, kể cả serotype 2. Tuy nhiên,

nhiều khả năng là các yếu tố độc lực này chỉ được tạo ra trong điều kiện invivo.

Ngoài ra, yếu tố bám dính (adhesins), men phân huỷ protein, bacteriocin và

fimbriae cũng được xem là các yếu tố độc lực của vi khuẩn S. suis (Gottschalk M.,

2007) [66].

Nghiên cứu của Đỗ Ngọc Thúy và cs. (2009b) [32] cho thấy trong 211 chủng

S. suis phân lập được từ lợn tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam đã xác định được 7 tổ

hợp gen mã hóa các yếu tố độc lực. Theo Segura M. và cs. (2017) [113] nhiều lồi

Streptococcus có giáp mơ, bản chất là polysaccharide (capsular polysaccharide CPS) được coi là một yếu tố độc lực quan trọng của vi khuẩn. Streptococcus sinh ra

men streptokinaza và streptodoranse diệt bạch cầu, hyaluroridaza phân hủy acid

hyaluronic gây nhão mô.

1.3. Bệnh liên cầu khuẩn ở lợn do vi khuẩn S. suis gây ra

1.3.1. Đặc điểm dịch tễ học

Vi khuẩn S. suis serotype 2 đã được thông báo từ lâu là loại thường gặp nhất

gây bệnh cho lợn và người ở hầu hết các nước trên thế giới (Denicourt M. và cs.,

2000) [57]. Còn sự phân bố của các serotype khác và các thể bệnh do chúng gây ra

ở lợn ở các nước là có sự khác nhau, ở Scanđinavia, serotype 7 chiếm ưu thể trong

những năm 1980, nhưng sau đó, số chủng thuộc serotype 2 lại vượt trội, tại Nhật,

serotype 2 chiếm tỷ lệ cao nhất (28%), serotype 7 (11%), serotype 9 là loại phổ

biến nhất ở Australia, trong khi đó ở Anh, serotype 14 chiếm ưu thế (25%), chỉ sau

serotype 2 (62%) (Higgins R. và Gottschalk M., 2006) [77].

Nhiều cơng trình nghiên cứu đã kết luận rằng các chủng vi khuẩn gây bệnh

cho lợn chủ yếu thuộc về một nhóm serotype nhất định có ký hiệu từ 1 - 8

(Gottschalk M. và cs., 2010) [67]. Trong khi đó, có một vài serotype, đáng chú ý

nhất là serotype 21, và ít phổ biến hơn là serotype 17, 18 và 19 chủ yếu chỉ được

tìm thấy ở lợn khoẻ và khơng có triệu chứng lâm sàng.

Vi khuẩn S. suis serotype 2 cũng phân lập được từ lợn khoẻ nhưng với tỷ lệ

thấp. Ở Anh, khi tiến hành điều tra tỷ lệ nhiễm ở 4 đàn lợn khoẻ, cho thấy hai đàn

khơng có serotype 2, một đàn mang serotype 2 với tỷ lệ 1,5% và đàn còn lại với tỷ



23

lệ 20%. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu khác được tiến hành tại

Canada cho kết quả là serotype 2 có trong 12% đàn khơng có triệu chứng lâm sàng

và trong 4% sổ lợn của các đàn này; ở Canada, đã phân lập được serotype 2 ở 8/19

đàn lợn khoẻ, trong đó serotype 2 có trong xoang mũi của 1,5% số lợn, còn serotype

19 là 24% và serotype 21 là 19% (Gottschalk M., 2012) [68].

Điều đáng chú ý là lợn bị bệnh có thể mang một hoặc vài serotype khác nhau

trong cùng một cơ thể. Cụ thể, 31% lợn có mang một serotype củạ S. suis ở xoang

mũi, 38% mang 2 hoặc 3 serotype, và 6% có mang trên 4 serotype. Kết quả này có

vai trò rất quan trọng trong chẩn đốn bệnh vì cần phải xác định chính xác serotype

gây bệnh chính. Ở Anh, bệnh do serotype 2 gây ra chủ yếu là gây bại huyết và viêm

não ở lợn đã cai sữa. Ở Hà lan, S. suis serotype 2 là nguyên nhân chính gây viêm

phổi (42%), viêm não (18%), viêm nội tâm mạc (18%) và viêm đa thanh mạc (10%).

Ngoài serotype 2, S. suis thuộc các serotype khác cũng đã phân lập được từ lợn bị viêm

phổi - màng phổi ở Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Phần Lan, Australia, Canada và Mỹ (Feng Y.

và cs., 2014) [65].

Trong ổ dịch do S. suis serotype 9 gây ra tại Canada, thấy 100% lợn chết có

biểu hiện viêm khớp, 91% có viêm não, 73% có viêm phổi kẽ, 42% có viêm nội

tâm mạc. Các nhà nghiên cứu cho rằng sự phân bố của các bệnh tích này ở lợn mắc

là hoàn toàn khác so với bệnh do serotype 2 gây ra. Như vậy, nhiều khả năng là một

vài serotype nhất định có các đặc điểm độc lực và đặc tính gây bệnh riêng. Chính

điều này đã giải thích cho các trường hợp viêm phổi rất nghiêm trọng do serotype 3

gây nên ở Achentina hoặc của serotype 14 ở Anh và chính serotype này cũng đã

gây bệnh ở người (Gottschalk M. và cs., 2013) [69].

Khả năng gây bệnh của S. suis phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sức đề kháng

của con vật, điều kiện vệ sinh mơi trường, chế độ chăm sóc ni dưỡng, thời tiết

khí hậu và yếu tố độc lực của vi khuẩn.

Việc lây truyền bệnh giữa các đàn với nhau chủ yếu xảy ra trong quá trình

vận chuyển của các lợn khỏe mang trùng. Việc nhập lợn khỏe mang trùng (lợn hậu

bị, lợn đực giống, lợn cai sữa) vào đàn khơng có mầm bệnh thường dẫn tới việc

phát sinh bệnh ở lợn đã cai sữa hoặc lợn vỗ béo. Lợn con có thể bị nhiễm mầm



24

bệnh từ lợn mẹ qua đường hô hấp. Các nghiên cứu cũng đã cho thấy hầu hết lợn đã

cai sữa đều có mang các chủng S. suis nhưng chỉ có một số ít các chủng này có khả

năng gây bệnh cho lợn ở giai đoạn sau đó (Goyette-Desjardins G. và cs., 2014)

[70]. Trong tự nhiên, đường lây truyền của các chủng S. suis có độc lực cao thường do

từ lợn khỏe nhiễm S. suis vào đàn lợn chưa bị nhiễm có thể dẫn đến sự khởi phát bệnh ở

lợn cai sữa và lợn thịt. Lợn nái lây nhiễm S. suis sang lợn con trong quá trình sinh sản

do âm đạo bị nhiễm trùng hoặc qua đường hô hấp, tiêu hóa (Cloutier G. và cs., 2003)

[55].

Bệnh có thể bị lây nhiễm từ trại này sang trại khác thông qua vật chủ trung

gian là ruồi, có thể mang S. suis serotype 2 tới 5 ngày và có thể làm nhiễm mầm

bệnh vào thức ăn mà chúng đậu phải ít nhất là trong vòng 4 ngày. Sự tồn tại của lợn

chết mang vi khuẩn S. suis trong chuồng nuôi cũng là một cách để truyền S. suis

(Luque I. và cs., 2010) [93].

Theo Huong V.T.L. và cs. (2014) [80] bệnh lây lan trong đàn do sự tiếp xúc

giữa lợn khỏe và lợn bệnh, lợn mẹ mắc bệnh sẽ truyền sang cho đàn lợn con. Bệnh

còn có thể lây qua đường hơ hấp, đây là đường truyền lây có ý nghĩa quan trọng do

số lượng vi khuẩn ở mơi trường rất lớn. Ngồi ra, bệnh có thể truyền lây qua dụng

cụ chăn ni và một số yếu tố trung gian như ruồi, một số loài chim, chuột... và vật

mang khác.

Theo Hồ Thị Kim Hoa (2016) [9] nhiễm trùng ở lợn hầu hết là sự kết hợp

giữa vi sinh vật gây bệnh và môi trường ô nhiễm làm giảm sức đề kháng của vật

nuôi, tạo điều kiện cho q trình nhiễm trùng. Ngồi các virus gây bệnh phổ biến

cho lợn còn có một số vi khuẩn khác trong đó có S. suis.

1.3.2. Cơ chế sinh bệnh

Theo Lê Văn Tạo (2007) [29] khoảng 30 - 70% con vật khoẻ mạnh phân lập

được Streptococcus spp. từ đường hô hấp trên. Khi hàng rào bảo vệ của cơ thể bị

suy giảm hoặc phá vỡ thì vi khuẩn sẽ xâm nhập vào đường hô hấp dưới và gây

viêm phổi, vi khuẩn theo hệ thống tuần hoàn gây nhiễm trùng huyết, sau đó tràn

vào nội và ngoại tâm mạc, màng não, xoang khớp để gây ra các thể bệnh ở đó.

Theo Trần Văn Bình (2008) [1] vi khuẩn Streptococcus spp. gây dung huyết kiểu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×